Cấu tạo Con người – Phần 9 – Cấu Tạo của Hoa sen Chân ngã (2)

Tiến trình khai mở các cánh hoa của Hoa sen chân ngã

Đoạn sau đây trích từ quyển A Treatise on Cosmic Fire mô tả việc khai mở các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã. Các trích dẫn từ sách của Chân sư DK có màu xanh thẫm, phần giải thích của người viết màu đen. Các con số trong ngoặc vuông [ ] tham chiếu đến các con số tương ứng trong phần nguyên tác của Chân sư DK.

Chúng ta hãy hình dung Hoa Sen Chân Ngã có 9 cánh, là Trung tâm lực tim ở trong tâm thức của Chân Thần, [1] khai mở mỗi một trong số các cánh hoa của nó trong các nhóm ba cánh hoa trên ba cõi phụ của cõi thượng trí. Việc khai mở của chúng được tiến hành qua diễn trình tiến hóa, diễn ra trên ba cõi thấp, hoặc là trong ba Phòng: Phòng Vô Minh, Phòng Học Tập và Phòng Minh Triết. [2]

Nhóm Cánh Hoa thứ nhất – Các Cánh Hoa Hiểu Biết:

  1. Cánh Hoa Hiểu biết cho cõi trần. Do vi phạm Định Luật mà phải chịu đau khổ,đó là cái giá phải trả cho sự vô minh, để đạt đến Hiểu Biết. Việc khai mở xảy ra nhờ kinh nghiệm hồng trần. [3]
  2. Cánh Hoa Bác Ái cho cõi trần. Khai mở nhờ các mối quan hệ hồng trần, và sự tăng trưởng dần của tình thương, từ tình thương bản thân đến tình thương người khác. [4]
  3. Cánh Hoa Hy Sinh cho cõi trần. Việc khai mở này xảy ra do tác động kích ứng của hoàn cảnh, chớ không phải của tự do ý chí. Chính việc dâng hiến thân xác cho dục vọng – ban đầu với dục vọng thấp kém, về sau là ước vọng, hoài bão, tuy vẫn còn là ham muốn. [5] Vì con người trong các giai đoạn tiến hóa ban đầu của mình trụ vào cõi hồng trần nên phần nhiều các việc trên đây được trải qua một cách vô ý thức và không có bất cứ nhận thức nào về những gì được hoàn tất, nhưng người ta có thể thấy kết quả trong thể nguyên nhân là sự gia tăng gấp đôi của nhiệt hay hoạt động:
  • Nguyên tử thường tồn hồng trần trở nên phát xạ hay là điểm lửa chói rực.
  • Ba cánh hoa thấp trở nên rung động và bắt đầu khai mở cho đến khi phát triển hoàn chỉnh.

Let us picture the nine-petalled egoic lotus, the heart center in the monadic consciousness, unfolding each of its petals in groups of three upon the three subplanes of the higher mental. Their unfoldment is worked out through the evolutionary process, undergone on the three planes in the three worlds, or within the three Halls of Ignorance, of Learning, and of Wisdom.

First Group of Petals—Knowledge Petals:

  1. The Petal of Knowledge for the physical plane. Through the breaking of the Law and the ensuing suffering the price of ignorance is paid and knowledge is achieved. This unfoldment is brought about through physical plane experience.
  2. The Petal of Love for the physical plane. Unfolds through physical relationships, and the gradual growth of love from love of self to love of others.
  3. The Petal of Sacrifice for the physical plane. This unfoldment is brought about through the driving force of circumstances, and not of free will. It is the offering up of the physical body upon the altar of desire—low desire to begin with, but aspiration towards the end, though still desire. As man in the early stages of his evolution is polarized on the physical, much of this is undergone unconsciously and without any realization of what is being consummated, but the result in the causal body is seen in a twofold increase of heat or of activity:
    • The physical permanent atom becomes radioactive or a radiant point of fire.
    • The lower three petals become vibrant and begin to unfold until fully developed. [6]

[1] Hoa Sen Chân Ngã có 12 cánh, tuy nhiên do ba cánh trong cùng ở dạng búp trong phần lớn cuộc tiến hóa của linh hồn nên nó thường được nhắc đến như là hoa sen 9 cánh. Các bạn lưu ý câu nói “Hoa Sen Chân Ngã là luân xa (hay Trung tâm lực) tim trong tâm thức của Chân Thần”. Xét trên phương diện tâm thức Chân thần thì thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã đóng vai trò của một Trung tâm lực (luân xa), và là Trung tâm lực quả tim của tâm thức Chân thần. Các luân xa tim trong thể dĩ thái, trong thể cảm xúc, trong đầu đều có 12 cánh, và Hoa Sen Chân Ngã cũng không là ngoại lệ.

Chính câu nói này cũng dùng để giải thích câu thường nói của Chân sư DK: “Con người nghĩ gì trong trái tim thì y cũng sẽ trở thành như thế”. Nghĩ trong trái tim ở đây có nghĩa là nghĩ như một linh hồn, vì luân xa tim chính là Hoa Sen Chân Ngã hay thể linh hồn.

