Chân sư tìm kiếm đệ tử như thế nào?

Quyển A Treatise on White Magic là một quyển sách cực kỳ đặc sắc và có tính thực tiển của đức DK. Tại trường Arcane từ thời bà A.A. Bailey, dường như quyển A Treatise on White Magic được học sau quyển The Light of the Soul. Tại trường Morya Federation, quyển A Treatise on White Magic được học trong ba năm cuối (3,4,5) của chương trình học Quest Universal.

Nói Magic, chúng ta có thể nghĩ nó dạy về pháp thuật, nghĩa là dạy cho những người học nó thực hiện các pháp thuật thần bí như bà H.P. Blavatsky đã làm trong thế kỷ 19. Trong quyển Hồi Ký của Ông Olcott, Ông mô tả rất nhiều các pháp thuật mà bà Blavatsky đã trình diễn. Học Magic, một huyền thuật gia có thể thực hiện các pháp thuật như thế, nhưng Magic mà đức DK dạy là White Magic, Huyền Thuật Chánh Phái hay Chánh Thuật, là huyền thuật của Linh hồn. Linh hồn ở đây có thể hiểu là Thái dương Thiên Thần, Chân Ngã của ta. Toàn bộ quyển sách bàn luận về 15 qui luật cổ của Huyền Thuật, trong đó 6 qui luật cho cõi trí tuệ, 5 quy luật cho cõi cảm dục và 4 qui luật cho cõi trần. Thông qua 15 qui luật này, một huyền thuật gia có thể tạo hình tư tưởng trên cõi trí, đưa nó xuống cõi cảm dục và làm nó hiện hình trên cõi trần gian. Nhưng quyển sách không tiết lộ cho chúng ta những linh từ cần thiết để thực hiện công việc huyền thuật đó, và thông qua quyển sách, Ngài chỉ dạy người học đạo về cách kiểm soát thể cảm dục. Và có lẽ, khi người đệ tử đã sẵn sàng, thì Chân sư sẽ tiết lộ các chìa khoá sáng tạo đó.

GS Michael D. đang bình giảng quyển trên thông qua các webinar, mỗi webinar dài khoảng 01 giờ và bao gồm từ 3 đến 4 trang sách. Chưa biết loạt webinar trên sẽ bao gồm tất cả bao nhiêu video, nhưng ước tính với 640 trang sách sẽ cần trên 200 webinar–một con số khổng lồ. Nếu transcrip các webinar trên ra chữ viết thì số trang để ghi lại các webinar bình giảng trên sẽ lớn vô kể. Nhưng người học đạo nói tiếng Anh có thuận lợi trong việc theo dõi, nhưng các học viên mà tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ sẽ khó khăn hơn rất nhiều trong việc học quyển sách này. GS năm nay đã 75 tuổi (ông sinh năm 1943), nhưng khối lượng công việc ông làm hàng ngày khiến người ta kinh ngạc, và với chúng tôi, ông là người duy nhất trên thế giới đang làm công việc duy nhất là bình giảng các tác phẩm của đức DK khiến người học đạo có thể hiểu các tác phẩm của Ngài. Các tác phẩm của đức DK  mà Ông đã bình giảng toàn bộ bao gồm:

  • Các Cung và Điểm đạo 
  • Chiêm tinh học Nội môn
  • Luận về Lửa Càn Khôn
  • Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới 
  • Điểm đạo trong nhân loại và Thái dương hệ 
  • các tác phẩm đang bình giảng bao gồm Luận về Chánh Thuật và Ảo Cảm, một vấn đề của Thế Giới …

Cầu mong GS luôn mạnh khoẻ để những người học đạo như chúng ta có thể học hỏi thêm từ Ông.

Dưới đây là trích đoạn bài viết của đức DK về Qui Luật số 5, phần nói về việc Chân sư tìm kiếm các đệ tử như thế nào, một bài viết cực kỳ hay. Trong bài viết, bạn sẽ được dạy về ánh sáng trong đầu của người học đạo, nó xuất phát từ đâu, và nếu bạn thích thú bạn có thể tìm hiểu thêm ở các quyển sách khác của Ngài. Ngài cũng giải thích tại sao khi con người mới bắt đầu bước vào đường đạo thì tất cả cái xấu đều trỗi dậy và phơi bày ra (như bà Blavatsky có nói trong các bài viết của mình). Và cũng giải thích lý do tại sao có những người về mặt nhân cách và tính tình thật tốt và xứng đáng nhưng vẫn chưa là đệ tử của Chân sư.