[2] Việc khai mở ba lớp cánh hoa diễn ra trong ba phòng Vô Minh, Học Tập, và Minh Triết. Cụ thể lớp cánh hoa thứ nhất liên hệ với Phòng Vô Minh, lớp cánh hoa thứ hai với Phòng Học Tập, và lớp cánh hoa thứ ba với Phòng Minh triết.

[3] Cánh hoa thứ nhất (cánh hoa đầu tiên của lớp cánh hoa Hiểu biết) được gọi Là Cánh Hoa Hiểu Biết cho cõi trần, cánh hoa thứ hai là Cánh hoa Bác ái cho cõi trần, cánh hoa thứ ba là Cánh hoa Hi Sinh cho cõi trần.

Cánh hoa thứ nhất khai mở nhờ kinh nghiệm ở cõi trần: do vô minh mà con người bị Luật Nhân Quả tác động, phải chịu đau khổ. Thông qua đau khổ của nhiều kiếp sống con người đạt đến sự Hiểu biết.

[4] Cánh hoa thứ 2 là cánh hoa Bác ái cho cõi trần khai mở nhờ tình thương (tình thương vẫn còn đượm sự ích kỷ.) Con người ban đầu chỉ biết yêu thương bản thân mình, cực kỳ ích kỷ. Sau đó tình thương mở rộng ra những người xung quanh như gia đình, bè bạn …

[5] Cánh hoa thứ 3 là cánh hoa Hi sinh cho cõi trần, liên quan đến phương diện ý chí, nhưng đây là ý chí phục vụ cho cõi trần. Con người bắt đấu ham muốn và nỗ lực tối đa để phục vụ cho ham muốn đó. Thuật ngữ mà Chân sư DK dùng ở đây là “the offering up of the physical body upon the altar of desire”—dâng hiến thân xác lên bàn thờ của dục vọng—đây là giai đoạn mà thể cảm dục đã bắt đầu phát triển, tương ứng với giống dân chánh Atlantean.

[6] Kết quả của các việc khai mở trên đây là sức nóng hay hoạt động của Hoa Sen Chân Ngã gia tăng bội phần, hạt nguyên tử thường tồn hồng trần trở nên chói rực và phát xạ.

Nhóm Cánh Hoa thứ hai – Các Cánh Hoa Bác Ái:

  1. Cánh Hoa Hiểu biết, dành cho cõi cảm dục: việc khai mở được tạo ra bằng sự quân bình một cách có ý thức các cặp đối nghịch và việc vận dụng dần dần Luật Hút và Đẩy (the Law of Attraction and Repulsion). Con người ra khỏi Phòng Vô Minh, nơi mà theo quan điểm của Chân Ngã, con người hành động thiếu suy nghĩ, và bắt đầu đánh giá các tác dụng của cuộc sống hồng trần của mình; bằng sự nhận thức về tính nhị nguyên chủ yếu của mình, con người bắt đầu hiểu được các nguyên nhân. [7]
  2. Cánh Hoa Bác Ái dành cho cõi cảm dục: việc khai mở được tạo ra nhờ tiến trình chuyển hóa dần tình thương của bản chất bên trong (the love of the subjective nature) hay của Bản Ngã (of the Self). Điều này có hiệu quả kép và diễn ra trên cõi trần trong nhiều kiếp sống với sự xáo động, nỗ lực và thất bại khi một người cố gắng chuyển sự chú ý của mình vào việc yêu thích cái Chân. [8]
  3. Cánh Hoa Hy Sinh dành cho cõi cảm dục: việc khai mở được tạo ra bằng cách hành xử của con người khi y thực tâm nỗ lực từ bỏ các khát vọng riêng của mình vì tập thể của y. Động cơ của y còn hơi mù quáng và vẫn còn bị nhuốm màu bởi sự ham muốn được hồi đáp những gì mà y cho ra, khát khao nhận được tình thương của những người mà y tìm cách phụng sự, nhưng việc đó thuộc một cấp bậc cao hơn việc hy sinh mù quáng cho cái mà một người bị thúc đẩy bởi hoàn cảnh như trong trường hợp khai mở trước đây. Khi sự giác ngộ hay sự khai mở gồm ba phần này tiếp tục, lần nữa kết quả kép được nhận thấy: [9]

Nguyên tử thường tồn cảm dục trở thành hoạt động và tỏa chiếu đầy đủ, xét về năm trong các loa tuyến của nó, và hai nguyên tử thường tồn hồng trần và cảm dục rung động tương đương nhau.

Ba cánh hoa của vòng giữa của hoa sen chân ngã cũng trở nên khai mở đầy đủ, và luân xa tim của Chân Thần được nhìn thấy như là một bánh xe lửa với sáu trong các nan hoa của nó đang hiển lộ tràn đầy năng lượng và xoay vòng nhanh chóng. [10]

Second Group of Petals—Love Petals:

  1. The Petal of Knowledge, for the astral plane; unfoldment is brought about by the conscious balancing of the pairs of opposites, and the gradual utilization of the Law of Attraction and Repulsion. The man passes out of the Hall of Ignorance where, from the egoic point of view, he works blindly and begins to appreciate the effects of his physical plane life; by a realization of his essential duality he begins to comprehend causes.
  2. The Petal of Love for the astral plane; unfoldment is brought about through the process of gradually transmuting the love of the subjective nature or of the Self within. This has a dual effect and works through on to the physical plane in many lives of turmoil, of endeavor and of failure as a man strives to turn his attention to the love of the Real.
  3. The Petal of Sacrifice for the astral plane; unfoldment is brought about by the attitude of man as he [541] consciously endeavors to give up his own desires for the sake of his group. His motive is still somewhat a blind one, and still colored by the desire for a return of that which he gives and for love from those he seeks to serve, but it is of a much higher order than the blind sacrifice to which a man is driven by circumstances as is the case in the earlier unfoldment. As this threefold enlightenment or unfoldment proceeds, again a dual result is seen:
    • The astral permanent atom comes into full activity and radiance, as regards five of its spirillae, and the two atoms of the physical and the astral planes are equally vibrant.
    • The three petals of the central ring of the egoic lotus come also into full unfoldment, and the heart center of the Monad is seen as a wheel of fire with six of its spokes in full display of energy and rapidly rotating.

Giải thích:

[7] Cánh hoa thứ nhất của lớp cánh hoa thứ 2 (lớp cánh hoa Bác Ái) theo thứ tự là cánh hoa thứ 4, được Ngài gọi tên là Cánh Hoa Hiểu Biết Cho Cõi Cảm Dục. Ba cánh hoa của lớp thứ hai này đều liên quan đến cõi cảm dục: Hiểu biết thuộc về cõi cảm dục, Bác ái cho cõi cảm dục, Hi sinh cho cõi cảm dục. Điều này có ý nghĩa con người đang chuyển sự phân cực hay trọng tâm của mình từ cõi trần sang cõi cảm dục, thể cảm xúc đã và đang phát triển đến mức hoàn thiện, hạt nguyên tử thường tồn cảm dục vào cuối giai đoạn này sẽ đạt mức rung động sống động, phát triển hoàn chỉnh như hạt nguyên tử thường tồn hồng trần trong giai đoạn trước. Trong 3 cánh hoa của lớp thứ hai, cánh hoa thứ 2 (thứ 5 tính trong tổng các cánh hoa) là “cánh hoa bản lề”, đánh dấu giai đoạn con người rời bỏ con đường nhập thế, đi sâu vào vật chất để quay trở lại Bản thể tinh thần của mình, đứa con lưu lạc giờ tìm đường về lại Ngôi nhà của Cha mình.

Đức DK nói cánh hoa thứ nhất của lớp thứ hai phát triển nhờ tạo ra “sự cân bằng một cách có ý thức các cặp đối nghịch” và “việc vận dụng dần dần Luật Hấp Dẫn và Xô Đẩy. Con người ra khỏi Phòng Vô Minh, nơi mà theo quan điểm của Chân Ngã, con người hành động thiếu suy nghĩ, và bắt đầu đánh giá các tác dụng của cuộc sống hồng trần của mình; bằng sự nhận thức về tính nhị nguyên chủ yếu của mình, con người bắt đầu hiểu được các nguyên nhân”. Luật Hấp Dẫn và Xô đẩy là một trong Ba Định Luật của Vũ trụ (cao hơn các Định luật của Thái dương hệ), và sau này chúng ta sẽ có điều kiện nghiên cứu các luật trên.

Các cặp đối nghịch hay các cặp đối đãi nhị nguyên là đặc tính của cõi cảm dục, con người bắt đầu bị ảnh hưởng của buồn vui, giận hờn, thương ghét … và khi con người biết đứng cân bằng giữa các cặp đối nghịch này một cách có ý thức thì cánh hoa thứ 4 bắt đầu khai mở. Các bạn lưu ý từ Ngài dùng “conscious balancing”— sự cân bằng có ý thứchàm ý có sự tham gia của trí năng trong tiến trình cân bằng này. Nó khác với sự cân bằng vô ý thức hay cân bằng cảm tính, ở đây con người hiểu việc mình làm trong việc vượt lên các cặp đối nghịch của cõi trung giới.

Nhận thức về tính nhị nguyên chủ yếu là biết rằng mình là linh hồn chứ không phải là thể xác, hay cảm xúc, hay trí năng, và sự nhận biết này tăng dần, tạo thành một cặp đối nghịch giữa phàm ngã và linh hồn. Khi đã bắt đầu nhận thức rằng mình là cái gì đó khác với thể xác hay cảm xúc hay trí năng, con người khao khát tìm đến một cái gì đó cao cả hơn. Giai đoạn này tương ứng với giai đoạn người tầm đạo (aspirant), con người ra khỏi Phòng Vô Minh, nơi con người sống và hành động theo sự chi phối của phàm ngã, của ham muốn xác thân, của dục vọng, của ảo tưởng…