**********************

Một Chân Sư tìm kiếm đệ tử như thế nào?

Khi một Chân Sư muốn tìm kiếm những người thích hợp để được Ngài hướng dẫn và đào tạo, Ngài xem xét ba điều trước tiên. Nếu không có những điều này thì dù cho có lòng sùng tín hoặc đạo tâm đến đâu, và sự thanh khiết của cuộc sống và phương cách sống cũng không đủ. Điều thiết yếu là tất cả những người tìm đạo nên hiểu rõ ba yếu tố này, và nhờ đó tránh cho họ nhiều buồn phiền trong tâm trí và sự hoạt động uổng phí.

1. Chân Sư tìm kiếm ánh sáng trong đầu.

2. Ngài nghiên cứu nghiệp quả của người tìm đạo.

3. Ngài lưu ý công cuộc phụng sự của y trên cõi trần.

When a Master seeks to find those fitted to be instructed and taught by Him, He looks for three things first of all. Unless these are present, no amount of devotion or aspiration, and no purity of life and mode of living suffices. It is essential that all aspirants should grasp these three factors and so save themselves much distress of mind and wasted motion.

  1. The Master looks for the light in the head.
  2. He investigates the karma of the aspirant.
  3. He notes his service in the world.

a. Ánh sáng trong đầu (the light in the head)

Trừ phi có những chỉ dẫn cho thấy người đó, được gọi về mặt huyền học, là “một ngọn đèn được thắp sáng”, thì quả thật là vô ích cho Chân Sư để lãng phí thời gian của Ngài. Ánh sáng trong đầu khi hiện diện là chỉ dấu của :

a/ Sự hoạt động đến một mức độ nhiều hay ít của tuyến tùng quả vốn—như được biết rõ—là trú xứ của linh hồn và là cơ quan của sự nhận thức tâm linh. Chính ở trong tuyến này mà những thay đổi sinh lý đầu tiên diễn ra gắn liền với sự tiếp xúc linh hồn, và sự tiếp xúc này xảy ra thông qua hoạt động nhất định theo các đường lối tham thiền, kiểm soát thể trí, và dòng tuôn xuống của mãnh lực tinh thần.

Unless there is indication that the man is what is termed esoterically “a lighted lamp” it is useless for the Master to waste His time. The light in the head, when present, is indicative of:

a. The functioning to a greater or less extent of the pineal gland, which is (as is well known) the seat of the soul and the organ of spiritual perception. It is in this gland that the first physiological changes take place incident upon soul contact and this contact is brought about through definite work along meditation lines, mind control, and the inflow of spiritual force. [184]

b/ Việc chỉnh hợp của con người trên cõi trần với Chân Ngã, tức linh hồn hay Thượng ngã (higher self) của y trên cõi trí, và sự lệ thuộc của đời sống và bản chất cõi trần đối với ấn tượng và sự kiểm soát của linh hồn. Điều này được nói đến một cách đầy đủ trong hai hoặc ba chương đầu của quyển Thư Về Tham Thiền Huyền Môn, và người tìm đạo nên nghiên cứu kỹ những chương này.

b. The aligning of the man on the physical plane with his ego, soul or higher self, on the mental plane and the subordination of the physical plane life and nature to the impress and control of the soul. This is covered sufficiently in the first two or three chapters of Letters on Occult Meditation and these should be studied by aspirants.