[8] Cánh hoa thứ 2 của lớp thứ 2 là Cánh Hoa Bác Ái dành cho cõi cảm dục. Chân sư DK nói rằng việc khai mở của cánh hoa này xảy ra nhờ tiến trình chuyển hóa dần tình thương của bản chất bên trong (the love of the subjective nature) hay của Bản Ngã (of the Self). Đây là câu nói khó hiểu và chúng ta cần suy gẫm kỹ lưỡng hàm ý của Ngài. Trong giai đoạn cánh hoa thứ 4 khai mở, con người bắt đầu ý thức được tính nhị nguyên của bản thể của mình, và y bắt đầu yêuhướng về Chân Ngã hay Linh hồn của mình. Đó là một giai đoạn cao hơn giai đoạn khai mở cánh hoa thứ tư, trong đó con người chỉ mới nhận thức được linh hồn hay Chân ngã cao siêu của mình. Thông thường, khi dùng từ chuyển hóa (transmute) người ta muốn nói sự chuyển hóa của cái thấp lên cái cao, cái xấu thành cái tốt, nhưng ở đây Ngài nói chuyển hóa dần tình thương của bản chất bên trong (the love of the subjective nature) hay của Bản Ngã (of the Self). Ở đây, bản chất bên trong hay Bản Ngã chính là linh hồn, vì ở giai đoạn này nó không thể chỉ Chân thần được. Tuy nhiên, chuyển hóa của linh hồn có ý nghĩa gì? GS Michael D. Robbins giải thích rằng chuyển hóa của linh hồn là chuyển hóa hướng xuống, sự đáp ứng của linh hồn hướng về phàm ngã đang vất vả vươn lên. Chính trong giai đoạn này mà đấng Thái dương Thiên Thần của con người bắt đầu nhìn xuống phàm ngã đang phấn đấu vươn lên.

Chân ngã không quan tâm tích cực với sự tiến hóa của phàm ngã cho tới khi cánh hoa thứ nhì của lớp cánh hoa thứ hai bắt đầu khai mở (Luận về Lửa Càn Khôn trang 543)

The Ego takes no active interest in the development until the second petal in the second series is beginning to open.  (TCF 543)

Khi con người biết “quay đầu trở lại” thì hậu quả tất yếu là “sự xáo trộn” trong nhiều kiếp sống trên trần gian. Con người phấn đấu, nỗ lực, thất bại … và cuối cùng thành công khi cánh hoa thứ 5 khai mở. Trong đoạn trước đây, chúng tôi có nói cánh hoa thứ 5 này là cánh hoa bản lề trong 9 cánh hoa của 3 lớp cán hoa ngoài cùng. Cánh hoa 1 đến 4 đánh dấu cuộc sống nhập thế, cánh hoa thứ 5 đấu sự chuyển hướng sang con đường trở về hướng về tinh thần, các cánh hoa 6 đến 9  đánh dầu con người bước vào con đường đệ tử và con đường  điểm đạo. Khi cánh hoa thứ 5 khai mở hoàn toàn, con người đã được điểm đạo lần thứ nhất, và khi cánh hoa thứ 6 khai mở hoàn toàn thì con người được điểm đạo lần thứ 2. Ở cuộc điểm đạo lần thứ 4, toàn bộ các cánh hoa đều khai mở và Viên Ngọc Quí trong Hoa Sen được tiết lộ. Đây là một đoạn trích từ A Treatise on Cosmic Fire nói về điều này:

Trên cõi bồ đề, khi lóe lên ánh sáng lúc điểm đạo, con số này [số 5] có nghĩa là sự phát triển hòan chỉnh nguyên lý hay tính chất thứ năm, tức chu kỳ hoàn tất của Chân ngã  trên năm Cung dưới sự cai quản của Đức Mahachohan, và việc đồng hóa của tất cả những gì cần được học hỏi ở năm cung đó và việc đạt đến không chỉ ngã thức đầy đủ mà còn tâm thức của nhóm của y. Nó còn có nghĩa sự khai mở đầy đủ của năm trong số các cánh hoa Chân Ngã, chừa lại bốn cánh sẽ khai mở trước cuộc điểm đạo cuối cùng. [Cosmic Fire trang 696]

On the buddhic plane, when flashing forth at initiation, this number signifies the full development of the fifth principle or quality, the completed cycle of the Ego upon the five Rays under the Mahachohan, and the assimilation of all that is to be learned upon them, and the attainment—not only of full self-consciousness, but also of the consciousness of the group wherein a man is found. It infers the full unfoldment of five of the egoic petals, leaving four to open before the final initiation. [CF 696]

Trong quyển “Giáo dục Trong Kỷ Nguyên Mới”, Chân sư DK cũng nói rằng khi hai cánh hoa Hiểu biết (nghĩa là cánh thứ 1 và thứ 4) khai mở thì con người có thể làm việc sáng tạo, và khi hai cánh hoa Bác ái (cánh thứ 2 và thứ 5) khai mở thì con người là một thiên tài.