c/ Sự tuôn xuống của thần lực thông qua sutratma, sợi dây từ lực hay sợi chỉ từ linh hồn đến não xuyên qua thể trí. Toàn bộ bí mật của linh thị tinh thần, sự nhận thức chính xác và sự tiếp xúc đúng đắn nằm trong sự thấu hiểu hoàn toàn của phát biểu trên, và do đó Yoga Sutras của Patanjali bao giờ cũng là sách giáo khoa của các đệ tử, các điểm đạo đồ và các chân sư, vì trong đó người ta tìm thấy những quy tắc và những phương pháp để kiểm soát thể trí, ổn định thể cảm dục, và nhờ thế phát triển và củng cố linh-hồn-tuyến để cho nó có thể và trở thành một vận hà giao tiếp thật sự giữa con người với chân ngã của y. Ánh sáng giác ngộ tuôn tràn vào khoan não và khiến ba lĩnh vực tri thức hiển lộ. Điều này thường hay bị quên và do đó dẫn đến sự buồn bã quá đáng và những sự thể hiện sớm của đệ-tử hoặc đệ tử dự bị mới được giác ngộ một phần.

c. The downflow of force via the sutratma, magnetic cord, or thread from the soul to the brain via the mind body. The whole secret of spiritual vision, correct perception and right contact lies in the proper appreciation of the above statement, and therefore the Yoga Sutras of Patanjali are ever the textbook of disciples, initiates and adepts, for therein are found those rules and methods which bring the mind under control, stabilize the astral body and so develop and strengthen the thread soul that it can and does become a veritable channel of communication between the man and his ego. The light of illumination streams down into the brain cavity and throws into objectivity three fields of knowledge. This is often forgotten and hence the undue distress and premature interpretations of the partially illuminated disciple or probationer.

Trước tiên, ánh sáng làm hiển lộ và mang ra mặt tiền của tâm thức những hình tư tưởng và những thực thể vốn miêu tả sự sống thấp kém, và—trong toàn thể của chúng— tạo thành Kẻ Chận Ngõ (Dweller on the Threshold).

Do đó, điều đầu tiên mà người tìm đạo bắt đầu ý thức là những gì mà y biết là không đáng mong cầu, và sự tiết lộ về sự không xứng đáng và những hạn chế của riêng y, các thành phần không mong muốn của hào quang của chính y xuất hiện đột ngột trước tầm nhìn của y. Bóng tối trong y được tăng cường bởi ánh sáng le lói từ trung tâm của bản thể y, và thường thì y thất vọng về chính mình và rơi vào tận đáy của sự chán nản. Tất cả các nhà thần bí đều minh chứng điều này và đó là một giai đoạn phải được trải qua, cho đến khi ánh sáng tinh khiết ban ngày xua đi mọi bóng đen và bóng tối, và dần dần sự sống trở nên rạng rỡ và được rọi sáng, cho đến khi mặt trời trong đầu tỏa chiếu với tất cả vẻ huy hoàng của nó.

The light first throws into relief and brings into the foreground of consciousness those thought-forms and entities which depict the lower life, and which (in their aggregate) form the Dweller on the Threshold.

Thus the first thing of which the aspirant becomes aware is that which he knows to be undesirable and the revelation of his own unworthiness and limitations, and the undesirable constituents of his own aura burst on his vision. The darkness which is in him is intensified by the light which glimmers faintly from the center of his being and frequently he despairs of himself and descends into the depths of depression. All mystics bear witness to this and it is a period which must be [185] lived through until the pure light of day drives all shadows and darkness away and little by little the life is brightened and lightened until the sun in the head is shining in all its glory.

d/ Cuối cùng, ánh sáng trong đầu là dấu hiệu của việc tìm thấy Thánh Đạo (Path), và sau đó con người vẫn còn phải nghiên cứu và tìm hiểu các kỹ thuật mà nhờ đó ánh sáng được tập trung, tăng cường, nhập vào, cuối cùng trở thành tuyến từ lực (giống như một sợi tơ nhện), nó có thể được theo dõi trở lại cho đến khi đạt đến nguồn gốc của sự biểu hiện thấp, và bước vào tâm thức linh hồn. Ngôn ngữ ở trên có tính biểu tượng, thế nhưng cực kỳ chính xác, và được diễn đạt như vậy để truyền đạt thông tin cho những người biết, và bảo vệ những người cho đến nay chưa biết.

d. Finally, the light in the head is indicative of the finding of the Path and there remains then for the man to study and understand the technique whereby the light is centralized, intensified, entered and eventually becomes that magnetic line (like unto a spider’s thread) which can be followed back until the source of the lower manifestation is reached and the soul consciousness is entered. The above language is symbolic and yet vitally accurate but is expressed thus in order to convey information to those who know, and protect those who as yet know not.