Creative work can be carried forward when two of the “knowledge petals” of the egoic lotus are unfolded.  The man can produce, through knowledge and creative energy, something upon the physical plane which will be expressive of the soul’s creative power.  When two of the “love petals” are also unfolded, then a genius makes his appearance.  This is a technical piece of information for those students who are studying the science of the Ageless Wisdom, but it is of no value to those who do not recognise symbology, or the fact of the higher ego or soul. [EINA trang 18]

 

Nhóm Cánh Hoa thứ ba – Cánh Hoa Hy Sinh:

Cánh hoa Hiểu biết dành cho cõi trí; việc khai mở của nó đánh dấu giai đoạn mà con người vận dụng hữu thức tất cả những gì mà y đã hoặc đang hoạch đắc theo thiên luật cho lợi ích thiết yếu của nhân loại. [11]

2. Cánh hoa Bác Ái trên cõi trí được khai mở nhờ sự áp dụng kiên trì và hữu thức mọi quyền năng của linh hồn vào việc phụng sự nhân loại mà không một ý tưởng nào về sự hồi đáp, cũng như không một ước muốn nào về sự tưởng thưởng cho sự hy sinh bao la gắn vào đó. [12]

Cánh Hoa Hy Sinh cho cõi trí: biểu lộ như là khuynh hướng nổi bật của linh hồn được thấy trong một loạt nhiều kiếp sống mà người điểm đạo đồ trải qua trước sự giải thoát cuối cùng của y. Trong phạm vi của y, y trở thành đấng “Đại Hy Sinh”. [13] Giai đoạn này có thể được thấy một cách khách quan dưới con mắt của kẻ có nhãn thông như là có hiệu quả kép:

Nguyên tử thường tồn hạ trí trở nên một điểm sáng chói lọi; bốn vòng xoắn ốc của nó truyền đi sức mạnh nhanh vô cùng.

* Ba cánh hoa cao khai mở, và hoa sen chín cánh được thấy hoàn hảo.

Third Group of Petals—Sacrifice Petals:

  1. The Petal of Knowledge for the mental plane; its unfoldment marks the period wherein the man consciously utilizes all that he has gained or is gaining under the law for the definite benefit of humanity.
  2. The Petal of Love on the mental plane is unfolded [542] through the conscious steady application of all the powers of the soul to the service of humanity with no thought of return nor any desire for reward for the immense sacrifice involved.
  3. The Petal of Sacrifice for the mental plane: demonstrates as the predominant bias of the soul as seen in a series of many lives spent by the initiate prior to his final emancipation. He becomes in his sphere the “Great Sacrifice.”

This stage can be seen objectively to the eye of the clairvoyant as dual in effect:

    • The mental unit becomes a radiant point of light; its four spirillae transmit force with intense rapidity.
    • The three higher petals unfold, and the nine-petalled lotus is seen perfected.

Giải thích:

[11] Khi cánh hoa thứ 7 khai mở, con người đã trở thành một điểm đạo đồ, đã bước vào Giới Tinh thần (Spiritual Kingdom), đã vào Phòng Minh triết. Y vận dụng một cách có ý thức tất cả những gì mà y đã hoặc đang hoạch đắc theo thiên luật cho lợi ích thiết yếu của nhân loại.

[12] Khi cánh hoa thứ 8 khai mở, ta có sự tương ứng cao của sự khai mở cánh hoa thứ 4, trong đó y “phụng sự nhân loại mà không một ý tưởng nào về sự hồi đáp, cũng như không một ước muốn nào về sự tưởng thưởng cho sự hy sinh bao la gắn vào đó”. Trong giai đoạn khai mở của cánh hoa thứ 6, “Động cơ của con người còn hơi mù quáng và vẫn còn bị nhuốm màu bởi sự ham muốn được hồi đáp những gì mà y cho ra, khát khao nhận được tình thương của những người mà y tìm cách phụng sự”.

Giai đoạn cuối cùng:

Thể nguyên nhân lúc bấy giờ (diễn tả bằng các thuật ngữ về lửa) trở thành một trung tâm nhiệt cháy sáng, tỏa ra hơi ấm và sức sống cho nhóm của nó. Bên trong phạm vi của bánh xe Chân Ngã, có thể thấy chín nan hoa đang xoay cực nhanh và – sau cuộc Điểm Đạo thứ ba – trở thành có chiều đo thứ tư, hay là các bánh xe “xoay trên” chính chúng (Thánh Kinh Cựu Ước. Ezekiel, 1:15: 21). Ở giữa tạo thành một tam giác hình học nào đó (khác nhau tùy cung của Chân Thần) có thể nhìn thấy ba điểm lửa, hay là các nguyên tử thường tồn và đơn vị thường tồn hạ trí (mental unit), với tất cả rực rỡ của chúng; ở trung tâm có thể nhìn thấy một ngọn lửa cháy sáng nằm giữa với vẻ rực rỡ tăng thêm khi ba cánh hoa bên trong dáp ứng với sự kích thích. Khi lửa vật chất, hay “lửa do cọ xát” trở nên đủ mạnh; khi lửa trí tuệ, hay lửa thái dương (vốn đem sinh khí cho chín cánh hoa) cũng trở nên mãnh liệt, và khi tia lửa điện ở trung tâm trong cùng bùng lên và có thể được nhìn thấy, thì toàn bộ thể nguyên nhân trở nên phóng quang (radioactive). Lúc bấy giờ các lửa vật chất (sức sống của các nguyên tử thường tồn) thoát ra khỏi các khối cầu nguyên tử, và cộng thêm phần đóng góp (quota) của chúng vào khối cầu lớn mà chúng được chứa trong đó; lửa của trí tuệ hòa lẫn với nguồn xuất phát của nó và sự sống ở trung tâm thoát ra. Đây là sự giải thoát lớn. Nói bằng các thuật ngữ của nỗ lực nhân loại, con người đã đạt được mục tiêu của mình. Y đã vượt qua Ba Phòng, và trong mỗi Phòng, y đã chuyển những gì mà y đạt được ở đó cho cái kho chứa của tâm thức y; y đã phát triển và khai mở được các cánh của hoa sen trong trình tự an bài – trước nhất khai mở được ba cánh hoa thấp, vốn liên quan đến một tiến trình bao trùm một thời gian rộng lớn. Kế đó loạt cánh hoa thứ hai được khai mở trong một thời kỳ bao gồm việc tham gia sáng suốt của y vào các sự việc thế gian cho đến khi y nhập vào giới Tinh thần ở cuộc Điểm Đạo thứ nhất; và ở giai đoạn cuối cùng và ngắn hơn, trong đó ba vòng cánh hoa ở bên trong hay vòng cánh hoa cao hơn được phát triển và khai mở.