“Con đường của công chính giống như Ánh Sáng đang tỏa chiếu”, và tuy thế cùng lúc con người phải trở thành chính con đường đó. Y bước vào ánh sáng và trở thành ánh sáng, và bấy giờ hoạt động như một ngọn đèn đặt ở một nơi tối tăm, mang sự giác ngộ đến cho những người khác, và chiếu sáng con đường trước mặt họ.

“The path of the just is as a shining Light” and yet at the same time a man has to become that path itself. He enters the light and becomes the light and functions then as a lamp set in a dark place, carrying illumination to others and lighting the way before them.

b. Nghiệp quả của một người (the Karma of the man)

Điểm kế tiếp mà một Chân Sư phải xem xét trước khi thu nhận một người vào nhóm của Ngài là liệu giai đoạn đó có khả dĩ về mặt nghiệp quả hay không, hoặc liệu có tồn tại trong hồ sơ của một người những điều kiện vốn làm cho việc thu nhận y trong kiếp sống này không hiệu quả.

The next point that a Master has to consider before admitting a man into His group is whether or no such a step is karmically possible or whether there exist in a man’s record those conditions which negate his admission in this life.

Có ba yếu tố chính cần được xem xét một cách riêng biệt, và trong mối liên hệ của chúng với nhau.

Thứ nhất, có chăng những trách nhiệm nghiệp quả trong kiếp sống hiện tại của một người mà sẽ khiến cho y không thể hoạt động như một đệ tử? Về việc này, chúng ta phải cẩn thận lưu ý rằng một người có thể trở thành một đệ tử và đáng được Chân Sư chú ý chỉ khi cuộc sống của y có một giá trị nào đó trong thế giới con người, khi y có một ảnh hưởng trong lĩnh vực của mình, và khi y uốn nắn và tác động lên trí tuệ và tâm hồn của những người khác.

There are three main factors to be considered separately and in their relation to each other.

First, are there such karmic obligations in a man’s present life as would render it impossible for him to function as a disciple? In this connection it must be carefully borne in mind that a man can become a disciple and merit the attention of a Master only when his life counts for something in the world of men, when he is an influence in his sphere, and when he is molding and acting upon the minds and hearts of other men.

Nếu không phải thế thì quả là lãng phí thời gian của một Chân Sư để giao tiếp có tính cá nhân với y, vì y có thể được giúp đỡ thích hợp theo những cách khác, chẳng hạn như có nhiều kiến thức từ sách vở và các huấn sư mà cho đến nay chỉ là lý thuyết chứ không có thực hành, và nhiều kinh nghiệm phải trải qua, dưới sự hướng dẫn của chính Chân Ngã của y, tức là Đức Thầy trong trái tim của y. Khi một người là một đệ tử, y được thế bởi vì y có thể được sử dụng để tiến hành kế hoạch của Thánh Đoàn, và có thể được ảnh hưởng để hiện thực hóa những nỗ lực này vốn được hoạch định để giúp cho nhân loại thực hiện các bước tiến cần thiết. Điều này hàm ý (trong kiếp sống ở cõi trần của y) thời gian, tư tưởng, hoàn cảnh đúng đắn và các lưu tâm khác, và rất có thể là một người đã đạt đến giai đoạn đó từ quan điểm tính tình, y xứng đáng được sự lưu tâm của một Chân Sư, thế nhưng y có các nghĩa vụ và các trách nhiệm phải thực hiện sẽ cản trở y trong công việc phụng sự tích cực trong một kiếp sống đặc biệt nào đó. Chân Sư phải xem xét điều này, Chân Ngã của chính con người cũng xem xét điều đó nữa.

Until that is the case it is waste of a Master’s time to [186] personally deal with him, for he can be adequately helped in other ways and has, for instance, much knowledge from books and teachers which is as yet theory and not practice, and much experience to pass through under the guidance of his own ego, the Master in his heart. When a man is a disciple he is one because he can be used for working out the plan of the Hierarchy, and can be influenced to materialize those endeavors which are planned to enable humanity to make the needed forward steps. This involves (in his physical plane life) time, and thought, right circumstance, and other considerations and it is quite possible for a man to have reached the stage from the character standpoint, where he merits the recognition of a Master, and yet have obligations and duties to work through which would handicap him for active service in some particular life. This the Master has to consider and this a man’s own ego also considers.