The causal body is then (expressed in terms of fire) a blazing center of heat, radiating to its group warmth and vitality. Within the periphery of the egoic wheel can be seen the nine spokes rotating with intense rapidity and—after the third Initiation—becoming fourth dimensional, or the wheels “turn upon” themselves. (Bible. Ezekiel, 1:15:21.) In the midst forming a certain geometrical triangle (differing according to the ray of the Monad) can be seen three points of fire, or the permanent atoms and the mental unit, in all their glory; at the center can be seen a central blaze of glory growing in intensity as the three inner petals respond to the stimulation. When the fire of matter, or “fire by friction,” becomes sufficiently intense; when the fire of mind, or solar fire (which vitalizes the nine petals) becomes equally fierce, and when the electric spark at the innermost center blazes out and can be seen, the [543] entire causal body becomes radioactive. Then the fires of substance (the vitality of the permanent atoms) escape from the atomic spheres, and add their quota to the great sphere in which they are contained; the fire of mind blends with its emanating source, and the central life escapes. This is the great liberation. The man, in terms of human endeavor, has achieved his goal. He has passed through the three Halls and in each has transferred that which he gained therein to the content of his consciousness; he has in ordered sequence developed and opened the petals of the lotus—first opening the lower three, which involves a process covering a vast period of time. Then the second series of petals are opened, during a period of time covering his participation intelligently in world affairs until he enters the spiritual kingdom at the first Initiation; and a final and briefer period wherein the three higher or inner ring of petals are developed and opened.

Để kết thúc những gì có thể nói được về chủ đề Cung Chân Ngã và lửa trí tuệ, tôi muốn đề nghị người nghiên cứu hãy ghi nhớ các điểm sau đây:

Thứ nhất. Thứ tự phát triển của các cánh hoa và việc kích hoạt các lửa tùy thuộc vào Cung Chân Thần, và cung phụ mà thể nguyên nhân thấy chính nó trên đó. Ý tưởng này thường được mở rộng và thường tỏ ra là một nguồn hữu ích cho việc nghiên cứu đối với nhà khảo cứu về huyền linh học.

Thứ hai. Việc khai mở này diễn ra chậm chạp trong các giai đoạn đầu, và chỉ tiếp diễn nhanh chóng khi chính con người hoạt động với cố gắng hữu ý.

Chân Ngã không để ý nhiều đến việc phát triển cho đến khi cánh hoa thứ hai trong loạt thứ hai bắt đầu khai mở. Trước lúc đó công việc tiếp diễn theo đúng luật tồn tại của nó và qua sự sống có sẵn của Thượng Đế Ngôi Hai vốn là sự sống của các cánh của hoa sen. Sự sống của Thượng Đế Ngôi Một, tác động qua Bản Ngã (vốn ngự trong một hình hài kiến tạo bởi sự sống hay năng lượng của Thượng Đế Ngôi hai bằng chất-lực (force-substance) được làm sinh động bởi sự sống của Thượng Đế Ngôi Ba) chỉ đáp ứng với cơ hội khi giai đoạn trên được đạt tới.

Sau rốt: nghi thức điểm đạo chỉ được trải qua khi thể nguyên nhân ở trong tình trạng đáp ứng với trạng thái Ý Chí của Hành Tinh Thượng Đế (trạng thái thứ nhất) và làm việc đó qua sự hợp tác tự nguyện của cái ngã đầy hiểu biết.

Hiện nay, không thể nói thêm về điều này, nhưng ở đây cũng đủ những gì được nêu ra để mở ra các đường lối khảo cứu khác nữa. Nếu được noi theo, các đường lối này sẽ đưa nhà nghiên cứu đến nhiều giá trị và áp dụng thực tiễn.

In closing what may be said on this subject of the egoic Ray and fire of mind, I would request the student to bear the following points in mind:

First. That the order of the development of the petals and the stimulation of the fires depends upon the Ray of the Monad, and the subray upon which the causal body finds itself. This thought would bear expansion, and would prove a fruitful source of study to the occult investigator.

Second. That this unfoldment proceeds slowly in the early stages, and only proceeds with rapidity as the man himself works at it with conscious effort.

The Ego takes no active interest in the development until the second petal in the second series is beginning to open. Before that time, the work proceeds under the [544] law of its being and through the inherent life of the second Logos which is the life of the petals of the lotus. The life of the first Logos, working through the SELF (who dwells in a form built by the life or energy of the second Logos out of force-substance animated by the life of the third Logos) only responds to opportunity when the above mentioned stage is reached.

Finally: The ceremony of initiation is only undergone when the causal body is in a condition to respond to the Will aspect of the Heavenly Man (the first aspect) and to do this through the glad cooperation of the fully conscious self.

More on this is not now possible, but enough has here been indicated to open up various lines of study. These, if followed, will lead the student to much of practical value and application.

2306 — Tổng số lần đọc 1 — Hôm nay

  6 comments for “Cấu tạo Con người – Phần 9 – Cấu Tạo của Hoa sen Chân ngã (2)

  1. Jupiter Nguyen
    September 18, 2016 at 6:47 am

    – ” Do vi phạm Định Luật mà phải chịu đau khổ, và đó là cái giá phải trả cho sự vô minh, để đạt đến Hiểu Biết. ”

    . Câu nói trên là một sự thật và là định luật hiển nhiên . Mọi suy nghĩ vô minh sẽ dẫn đến hành động vô minh , từ hành động vô minh và sai lầm đó sẽ dẫn đến đau khổ , từ đau khổ con người sẽ có kinh nghiệm và học được bài học của chính mình , từ bài học đó con người sẽ thay đổi và tự chuyển hóa chính mình . Phải chăng muốn sống theo các định luật của thiên nhiên thì ta cần phải hiểu các định luật của thiên nhiên ?

  2. Jupiter Nguyen
    September 18, 2016 at 7:03 am

    _ “Cánh Hoa Bác Ái cho cõi trần. Khai mở nhờ các mối quan hệ hồng trần, và sự tăng trưởng dần của tình thương, từ tình thương bản thân đến tình thương người khác.”

    . Câu nói trên thật là vô cùng hay và minh triết .

    . Tại sao “Khai mở nhờ các mối quan hệ hồng trần”? Phải chăng thông qua các mối quan hệ hồng trần mà ta khám phá được chính mình và hiểu được chính mình vì chỉ trong các mối quan hệ với người khác thì tác dụng như một tấm gương để ta nhìn lại chính mình [mặt tốt cũng như mặt xấu và bất toàn trong ta ] .

    . Vậy thì phải chăng là không một ai có thể tự phát triển [khai mở] nếu không có sự giúp đỡ của kẻ khác [thông qua các mối quan hệ] ?

    . Câu nói “từ tình thương bản thân đến tình thương người khác.” phải chăng cũng có nghĩa là nếu kẻ nào khống biết thương yêu và quý trọng sự sống [bao gồm cả thân xác máu thịt của mình … ] của mình thì kẻ đó cũng không biết thương yêu và quý trọng sự sống của người khác?

    • webmaster
      September 18, 2016 at 1:47 pm

      Chào bạn Jupiter Nguyen,

      Có một vài góp ý cho comment của bạn trên đây. Lớp hoa thứ 2 là lớp hoa Bác Ái, mang đặc tính của Phương diện thứ 2 (Minh triết – Bác ái), và của Cung 2. Đặc tính của Cung 2 là Mở Rộng ra để Bao Gồm tất cả vào mình (inclusiveness). Ba cánh hoa của Lớp thứ 2 phát triển khi con người biết mở rộng cái tôi hạn hẹp để tiến đến tập thể hoặc nhóm rộng lớn hơn. Trong bài trước, bạn cũng đọc thấy trên cõi Thượng Trí và trên cõi Bồ đề, các Chân ngã hiện hữu theo nhóm, càng lên cao số nhóm càng nhỏ đi. Do đó câu nói của Chân sư DK “Khai mở nhờ các mối quan hệ hồng trần, và sự tăng trưởng dần của tình thương, từ tình thương bản thân đến tình thương người khác” phải hiểu theo nghĩa này. Và khi các bạn nhìn xung quanh và nhìn lại bản thân mình, các bạn có thể thấy mình đang khai mở cánh hoa nào trong hoa sen chân ngã. Con người ban sơ không biết quan tâm hay thương yêu ai cả ngoài bản thân của họ. Tiến lên một bước, họ thương con cái, chồng hay vợ, người thân của mình. Thêm một bước nữa là tập thể nào đó mà họ gắn bó. Và tới một lúc nào đó tình thương đó vượt ngoài giới hạn của nhóm, quốc gia, chủng tộc để bao gồm toàn thể nhân loại như các bậc Giáo chủ …

  3. Jupiter Nguyen
    September 18, 2016 at 10:18 am

    – ” Cánh Hoa Hiểu biết, dành cho cõi cảm dục: việc khai mở được tạo ra bằng sự quân bình một cách có ý thức các cặp đối nghịch và việc vận dụng dần dần Luật Hút và Đẩy (the Law of Attraction and Repulsion). Con người ra khỏi Phòng Vô Minh, nơi mà theo quan điểm của Chân Ngã, con người hành động thiếu suy nghĩ, và bắt đầu đánh giá các tác dụng của cuộc sống hồng trần của mình; bằng sự nhận thức về tính nhị nguyên chủ yếu của mình, con người bắt đầu hiểu được các nguyên nhân. ”

    . Câu nói ” sự quân bình một cách có ý thức các cặp đối nghịch – the conscious balancing of the pairs of opposites ” là một sư chỉ dạy thật vô cùng cao siêu và tuyệt diệu .