Kết quả rất thường vào lúc này (có lẽ một cách vô thức đối với bộ não vật chất) là một người sẽ gánh vác một số lớn kinh nghiệm, đảm nhiệm việc thực hiện một số lượng trách nhiệm bất thường trong một kiếp sống đặc biệt để y được tự do trong công việc phụng sự và bước vào con đường đệ tử trong một kiếp sống sau này. Khi đó, y hoạt động nhằm trang bị chính y cho kiếp sống tới, và nhằm vào việc nhẫn nại thực hiện nhiệm vụ trong gia đình của mình, giới bạn bè của mình, và công việc của mình. Y biết rằng từ quan điểm Chân Ngã một kiếp sống chỉ là một thoáng ngắn ngủi và sớm trôi qua; và rằng, bằng việc nghiên cứu, hoạt động khôn ngoan, phụng sự đầy tình thương, và kiên nhẫn chịu đựng, y đang loại bỏ hết những điều kiện vốn đang ngăn cản sự chấp nhận nhanh chóng của y vào trong nhóm của một Chân Sư.

The result quite frequently at this time is that (perhaps unconsciously to the physical brain) a man will shoulder a great amount of experience, and undertake the working out of an abnormal amount of responsibility in one particular life, in order to free himself for service and chelaship in a later life. He works then at the equipping of himself for the next life, and at the patient performance of duty in his home, his circle of friends, and his business. He realizes that from the egoic standpoint one life is but a short matter and soon gone and that by study, intelligent activity, loving service, and patient endurance, he is working out of those conditions which are preventing his prompt acceptance in a Master’s group.

Một Chân Sư cũng nghiên cứu tình trạng về thể chất của người tìm đạo, và về các thể thanh để xem liệu trong chúng có các trạng thái tâm thức vốn sẽ cản trở tính hữu dụng và tác động như những chướng ngại hay không. Các tình trạng này cũng thuộc về nghiệp quả và phải được điều chỉnh trước khi có thể thu nhận y vào chung với các đệ tử khác. Một xác thân bệnh hoạn, một thể cảm dục chịu ảnh hưởng của tâm trạng thất thường, các cảm xúc và các ảo tưởng tâm linh, và một thể trí không được kiểm soát hoặc được trang bị yếu kém, tất cả đều nguy hiểm cho đạo sinh trừ khi chúng được loại bỏ và được làm cho hoàn thiện. Một môn đồ phải thường xuyên chịu tác động của mãnh lực đến với y từ ba nguồn chính:

[Second] A Master also studies the condition of an aspirant’s physical body and of the subtler bodies to see whether in them are to be found states of consciousness which would hinder usefulness and act as obstacles. These conditions are likewise karmic and must be adjusted before his admission among other chelas becomes possible. A sick [187] physical body, an astral body prone to moods, emotions and psychic delusions, and a mental body uncontrolled or ill-equipped are all dangerous to the student unless straightened out and perfected. A chela is subjected constantly to the play of force coming to him from three main sources:

1. Chính Chân Ngã của y,

2. Chân Sư của y,

3. Nhóm các đệ-tử đồng môn,

trừ phi y vững mạnh, được thanh luyện và được kiểm soát, nếu không, các mãnh lực này sẽ chỉ dùng để kích thích các tình trạng không mong muốn, nuôi dưỡng những gì vốn cần được loại bỏ, và phơi bày ra tất cả các điểm yếu tiềm ẩn. Điều này phải được thực hiện và chắc chắn là thế, nhưng nhiều điều phải được thực hiện theo đường lối này trước khi y được tiếp nhận vào một nhóm đệ-tử, nếu không thì nhiều thời gian quý báu của Chân Sư tất nhiên sẽ bị dùng vào việc loại bỏ và vô hiệu hóa những hậu quả do các phản ứng dữ dội của vị đệ-tử đó lên các đệ-tử khác trong cùng một nhóm. Tốt hơn là chờ đợi và tự mình hoạt động một cách từ từ và khôn ngoan còn hơn là ép buộc một người chưa sẵn sàng vào các tuyến lực trước khi người ấy có thể xử lý chúng hoặc các hậu quả của chúng.

  1. His own ego,
  2. His Master,
  3. The group of co-disciples,

and unless he is strong, purified and controlled, these forces will serve but to stimulate undesirable conditions, to foster that which should be eliminated and to bring to the surface all the hidden weaknesses. That this has to be done inevitably is so, but much must be done along this line before admission into a group of disciples; otherwise much of the Master’s valuable time will perforce be given to the elimination and nullifying of the effects of the chelas violent reactions on other chelas in the same group. It is better to wait and work gradually and intelligently oneself than force one’s way unprepared into lines of forces before one can handle either them or their consequences.

Một yếu tố khác mà một Chân Sư phải xem xét là liệu rằng có các đệ-tử đang lâm phàm mà một người phải làm việc với họ, và họ được liên kết với y về nghiệp quả bởi các ràng buộc xưa và mối quen biết cũ trong công việc tương tự hay không.

[Third] Another factor that an adept has to consider is whether there are in incarnation those chelas with whom a man has to work and who are karmically linked to him by ancient ties and old familiarity in similar work.

Đôi khi có thể là khôn ngoan hơn khi để một người chờ đợi một thời gian ngắn trước khi được phép bước ra khỏi lối sống hồng trần, cho đến một kiếp sống mà trong đó những người đồng-phụng-sự với y, đã điều hợp với rung động của y, và đã quen làm việc cùng y, cũng đang ở trong thể xác, vì gia nhập một nhóm của Chân Sư là để thực hiện công việc phụng sự và một công việc nào đó cần được thi hành, chứ không phải để một người nhận sự đào tạo về văn hóa mà sẽ làm cho y thành một chân sư một ngày nào đó. Các đệ tử tự rèn luyện và khi đã sẵn sàng cho bất kỳ công việc nào thì Chân Sư sẽ sử dụng họ. Họ tự phát triển bản thân và thực hiện sự cứu rỗi riêng của họ, và khi từng bước này đến bước khác được thực hiện, vị Chân Sư đặc biệt của họ đưa ra ngày càng nhiều trách nhiệm hơn cho họ. Ngài sẽ huấn luyện họ về kỹ thuật phụng sự và về sự đáp ứng rung động với Thiên-Cơ, còn họ học cách tự kiểm soát bản thân, và tự làm cho họ thích hợp với việc phụng sự.

Sometimes it may be deemed wiser for a man to wait a little while before being permitted to step off the physical path until a life comes in which his own co-workers, keyed to his vibration, and accustomed to work with him, are also in physical bodies, for a Master’s group is entered in service to be rendered and specific work to be done, and not because a man is to receive a cultural training which will make him an adept some day. Chelas train themselves and when ready for any work a Master uses [188] them. They develop themselves and work out their own salvation and as step by step is taken their particular Master lays more and more responsibility upon them. He will train them in service technique, and in vibratory response to the Plan, but they learn to control themselves and to fit themselves for service.

Có những yếu tố nghiệp quả khác cần được xem xét bởi một Chân Sư, nhưng đây là ba yếu tố có ý nghĩa nhất và có tầm quan trọng nhất đối với người tìm đạo để xem xét lúc này. Chúng được chỉ rõ để không một người phụng sự chân thật và thành tâm nào bị nản lòng và nhụt chí nếu y không có sự liên kết hữu thức với Chân Sư, và không ý thức về một sự liên kết nào đó với một nhóm các đệ-tử nội môn. Điều đó không thể xảy ra không phải vì y không phù hợp. Nó có thể chỉ là do Chân Ngã của y đã chọn kiếp sống này để chuẩn bị cho hành động sau này, để loại bỏ những trở ngại trong thể này hoặc thể kia, hoặc trong cả ba thể thấp, hoặc để chờ đợi thời điểm mà việc thu nhận y có thể có giá trị nhất.

There are other karmic factors to be considered by a Master but these are the three paramount ones and of the most importance for aspirants to consider now. They are specified so that no true and earnest worker need be depressed and discouraged if he has no conscious link with the Master and is unaware of any affiliation with an esoteric group of chelas. It may not be because he is not fit. It may simply be because his ego has chosen this life to clear the decks for later action, to eliminate hindrances in one or other, or all of the three lower bodies, or to wait for that time when his admission may count the most.

c. Việc phụng sự của con người trên thế gian (the service of the man in the world)

Yếu tố thứ ba mà Chân Sư xem xét là yếu tố phụng sự. Đây là yếu tố mà người tìm đạo nói ít nhất về nó, và rất có thể hiểu sai về nó. Tham vọng tinh thần, việc mong muốn hoạt động như là trung tâm của một nhóm, niềm khao khát nghe chính mình nói, giảng dạy, thuyết giảng hoặc viết lách thường bị người tìm đạo diễn dịch sai như là việc phụng sự. Chân Sư không nhìn vào quyền lực hoặc địa vị thế gian của người phụng sự; không nhìn vào số lượng người được tập hợp xung quanh phàm ngã của y, mà nhìn vào các động cơ thúc đẩy sự hoạt động của y, và nhìn vào hiệu quả của ảnh hưởng của y trên các huynh đệ của y. Việc phụng sự chân chính là dòng chảy tự nhiên của một trái tim yêu thương và một trí tuệ sáng suốt; nó là kết quả của việc ở nơi thích hợp và lưu lại đó; nó được tạo ra bởi dòng lưu nhập đương nhiên của sức mạnh tinh thần, chứ không phải do hoạt động căng thẳng ở cõi trần; nó là ảnh hưởng của bản thể của một người, những gì là bản chất thực sự của y, tức một đấng Con thiêng liêng của Thượng Đế, chứ không phải do hiệu quả được nghiên cứu về lời nói hoặc hành động của y. Một người phụng sự chân chính tập hợp xung quanh y những người mà y có nhiệm vụ phụng sự và trợ giúp bằng mãnh lực sống của y và phàm ngã được tinh thần hóa của y, chứ không phải bằng những lời tuyên bố hoặc sự phát biểu lớn tiếng của y. Y phụng sự trong sự quên mình, y đi trên đời trong sự hy sinh, và y không nghĩ gì đến tầm quan trọng hay điều ngược lại về sự thành tựu của mình, và không có những định kiến nào về giá trị hoặc sự hữu dụng của riêng mình. Y sống, phụng sự, hoạt động và tác động, không đòi hỏi gì cho bản ngã riêng tư.

The third factor, that of service, for which the Master looks is one upon which the aspirant has the least to say and may very probably misinterpret. Spiritual ambition, the desire to function as the center of a group, the longing to hear oneself speaking, teaching, lecturing, or writing are often wrongly interpreted by the aspirant as service. The Master looks not at a worker’s worldly force or status, not at the numbers of people who are gathered around his personality but at the motives which prompt his activity and at the effect of his influence upon his fellowmen. True service is the spontaneous outflow of a loving heart and an intelligent mind; it is the result of being in the right place and staying there; it is produced by the inevitable inflow of spiritual force and not by strenuous physical plane activity; it is the effect of a man’s being what he truly is, a divine Son of God, and not by the studied effect of his words or deeds. A true server gathers around him those whom it is his duty to serve [189] and aid by the force of his life and his spiritualized personality, and not by his claims or loud speaking. In self-forgetfulness he serves; in self-abnegation he walks the earth, and he gives no thought to the magnitude or the reverse of his accomplishment and has no preconceived ideas as to his own value or usefulness. He lives, serves, works and influences, asking nothing for the separated self.

Khi một Chân Sư thấy sự biểu hiện này trong đời sống của một người, như là kết quả của sự thức tỉnh của ánh sáng bên trong và việc điều chỉnh các bổn phận nghiệp quả của y, bấy giờ Ngài phát ra một nốt và chờ xem người đó có nhận ra nốt của nhóm riêng của y hay không. Dựa vào sự nhận ra này, y được thu nhận vào nhóm riêng của y gồm các người cùng phụng sự, và có thể đứng trước mặt Chân Sư của y.

When a Master sees this manifestation in a man’s life, as the result of the awakening of the inner light and the adjustment of his karmic obligations, then He sounds out a note and waits to see if the man recognizes his own group note. On this recognition, he is admitted into his own group of co-workers, and can stand in the presence of his Master.

1022 — Tổng số lần đọc 7 — Hôm nay

Leave a Reply