    . Tôi hiểu rằng các cặp đối nghịch đó chỉ thuộc về phàm ngã và chúng chỉ tồn tại trong Tam giới tức trong 3 cõi thấp của linh hồn [ là 3 thể thấp trong tổng số 7 thể của con người , con người có 7 thể tương ứng với 7 trình độ tiến hóa của tâm thức hay linh hồn ] và là kết quả của sự vô minh .

    . Các cặp đối nghịch thì có thể kể ra rất nhiều và chúng không thể tồn tại mà không có cái đối nghịch lại với chính nó như : vui đối nghịch với buồn , đau khổ và hạnh phúc [ thuộc phàm ngã ] , thương và ghét , hãnh diện và xấu hổ , đam mê và chán nãn , hòa bình và chiến tranh hay bình an [ thuộc phàm ngã ] và sợ hãi , khinh bỉ và kính trọng …

    . Thí dụ như khi mà ta tạo ra sự phân biệt và cảm thấy rằng có một số kẻ nào đó là cao sang và vĩ đại hơn ta ( ở trên cõi đời này ) thì trong ta cũng sẽ cảm thấy rằng sẽ có một số kẻ nào đó còn lại là thấp hèn và kém cỏi hơn ta . Phải chăng tất cả sự phân biệt đó đều là kết quả của sự vô minh và thuộc về phàm ngã ?

    . Vậy thì câu nói ” sự quân bình một cách có ý thức các cặp đối nghịch ” có nghĩa là ta không còn tạo ra những phản ứng hay sự phân biệt ở trong ta nữa . Lúc đó thì tất cả những lời hoan hô , khen tặng hay chê bai của người đời đều không tạo trong ta một phản ứng nào cả cho dù là thích thú hay oán hờn , lúc đó thì ta cũng không cảm thấy có ai là cao sang hay thấp kém hơn kẻ khác , lúc đó thì cho dù là một ông tổng thống , một thủ tướng , một ông giáo sư hay tiến sĩ nào đó ở trên cõi đời vô nghĩa này thì cũng như là một anh nông dân nghèo khổ dưới cặp mắt của ta.

    . **** Vậy thì khi ta đã có ” sự quân bình một cách có ý thức các cặp đối nghịch ” thì phải có một điều gì đó vượt lên trên mọi thứ đó chứ ? và phải chăng cái đó chính là mục đích tìm kiếm của linh hồn ?

  4. Jupiter Nguyen
    September 18, 2016 at 10:33 pm

    Cảm ơn sự góp ý rất hay và chính xác của Webmaster. Tôi cảm thấy Webmaster lúc nào cũng kiên trì và nhẫn nại cả . Quả thật Webmaster chính là một ngôi sao đang tỏa sáng hiện nay .

  5. Jupiter Nguyen
    September 19, 2016 at 2:17 am

    _ Câu nói “Con người nghĩ gì trong trái tim thì y cũng sẽ trở thành như thế”. là một câu nói rất quen thuộc và rất hay , rất cao siêu và kỳ diệu trong Huyền Linh Học .

    . Tôi hiểu rằng câu nói đó cũng có thể hiểu rằng khi trong tim ta đang [ từ tim ở đây có thể tạm hiểu như là linh hồn , tâm hồn hay tâm thức ] suy nghĩ , suy tưởng điều gì hay đang ở trong ” Tâm Thái ” như thế nào thì ta với điều ta đang suy tư , suy tưởng hay đang ở trong Tâm Thái đó chỉ là một .

    . Thí dụ như khi ta đang cảm thấy cô đơn và trống vắng thì ta sẽ trở thành nỗi cô đơn và trống vắng đó hay nói cách khác thì khi ta cô đơn thì ta với sự cô đơn của ta chỉ là một , vì nỗi cô đơn đó không tách khỏi ta , không ở bên ngoài ta mà nó ở trong chính bản thể của ta , do ta tạo ra và nó chính là ta .

    . Cũng tương tự như vậy khi ta nóng giận hay phấn khởi hay bình an thì ta với những tâm thái hay tâm trạng đó của ta chỉ là một . Cũng vậy khi ta suy tư hay suy tưởng đến bất cứ điều gì thì ta sẽ trở nên như thế đó bởi vì cái điều mà ta suy tư hay suy tưởng đến cũng ở trong ” Tim ” của ta [ tức là ở trong Tâm của ta ] .

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *