Luân xa và Các Trường Năng Lượng của Con người -7-

Chương 13 và 14 của quyển Luân xa và Các Trường Năng lượng của Con người, do Quỳnh Anh dịch. Chúng tôi vẫn đính kèm nguyên bản tiếng Anh ở cuối bài để các bạn đối chiếu. Hai chương này bàn đến các vấn đề khá lý thú trong y học là trường hợp cấy ghép nội tạng và thể dĩ thái trong khi phẫu thuật.
*****************

XIII. Ảnh hưởng của thuốc và các tác nhân thay đổi khác

Từ phần mô tả thể dĩ thái ở Chương IV, chúng tôi nên làm rõ rằng trường năng lượng này là một dạng vật chất với nghĩa là nó khá khác biệt với trường năng lượng của thể cảm dục và trí tuệ, bởi nó không thể tách rời khỏi cơ thể vật lý và tan rả với cơ thể vật lý khi cái chết đến.

Các nhà thông nhãn đã nhắc lại nhiều lần rằng theo kinh nghiệm của họ thì các yếu tố hay vật chất vật lý không thể làm biến đổi trường dĩ thái. Tuy nhiên họ cũng báo cáo rằng chất lỏng và chất khí cũng như chất rắn cũng có đối phần dĩ thái. Thực chất, trường năng lượng thể dĩ thái thường được chia nhỏ ra thành vài loại, loại đậm đặc nhất thì liên hệ tới thể rắn vật lý, trong khi loại loãng hơn thì thuộc loại phi vật chất. Một số nhà quan sát thậm chí giả thiết rằng electron là một khía cạnh của thể dĩ thái.

Nếu bất kì nhận định nào trên đây là đúng thì chắc chắn phải có những yếu tố vật lý có thể biến đổi trường năng lượng dĩ thái. Một trong những thí nghiệm ban đầu của chúng tôi là để khảo sát loại câu hỏi này. DVK được đưa tới Trung Tâm Y Khoa Pressbyterian ở thành phố New York để quan sát các loại dung dịch I ốt cả loại thường và loại phóng xạ. Tuy nhiên, khi bà quan sát chúng bằng nhãn thông, bà lập tức nhận ra ống phóng xạ do có độ sáng dĩ thái cao hơn là dung dịch I ốt thông thường.

Kỹ thuật viên sau đó được yêu cầu đặt ống nghiệm I ốt phóng xạ trong một bể chì, đó là một vật chứa nhằm ngăn chặn chất phóng xạ thoát ra ngoài không khí. Sau một vài phút, DVK báo cáo rằng độ sáng bên trong bể chì đã tăng lên. Ban đầu hiệu ứng này dường như không nhất quán, bởi khung bằng chì được cho là ngăn chặn sự thoát ra ngoài của phóng xạ. Do vậy, tại sao DVK có thể nói là nó đã tăng lên? Tuy nhiên, khi phân tích kĩ thì quan sát trên thực là rất có nghĩa. Với tầm nhìn dĩ thái của DVK, hộp chì không phải thuộc loại cản trở tầm nhìn; bà có thể nhìn xuyên qua nó. Vì I ốt phóng xạ được ngăn chặn bởi bể chì không thể thoát ra ngoài ở điều kiện bình thường, nên độ sáng thể dĩ thái của nó tăng lên.

Những cố gắng được thực hiện để sử dụng các phương pháp thí nghiệm khác nhằm tìm ra các loại vật chất hay hỗn hợp chất nào, nếu có, có thể làm biến đổi trường dĩ thái. Những ví dụ sau đây có thể ban đầu thấy rất đơn giản, nhưng chúng giúp chúng tôi hiểu những tiềm năng và hạn chế trong tầm nhìn thể dĩ thái.

2 cốc nước, một lạnh, một ấm, được đặt cách DVK 2 feet trong một phòng tối, và bà được yêu cầu mô tả thể dĩ thái của chúng. Bà nói một trong 2 cốc cho thấy sự tăng nhẹ năng lượng dĩ thái trên bề mặt, và vì vậy, bà cho rằng đấy là cốc chứa nước ấm. Nhận định này là chính xác.

DVK quan sát những chất liệu do con người làm ra, như ni long và sợi tổng hợp, ngăn chặn một phần dòng chảy tự do của năng lượng dĩ thái mà có thể một số người thấy khó chịu khi mặc chúng trên người. Bà nhận định điều ngược lại đúng với các chất liệu như cotton, len và lụa.

Âm thanh, ánh sáng và từ tính

Một số người nhạy cảm với những tần số âm thanh rất cao hoặc rất thấp. Tương tự như vậy, một số loại âm thanh có thể làm chúng ta cáu kỉnh và bất an, trong khi một số khác làm dịu và điều hoà. Nhịp của nhạc rock ảnh hưởng đến con người trên các bộ phận cơ thể khác nhau, và có thể kích thích cả về vật lý lẫn tính dục.

Một số người cho biết cảm nhận được rung động âm nhạc qua các thể của họ; những người khác cảm thấy chúng trên cánh tay, chân, lưng hay đầu. Ta biết rõ rằng về mặt y học một người nghe nhạc rất to trong một thời gian có thể bị tổn thương khả năng nghe ở một số tần số nhất định, kết quả là bệnh điếc một phần. Ngược lại, nhạc cổ điển và tôn giáo có thể kích thích luân xa tim và/hoặc luân xa đỉnh đầu.

Ngày nay, một vài tần số âm thanh nhất định đang được sử dụng cả trong chuẩn đoán y học và các liệu pháp trị liệu. Chúng ta có thể thực hiện vết mổ với sóng âm, phá huỷ một viên sỏi thận, lỏng hoá thuỷ tinh thể bị đục, và chụp lại hình ảnh của một nang trứng chín hay sự tích tụ của canxi trong tĩnh mạch. Rõ ràng khi được hiểu biết đúng, âm thanh sẽ được sử dụng trong việc chữa trị và sửa chữa các mô. Nhưng để có những bước tiến đó, chúng ta cần hiểu thêm về ảnh hưởng của âm thanh lên hệ sinh học.

Một lượng nhỏ ánh nắng mặt trời rất có lợi và làm gia tăng sinh khí dĩ thái, nhưng ở dưới ánh mặt trời trong thời gian dài có khuynh hướng làm mất đi lợi ích đó. Ánh sáng có màu sắc khác nhau có những ảnh hưởng khác nhau. Ánh sáng vàng và vàng kim tiếp thêm sinh lực; màu xanh da trời làm êm dịu trong trường hợp viêm nhiễm, giảm đau và giảm huyết áp; màu xanh lá cây có tác dụng điều hoà trên thể dĩ thái. DVK quan sát thấy khi màu vàng chiếu lên một chú chó đang hoảng loạn có tác dụng tiếp thêm sinh lực trên trường dĩ thái của con vật.

Về phương diện này, cũng cần lưu ý là có những khác biệt trong ảnh hưởng của việc sử dụng ánh sáng màu vật lý và việc hình dung đúng màu đó trong thể trí, mặc dù việc hình dung màu xanh da trời cũng có hiệu ứng giảm đau. Hình dáng mà màu sắc được sử dụng hay hình dung—chẳng hạn hình tròn, hình chữ thập hay hình tam giác—cũng có thể gây ra những hiệu ứng khác nhau. Cần có thêm nghiên cứu để làm rõ lĩnh vực nghiên cứu này. Ánh sáng huỳnh quang (fluorescent) gây ra những cảm giác khó chịu ở một số người nhạy cảm. Ví dụ, một nhà chữa lành là FF không thể chịu đựng được ánh sáng huỳnh quang chiếu lên tay mình.

Hơn 130 năm trước, Reichenbach báo cáo về những ảnh hưởng mà từ trường gây nên ở một số người nhạy cảm. Ông nhận ra rằng những người có thể cảm nhận được sự hiện diện của một nam châm với một lực hút nhất định khi nó được đưa lên đưa xuống dọc theo cột sống mà không chạm vào da, cũng nhạy cảm với thời tiết và các cơn bão từ. Một vài người trong số những người nhạy cảm này chỉ có thể ngủ một cách thoải mái khi ở vị trí hướng Bắc hoặc Nam. Thật không may, chúng tôi không thể kiểm nghiệm nhận định của DVK về ảnh hưởng của từ trường lên bất kỳ bệnh nhân nào.

Các yếu tố địa chất – Geological Factors

Một số người cho biết đã trải qua một sự thiếu hụt sinh khí khi đến thăm một số nơi nhất định, ở thành phố hay ở vùng quê. Họ thường bị thôi thúc rời khỏi địa điểm đó một cách nhanh chóng, và sau đó thì thấy sinh khí phục hồi. Hai người được biết là những người nhạy cảm đã cảm thấy rất khó ở khi đến thăm những nơi được gọi là điểm từ trường; Họ bị chóng mặt nhẹ và không thể lái xe trong vài giờ. EP là một người nhạy cảm đã sử dụng những phản ứng cơ thể của mình để tìm mạch ngầm, không chỉ tìm kiếm nước ngầm mà còn tìm kiếm cả khoáng vật và khảo cổ. Một người đàn ông khác, một nhà địa chất dầu khí, báo cáo rằng ông biết nơi nào sẽ tìm được dầu bởi vì ông cảm nhận được những cảm giác cụ thể nhất định ở bàn chân khi đứng ở mặt đất phía trên nó.

Sự trao đổi năng lượng giữa con người cũng cần được nói đến. Điều này đã từng được giải thích rằng một số người mà khi chúng tôi đến gần họ có thể làm thay đổi trường năng lượng của chúng tôi, hoặc có thể làm tăng hoặc làm suy yếu sinh khí của chúng tôi. Điều này cũng đúng ở tầng cảm dục và trí tuệ, bởi một số người có thể nâng cao cảm xúc và kích thích tâm trí của chúng tôi, trong khi số khác có thể làm chúng tôi chết dần hay hút dần sinh lực. Khả năng này sẽ được thảo luận thêm trong chương tiếp theo bàn về chữa trị.

Thuốc giảm đau

DVK được yêu cầu quan sát những diễn biến trong một ngày của một đối tượng trước và sau khi uống thuốc Bufferin để giảm đau. Bệnh nhân bị sai khớp hông bên phải khi bước vào một chiếc taxi khi giao thông đông đúc, và chỗ đau xuất hiện từ đó đã kéo dài vài tháng. Khi ngồi hoặc bước đi, ông cảm nhận sự căng và cơn đau lan ra từ xương cùng hay đốt sống ở xương chậu tới đằng sau bắp đùi phải và bắp chân của chân phải, nhưng không thấy đau khi nằm xuống.

DVK nhận thấy rằng một cảm giác có áp lực đã phát triển dọc theo các dây thần kinh xương cụt, đôi khi gây khó chịu, và điều này tạo ra chỗ sung tấy. Tình trạng này dẫn tới áp lực trên các dây thần kinh tạo ra cảm giác đau khi chủ thể bước đi hay gập đầu gối. DVK cho biết tất cả các khớp đều bình thường, nhận định trên sau này được xác thực bằng phim X-ray. Theo quan điểm của bà, vấn đề chính ở đây nằm ở các dây chằng và bó cơ đã bị căng ra quá mức như một vòng co giãn. Có những đợt bộc phát phá vỡ dòng chảy năng lượng, cho thấy những kích ứng nhẹ tại vị trí đó.

Mười lăm phút sau khi đối tượng uống hai viên thuốc Bufferin, DVK để ý thấy có thay đổi trong mô hình năng lượng dĩ thái ở khu vực não hơi chếch phía trên tuyến yên, và việc này ảnh hưởng tới cả mẫu hình điện não. Cũng có sự tăng lên về độ sáng của năng lượng. Thuốc Bufferin dường như đã làm thay đổi nhịp điệu của các kích thích ra vào. Một sự thay đổi trong mạch vòng làm biến đổi các kích thích đến từ các khu vực khác nhau của cơ thể. Khi năng lượng chảy xuống chân phải, các xung lực dường như chậm lại và vài chỗ mờ nhạt được nhận thấy. Tình trạng này không được chữa trị nhưng những vùng bị kích ứng có vẻ thư giãn hơn. Não bộ dường như hoạt động mạnh nhưng Bufferin làm chậm năng lượng tới mức độ rất nhỏ ở não thể dĩ thái, điều này giúp thư giãn các cơ. Lưu thông máu trở nên bình thường, và nhịp điệu đều đặn.

Sau nửa giờ đồng hồ, có những tiến triển hơn nữa. Khi đó, năng lượng dĩ thái lưu thông tự do, nhịp nhàng và không bị ngăn trở. Hai điểm được quan sát từng bị kích ứng nay đã khá hơn nhiều.

Sau sáu tiếng đồng hồ, có một thay đổi trong hình mẫu năng lượng dĩ thái trong não. Những kích thích giật cục và thất thường được gửi từ khu vực xương cùng tới não bộ. Đáp lại, não bộ thể dĩ thái có xu hướng gửi nhiều năng lượng đến chỗ đau hơn.

Những quan sát của DVK về ảnh hưởng của Bufferin lên các cơ bị đau đã chính xác theo nghĩa bệnh nhân trải qua quá trình giải toả cơn đau xảy ra đồng thời với những biến đổi trong mô hình năng lượng dĩ thái. Cơn đau trở lại sau đó 6 giờ. Trong mọi khả năng thì khu vực gần tuyến yên mà DVK nói đến chính là vùng hạ đồi, và chính tại đây mà những thay đổi trên làm tăng lưu lượng máu đến các cơ đang thiếu năng lượng dĩ thái, làm thư giãn chúng và do đó giúp giải phóng cơn đau.

Thuốc trị bệnh tâm thần Thorazine

Thorazine (chlorpromazine hydrochloride) là một chất hoạt động ức chế hệ thần kinh trung ương và được dùng như một loại thuốc an thần và thuốc chống nôn mửa. Thuốc này cũng giúp làm yên ổn các bệnh nhân tâm thần bị hưng phấn nghiêm trọng.

VJ, một phụ nữ đã kết hôn 25 tuổi, hai con, gặp chúng tôi vào năm 1979, sau một nỗ lực tự tử. Cô được chuẩn đoán bị bệnh hưng-trầm cảm với những ảo giác về hình ảnh và âm thanh. (Xem Chương XII về thảo luận chi tiết cho lịch sử trường hợp trên). Sau một nỗ lực tự tử tiếp theo, trong đó cô cố gắng phóng hoả ngôi nhà và mọi người trong gia đình, cô được quan sát lần thứ hai. VJ vào viện tâm thần vài tháng và rồi được xuất viện với lời khuyên uống 400 milligrams Thorazine hàng ngày. Thuốc này có vẻ giúp cô giảm các triệu chứng ảo giác.

Câu hỏi của chúng tôi là: Thorazine hoạt động như thế nào, và cơ chế trong việc ức chế các ảo giác trong bệnh tâm thần là gì?

Bệnh nhân được quan sát một thời gian trước khi cô uống thuốc. DVK nhận thấy tất cả màu sắc của thể cảm dục bị nhiễu loạn và tùng thái dương trở nên lỏng lẻo và mở ra, khiến cô phản ứng thái quá với những người khác. Luân xa này không ổn định, quay quá nhanh, không có nhịp điệu và có màu đỏ không bình thường. Trường cảm dục cho thấy hệ thống chống xâm nhập đã bị huỷ hoại. Thể cảm dục không ổn định, chuyển định từ trái sang phải cho thấy sự giận dữ bị kìm hãm. Màu sắc thể cảm dục là màu tối và màu bùn xám và thay đổi liên tục. Lúc 4 giờ chiều, bệnh nhân uống 400 milligram Thorazine và được DVK quan sát sau 20 phút. Vì Thorazine là một hợp chất hoá học, nó có những đối phần riêng ở thể dĩ thái như mọi thứ khác trong thiên nhiên. Chất Thorazine dĩ thái dường như ảnh hưởng đến não cũng như làm chậm lại luân xa cuống họng và luân xa chân mày. Điều này đến lượt nó lại dường như ảnh hưởng đến dây thần kinh thị giác, khu vực hạ đồi và tuyến yên, làm yếu đi cơ chế tri nhận bằng hình ảnh và âm thanh. Khi tiến trình này diễn ra, bệnh nhân bắt đầu cho thấy sự cải thiện, mặc dù cô vẫn run sợ bởi ký ức về lần cố gắng phóng hoả ngôi nhà và lần trong viện tâm thần ngay sau đó.

Sau nửa giờ đồng hồ, chất Thorazine ảnh hưởng đến tất cả các thể của cô, đặc biệt là thể cảm dục. Luân xa chân mày và cuống họng có màu xám hơn, cho thấy một sự chậm lại trong hoạt động của chúng. Tương tự như vậy, tuyến tùng và khu vực hạ đồi giảm hoạt động và chức năng của chúng, biểu hiện qua màu xám ở những khu vực này. Luân xa tùng thái dương cũng bị ảnh hưởng.

Tóm lại, hoạt động của chất Thorazine dường như làm giảm độ sáng của thể dĩ thái, kiềm chế và đóng thể cảm dục cùng với thể trí. Điều này có thể giải thích cách Thorazine giúp cho tình trạng nhiễu loạn về tinh thần bằng việc chặn và gây mờ mịt cho trường cảm dục và dĩ thái, vì vậy giảm các ảo giác về âm thanh và hình ảnh. Khi những quan sát của DVK tiếp diễn, ảnh hưởng của Thorazine được thấy đã lan ra cả ba thể—thể trí cũng như thể cảm dục và thể dĩ thái.

Nghiện ma tuý

Có lẽ vấn đề xã hội cấp bách nhất với chúng ta hiện nay là sự sử dụng tràn lan ma tuý và các chất gây nghiện khác. Mặc dù dữ kiện chúng tôi có để đưa ra còn yếu, chưa đầy đủ và hoàn thiện bởi những hoàn cảnh khó khăn trong lúc thực hiện công việc, nhưng chúng tôi đưa ra với hi vọng rằng nó có thể khuyến khích những người khác tham gia vào những nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực quan trọng này. Chúng tôi đã không may không thể tiếp cận một đối tượng đang trong tình trạng cấp cứu vì nhiễm độc thuốc, cũng như không thể quan sát triệu chứng dần mất đi.

Vào tháng 5, năm 1970, chúng tôi có vài cuộc viếng thăm tới bệnh viện ngoại trú nơi những người bị tuyên bố là nghiện ngập và phạm tội đang được tại ngoại phải đến chữa theo luật pháp. Trong những lần viếng thăm này, chúng tôi xem xét các phản ứng trên đồng tử của họ, các dấu hiện của vết kim tiêm và kết quả kiểm tra nước tiểu. Chúng tôi có thể ngồi lẫn giữa những người nghiện và DVK chọn ngẫu nhiên những người để quan sát.

Trường hợp đầu tiên là của một người đàn ông da trắng tầm 30 tuổi. Đặc điểm nổi bật nhất mà DVK quan sát là luân xa dĩ thái tùng thái dương, cuống họng và chân mày. Trung tâm tùng thái dương bị rối loạn nhiều nhất, biểu hiện qua sự hiện diện của lượng lớn màu xám và đỏ ở cả tâm và cánh luân xa. Có một dòng chảy năng lượng bất ổn xung quanh tâm, với vài chỗ vỡ trong mẫu hình dòng chảy khi năng lượng đi vào và ra khỏi luân xa. Ngoài ra, còn có sự rò rỉ năng lượng dĩ thái. Khả năng đàn hồi khó khăn và các cánh luân xa đều lỏng lẻo và thô ráp.

Ở luân xa cuống họng, tâm luân xa chặt chẽ và loạn nhịp nhưng vùng biên của nó lại lỏng và không chặt chẽ, trong khi ngoại biên cánh luân xa đều lỏng lẻo và thô ráp.

Luân xa chân mày dĩ thái cho thấy tuyến yên hoạt động không bình thường. Nó đang đẩy ra một dòng năng lượng theo cách không thường thấy, và nó dường như hoạt động mạnh hơn phần còn lại của thể dĩ thái. Điều này đặt ra câu hỏi liệu trạng thái hưng phấn do ma tuý sẽ kèm thêm những ảo giác hay “nhìn thấy thứ gì đó”. Bất cứ thứ gì anh ta nhận thấy qua các giác quan hình ảnh sẽ bị bóp méo, nhưng không nhất thiết thấy chúng kiểu như trong tranh.

Luân xa dĩ thái đỉnh đầu nhỏ và chậm.

Vì những căng thẳng áp lực của mình, bệnh nhân đã sử dụng một lượng rất lớn năng lượng dĩ thái, khiến cho đến thời điểm được quan sát, cả gan và các tuyến nội tiết đều trông như hoạt động yếu.

Thể cảm dục cho thấy có rất nhiều những rối loạn và căng thẳng về cảm xúc, với xu hướng làm bất cứ điều gì xảy ra với anh ta miễn là nó không tốn nhiều nỗ lực. Mức độ trí lực thấp.

Ở trường hợp bệnh nhân thứ hai, một người đàn ông 40 tuổi, luân xa tùng thái dương dĩ thái đã bị nhiễu loạn trầm trọng, chốt xoáy có màu đỏ hơn và chuyển động nhanh hơn tâm luân xa của bệnh nhân đầu tiên.

Phần tâm của luân xa dĩ thái cổ họng có phần chặt hơn ở đối tượng đầu tiên, nhưng các cánh luân xa thì rộng hơn. Như trường hợp trên, luân xa đỉnh đầu thể dĩ thái nhỏ và chuyển động chậm. Bệnh nhân này thì nguy hiểm hơn bởi vì anh có rất ít khả năng nhận dạng bản thân, vì vây, dễ bị tác động. Anh rất hay bồn chồn, cảm xúc bị rối loạn và không có nhiều khả năng tự chủ.

Bệnh nhân thứ ba là một người đàn ông da đen tuổi 30. Trong trường hợp của anh, luân xa tùng thái dương thể dĩ thái đàn hồi hơn và các cánh luân xa thì lỏng lẻo, loạn nhịp và năng lượng dĩ thái bị rò rỉ một cách gián đoạn. Bệnh nhân cho thấy xu hướng dao động giữa trạng thái cực kỳ hưng phấn và trầm cảm nghiêm trọng, những thay đổi thấy thường này được nhận thấy thông qua những thay đổi ở tùng thái dương. Tâm của luân xa dĩ thái cuống họng bị loạn nhịp và lỏng lẻo ở phần ngoại biên. Điều này gây ảnh hưởng lên các cấp độ năng lượng ở cả tuyến yên và các tuyến nội tiết. Các tuyến nội tiết cho thấy bệnh nhân đã trải qua sự căng thẳng lớn trong một số thời điểm, và kết quả là chúng không còn hoạt động như bình thường. Luân xa dĩ thái đỉnh đầu cũng rất nhỏ và chậm. Chức năng của tuyến yên không bình thường, dẫn đến sự méo mó trong nhận thức của anh.

Bệnh nhân thứ tư là một người đàn ông Mexico trẻ tuổi. Ở người này, luân xa dĩ thái tùng thái dương bị loạn nhịp ở cả phần tâm và cánh luân xa, nhưng ở mức độ nhẹ hơn ở những bệnh nhân trước. Tuy nhiên, màu sắc là màu đỏ rất khó ưa, với những loé sáng cùng màu trên các cánh luân xa. Các tuyến nội tiết một phần bị kích thích quá mức, và tuyến giáp cho thấy một vài rối loạn. Luân xa chân mày thể dĩ thái dường như chuyển động nhanh hơn bình thường, nhưng nó bắt đầu quay chậm lại. Anh ta dường như không bị hưng phấn hay phiền muộn như một vài trong số những bệnh nhân khác. Tuy nhiên, chúng tôi không biết gì về giai đoạn nghiện cũng như khoảng thời gian anh ta đã rời xa được ma tuý.

Trong tình trạng nghiện ma tuý, việc chữa trị sự mất cân bằng trong thể cảm dục, ví dụ như các cảm xúc, có tầm quan trọng như việc điều trị thể dĩ thái. Những người nghiện được chữa trị tại các buổi gặp ở Katherine Kuhlman nhận được ảnh hưởng cảm dục rất lớn và điều này giúp thay đổi xu hướng trong các cảm xúc của họ. Đồng thời, việc chữa trị diễn ra ở tầng dĩ thái, và việc áp dụng đồng thời cả năng lượng cảm dục và dĩ thái dường như đẩy nhanh cơ chế hồi phục sức khoẻ. Cơ chế hoạt động này đã từng vắng mặt trong các bệnh nhân nghiện được quan sát ở bệnh viện ngoại trú này.

Tóm lại, kết luận nổi bật nhất từ những trường hợp nghiện ma tuý này là sự loạn nhịp ở cả tâm và cánh của luân xa tùng thái dương thể dĩ thái, điều này đã ảnh hưởng đến toàn bộ thể dĩ thái. Sắc đỏ, được thấy dưới hình thức những chớp sáng có màu xám và đỏ hay màu cam và đỏ, khác biệt với những màu ở bệnh nhân ung thư, như đã miêu tả ở phần phụ lục, nơi màu đỏ là màu đỏ tươi. Hơn thế nữa, có một sự suy giảm xác định trong độ sáng của luân xa tùng thái dương dĩ thái, và một sự rò rỉ tại đó khiến các bệnh nhân cảm thấy luôn mệt mỏi. Trong mọi trường hợp, chức năng nội tiết đều suy giảm.

Ở tầng cảm dục, luân xa tùng thái dương bị rối loạn nghiêm trọng ở người nghiện, với mô thức cảm xúc thất thường và thiếu năng lượng theo chu kỳ. Ngoài ra, có sự rối loạn trong mối quan hệ giữa tuyến giáp trạng, các tuyến nội tiết, tuyến yên và vùng hạ đồi. Cái sau có xu hướng sản xuất ra một loại ảo giác, và mất cảm giác về tỉ lệ. Sự loạn nhịp này có thể là tạm thời, và nó có thể biến mất nếu bệnh nhân thoát khỏi tình trạng nghiện ngập.

Mặc dù những dữ liệu trên cần được kiểm nghiệm thêm nữa, có vẻ những ảnh hưởng của ma tuý như morphine và heroin bắt đầu ở thể dĩ thái và sau đó đến thể vật lý. Rõ ràng thuốc phiện thì hữu dụng và cần thiết về mặt y học, nhưng ngay cả với liều dùng hạn chế, cầu nối giữa hệ thần kinh và các kênh dĩ thái và các đường từ lực nadis bị yếu đi. Việc tiếp tục sử dụng các loại hình thuốc phiện ảnh hưởng đến các luân xa, và đó là khi sự nghiện ngập bắt đầu. Chiều hướng chuyển động trong các luân xa bị đảo ngược bởi ma tuý, và chính điều này gây nên sự nghiện ngập. Ngược lại, sự thay đổi về mặt vật lý ở các luân xa gây nên tình trạng sợ hãi và lo âu ở người bệnh.

XIV. Ảnh hưởng của phẫu thuật cắt bỏ cơ quan

Hiện nay khi những quy trình ghép thay thế nội tạng trở nên phổ biến trong việc điều trị các chứng suy giảm chức năng tim, thận và thậm chí cả phổi và gan, thì những quan sát chúng tôi thực hiện về ảnh hưởng của phẫu thuật lên luân xa và trường dĩ thái sẽ có những lợi ích nhất định. Những bệnh nhân trải qua loại phẫu thuật như vậy buộc phải dùng thuốc để ngăn chặn sự đào thải của cơ quan được cấy ghép vào trong cơ thể. Cơ thể coi bộ phận đó như một yếu tố ngoại xâm và cố gắng phá huỷ nó. Nghiên cứu của chúng tôi có thể đưa ra manh mối cho một trong những yếu tố quyết định hội chứng đào thải này.

Trong một trường hợp của một quả thận được cấy ghép, cấu trúc bề mặt dĩ thái của quả thận mới được nhận thấy là không thích hợp với trường dĩ thái của người nhận về mặt tính chất; hai thứ này không hoà hợp được với nhau. Câu hỏi hiện ra là: liệu việc chấp nhận hay đào thải các bộ phận cấy ghép phụ thuộc ở một mức độ nào đó vào tính chất của trường dĩ thái của bệnh nhân và của bộ phận được cấy ghép? Liệu một nhà thông nhãn như DVK có thể nhận thấy trước sự đào thải sẽ xảy ra không và tại sao? Cơ chế đào thải đó diễn ra như thế nào? Đây là một vấn đề thú vị để nghiên cứu.

Năm 1984, DVK được đưa tới để quan sát bệnh nhân MB, 27 tuổi, người đã được cấy ghép một quả thận vào tháng 12 năm 1978, lúc đó nhập viện để kiểm tra. Mục đích chính là quan sát các đặc điểm thể dĩ thái và tính chất của quả thận được cấy ghép khi so sánh nó với trường năng lượng dĩ thái chung của người bệnh.

DVK mô tả dĩ thái của quả thận cấy ghép là có bề mặt thô hơn phần còn lại trên cơ thể dĩ thái của bệnh nhân. Bà nhấn mạnh, “Rất lạ lùng khi thấy những tính chất khác nhau trong vật chất vi tế thể dĩ thái ở cùng một người. Có cái gì đó rất lạ trong năng lượng ở thận, bởi nó dường như hay thay đổi.”

Màu sắc thì tối hơn phần còn lại của thể dĩ thái của bệnh nhân; cả hai không hoà trộn hoàn toàn, và do đó, quả thận không hoạt động một cách hoàn thiện. DVK cũng nhận định quả thận như ở đàng trước bụng hơn là ở phía sau như bình thường. (Quan sát này là chính xác.). Thể dĩ thái nói chung là mỏng và có vẻ rời rạc ở vùng xung quanh thận, và bệnh nhân có mức năng lượng rất thấp.

Một quan sát khác của DVK là thích hợp ở đây. Bà phát hiện ra rằng ngay cả sau khi một tuyến bị bệnh được phẫu thuật cắt bỏ, luân xa liên quan đến tuyến nội tiết đó vẫn còn bất bình thường. Thực tế này cho thấy manh mối về lý do tại sao loại bệnh mà một tuyến bị cắt bỏ có thể tái phát. Dường như là chỉ khi mẫu hình luân xa dĩ thái trở lại trạng thái bình thường thì việc tái phát các triệu chứng cũ mới có thể được kiểm soát hoàn toàn.

DVK cũng quan sát thấy bệnh tật vật lý có thể xuất phát ở một chiều đo ngoài thể dĩ thái, như là thể cảm dục hay thể trí. Như đã gợi ý trước đây, thuốc trị bệnh thần kinh có thể kịp thời ngấm vào cả những chiều đo này, và vì vậy có tác dụng tới sự hài hoà giữa các trung tâm lực và các trường năng lượng dĩ thái tương ứng của chúng. Và, để nhắc lại một quan sát khác, chúng tôi hiện chưa biết những yếu tố nào quyết định bộ phận cơ thể vật lý nào sẽ là mục tiêu cho các bệnh liên quan đến một luân xa bất thường. (Xem Chương XI).

Thuật ngữ “y học toàn diện” (holistic medicine) hiện được sử dụng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng thường nó nói đến khái niệm một bản thể con người toàn diện, bao gồm thân thể, tâm trí và cảm xúc—và đôi khi bản ngã hay tinh thần. Về cơ bản, những người trị liệu theo phương pháp này chú trọng đến một loạt các thể thức vật lý khác hơn là các loại thuốc, ví dụ như liệu pháp vi lượng đồng căn (homeopathy), châm cứu và vật lý trị liệu, cũng như các kĩ thuật hình dung và kĩ thuật tâm trí khác. Tất cả những kĩ thuật này được thiết lập dựa trên quan niệm rằng bệnh tật là một sự can thiệp vào tính toàn thể căn bản của con người, và cách chữa trị này đạt hiệu quả bằng việc khôi phục lại tính đồng nhất thể đó. Vì vậy, bệnh tật là một tình trạng không hoà hợp giữa ba trường năng lượng phàm ngã, và không nói lên điều gì về trạng thái của nhân thể hay linh hồn, những thể này không bị tác động bởi những sự không hoà hợp của thân thể, cảm xúc và tâm trí.

Vì vậy y học toàn diện, trong ý nghĩa thực sự của nó, nên nhắm đến sự hạn chế các nguyên nhân của tình trạng bất hoà nhằm thúc đẩy quá trình lành bệnh và khôi phục chức năng bình thường. Nói cách khác, mục đích của can thiệp y học là loại bỏ những trở ngại cho khả năng tự chữa lành của cơ thể.

Những chi đã mất

Tiến bộ nhanh chóng trong kĩ thuật thay thế bộ phận cơ thể làm dấy lên câu hỏi trực tiếp lên quan đến ảnh hưởng của nó đến trường dĩ thái của các bộ phận cơ thể vật lý được bị loại bỏ. Chúng tôi đặt ra vấn đề này bằng việc để DVK quan sát một trường hợp về thứ được gọi là “những chi đã mất”, một hiện tượng thông thường ở những người có một chân hay cánh tay bị cắt cụt.

Những chi bị cắt bỏ có thực sự là phần đã mất, hay còn đó vài bằng chứng cho thấy chúng vẫn “có thật”? Bệnh nhân cảm thấy phần chi bị cắt cụt vẫn hiện diện, và điều này thường gây ra một đau đớn trầm trọng, sự co thắt, ngứa và một cảm giác bỏng rát và vị trí bất thường hay kỳ quái. Qua một thời gian, chi bị mất dường như di chuyển lên phía phần còn lại của chân hay tay đã bị cụt; hiện tượng này được gọi là “sự tụ tiêu”.

Bác sĩ Wilder Penfield ở Viện Thần Kinh Montreal tìm thấy, trong khi đánh dấu phần vỏ não của các bệnh nhân đang tỉnh táo trong cuộc phẫu thuật, rằng bàn tay và bàn chân có nhiều khu vực đại diện cho não hơn phần thân người của cơ thể. Con người về cơ bản ý thức được các ngón tay và ngón chân, không phải cánh tay và cẳng chân. Điều này có thể nhắc nhở về sự thật rằng cơn đau ở các chi đã mất không phải là ảo giác; nó là một vấn đề lớn trong các tai nạn và người bị thương trong chiến tranh, đặc biệt những người còn trẻ và khoẻ mạnh, bởi ảnh hưởng của nó có thể kéo dài cả đời.

Có một vài mục đích trong nghiên cứu của chúng tôi. Một là quan sát một chi đã mất ở thể dĩ thái, và cố gắng khám phá vì sao những cơn đau, co thắt và ngứa ở chi đã mất có thể được giải toả bằng việc gãi ở chi khoẻ mạnh. Trong trường hợp những bệnh nhân bị bệnh mãn tính phải chịu đựng bệnh tim mạch hay tiểu đường, các triệu chứng liên quan đến chi đã mất xảy ra với tần suất ít hơn sau khi cắt bỏ và trong một khoảng thời gian ngắn hơn.

DVK cũng được yêu cầu chú ý đến tính đặc điểm dĩ thái của các chi đã mất và làm thế nào hay tại sao matxa phần chi bình thường có thể giải toả cơn đau ở chỗ đã bị cắt.

GF, một binh sĩ trẻ tuổi, bước vào một bãi mìn ở Việt Nam năm 1968. Lòng bàn chân trái đã bị huỷ hoại và bàn chân bị cắt cụt ở ngay phía trên mắt cá chân vào tháng 4 năm 1968. Phần đầu cụt ổn, và miếng da ở gót chân được đắp xung quanh để tạo ra chỗ đệm. Bệnh nhân có thể sử dụng chân trái tương đối tốt, nhưng vì những cơn đau từ phần đã mất, anh ta được nhập viện lại, nơi các u xơ thần kinh (neuroma—khối các mô thần kinh trong đầu cụt chi đã bị cắt) được loại bỏ với hi vọng giải toả các cơn đau không xác định vị trí).

Chúng tôi gặp bệnh nhân vào năm 1970, hai tháng sau lần phẫu thuật cuối cùng, khi đó, cuộc đối thoại giữa chúng tôi đã diễn ra như sau:

SK: Anh có thể miêu tả cảm giác chỗ bàn chân đã bị cắt không?

GF: Đó là cảm giác tê lạnh—một kiểu cơ căng cứng tê bì, lạnh buốt. Cảm giác như là ngón chân út đang nằm trên ngón chân cạnh đó, và tôi có các cơn đau như cơn chuột rút ở gan bàn chân.

SK: Anh có cảm giác như là bàn chân trái của mình vẫn còn đó không?

GF: Các ngón chân chắc chắn vẫn cảm giác như ở đó, và cả gan bàn chân tôi nữa, nhưng tôi không cảm nhận gì về phần còn lại.

SK: Anh đã tìm cách giải toả cơn ngứa ở phần chân đã mất như thế nào?

GF: Tôi không biết. Nhưng nếu các ngón ở chân đã cắt cụt lên cơn co rút mà tôi không biết làm gì, tôi sẽ quay sang phần lành lặn chân phải và gãi ở chỗ các ngón làm phiền tôi ở phần chân trái đã mất. Việc này có vẻ như giúp ích cho cơn ngứa và cơn co rút. Khi họ bảo tôi làm điều này tôi đã nghĩ là họ mất trí, nhưng điều này thực sự dường như có tác dụng.

SK: Việc cắt bỏ các hạch thần kinh có giúp giải toả các triệu chứng trên không?

GF: Sau khi loại bỏ ba hạch thần kinh ở đoạn cuối mỗi dây thần kinh, các cơn đau không xác định vẫn còn, nhưng hoạt động của cơn đau chuyển sang phần đầu cụt. Nó mang phần chân đã mất về gần với phần đầu chi cụt; thay vì cảm giác như cỡ 10, giờ nó cảm giác như cỡ 6. Các ngón chân của tôi cảm giác như thể chúng đang nằm giữa bàn chân tôi. Khoảng một năm sau khi cắt cụt, tôi cảm giác các ngón chân tôi cách đầu cụt khoảng 1 inch, và khi các hạch thần kinh phát triển ở đây, bàn chân vô hình như mọc ra trở lại. Ngay sau khi bị cắt cụt, cảm giác bàn chân đã mất vẫn có kích thước bình thường. Khi cơn đau bắt đầu tiến vào phần đầu cụt, ống chân tôi đau đến nỗi tôi không thể bước đi với nó, nhưng hiện giờ các ngón chân tôi bắt đầu mọc trở lại và tôi cảm thấy chúng ở khoảng phân nửa bàn chân.

SK: Anh có thể cử động các ngón chân đã mất bằng ý nghĩ không?

GF: Tôi có thể cử động các ngón chân ở ngay cuối đầu chi cụt của tôi; ngón chân tôi nằm ngay tại đó. (Bệnh nhân chỉ vào chỗ đầu cụt, và tại đó có thể thấy anh có thể co rút các cơ bằng ý nghĩ, việc này khiến anh cảm giác như thể anh đang cử động bộ phận đã bị cắt.).

SK: Khi anh co rút các cơ ở đầu chi cụt, nó có khiến anh cảm giác như anh đang thực sự cử động chính các ngón chân không?

GF: À, ngón chân cái ở ngay chỗ này. (Bệnh nhân chỉ vào vùng không gian cách đầu cụt khoảng 5 inches.)

SK: Nếu tôi đặt ngón tay gần các ngón bị cụt, anh có cảm nhận như chúng đang được chạm vào không?

GF: Không

SK: Anh có cử động được ngón cái đã mất không?

GF:

SK: Anh có cử động được các ngón nhỏ hơn đã mất không?

GF: Không, tôi không thể cử động riêng mình chúng, nhưng tôi có thể cử động cả bàn chân lên và xuống.

SK: Anh có bị co rút ở bàn chân đã mất không?

GF: Có. Nếu tôi đứng cả ngày trên cái khuôn chân, thì khi tôi thư giãn, các ngón chân bắt đầu co rút. Tôi bị đau nhiều hơn vào ban đêm hơn là ban ngày. Tôi có thể giải toả các cơn đau và cơn ngứa, những tôi không thể tách ngón nhỏ khỏi các ngón bên cạnh chúng ra. Nhưng tôi đã tìm ra một trong những cách nhanh nhất để loại bỏ cơn co rút là nhảy ra khỏi giường và đặt bàn chân đã mất trên sàn nhà. Thỉnh thoảng tôi cũng bị sái mắt cá đã mất.

SK: Anh làm cách nào cho mắt cá chân đã mất bị sai thẳng trở lại?

GF: Tôi không làm gì cả. Tôi chỉ bỏ cái chân giả ra và chịu đựng trong 2 ngày.

Quan sát của DVK về bàn chân trái đã mất của GF như sau:

Dường như đường viền dĩ thái của bàn chân trái thể vẫn thực sự hiện diện ở đó. Tôi không hiểu gì về sự tụ tiêu—không có gì nhiều đã được loại bỏ ở đây. Nó rất gần với vị trí của bàn chân thực sự. Năng lượng dĩ thái từ đầu cụt vẫn sản sinh ra đường nét cho các ngón chân và bàn chân, và thực sự không nghi ngờ gì vẫn tồn tại một bàn chân thể dĩ thái. Anh ta nói anh ta luôn cảm thấy bàn chân ở đó, và tôi nghĩ điều này là chính xác. Khi anh ta nói cảm giác như thể một ngón chân gấp lên một ngón khác, tôi không nghĩ nó thực sự xảy ra như vậy, mà có vẻ như đó là một “đoạn xoắn” ở năng lượng thể dĩ thái khiến bàn chân thể dĩ thái bên trái không cân bằng. Năng lượng này dường như là phóng ra xung quanh phần bàn chân đã mất không theo quy luật nhất định, do vậy, xuất hiện sự bất thường như một đáp ứng trong dòng năng lượng đi lên và xuống dọc ống chân thực sự. Vì ống chân này là máu và thịt, nên chắc chắn có sự trao đổi năng lượng với bộ não, và khi anh đung đưa chân thì có một kết nối với cột sống ở đây. (DVK sau đó chỉ ra vùng thắt lưng). Tôi nghĩ đây là chỗ gây ra tình trạng khó khăn.

Mối liên kết của một xung lực thần kinh đến từ cả ống chân và cột sống. Xung lực để đung đưa chân của anh ta, cũng như cơn đau mà anh cảm nhận ở phần bàn chân đã mất bắt nguồn từ cột sống. Ở bệnh nhân này có một quy luật rõ ràng về sự gắn bó mật thiết đến ý nghĩ về bàn chân trái của anh ta; một mặt, anh ta chưa từ bỏ suy nghĩ đó, bởi vì anh ta vẫn chưa tự nhìn nhận “Tôi là người bị mất một bàn chân.”.

Tôi tự hỏi có nên không có một sự huấn luyện dành cho những người bị cắt cụt chi để giúp họ chấp nhận sự mất mát một chi. Bệnh nhân này chỉ bị cắt một phần của bàn chân vật lý, vì vậy, về mặt dĩ thái vẫn tồn tại gót chân và đường viền hình bàn chân nằm không xa chỗ đầu cụt. Đường nét của năm ngón chân đã mất rất rõ ràng—rõ hơn phần gót chân.

Bệnh nhân chắc chắn tuyệt đối rằng anh cảm nhận đường nét của bàn chân mình, nhưng anh bị đau rất nhiều vì cơn co thắt và cảm giác một ngón chân vắt qua ngón kia. Về mặt dĩ thái, tôi không nhìn thấy các ngón chân vắt lên nhau nhưng tôi có thấy một sự mất cân bằng của năng lượng dĩ thái giữa các ngón chân, mà tình trạng này gây ra sự mất cân bằng tương tự ở một bên của ống chân. Điều này có thể do một số nguyên nhân vật lý khác nhau. Bệnh nhân nói rằng anh ta cảm thấy đau hơn khi anh thư giãn, một tình trạng tôi không thực sự hiểu. Tất nhiên, thực tế là việc anh luôn luôn nghĩ về bàn chân không tồn tại nữa của mình tạo nên một phản ứng trong não bộ của anh, và điều này tái kích hoạt chuyển động của năng lượng cột sống. Có một hoạt động phản xạ giữa các dây thần kinh, cột sống và hình ảnh trong tâm trí về cơn đau. Điều này có thể là một sự thật chưa được công nhận hoàn toàn.

SK: Bà có thấy về mặt dĩ thái thì những ngón chân đã mất nằm cách chỗ đầu cụt bao xa không? Có phải 5 inches tính từ gót, tầm như vậy?

DVK: Với tôi chúng nằm ở vị trí bình thường, không ở chỗ anh ta cảm thấy chúng ở đó. Bàn chân có thể trông hơi nhỏ hơn và chặt hơn.

SK: Điều gì khiến bà nghĩ rằng cột sống có vai trò trung gian quan trọng giữa bàn chân đã mất và mô thức não bộ?

DVK: Trước hết, sự thật là không có ngón chân nào cả. Nhưng chắc chắn có một mối liên hệ giữa cột sống và ngón chân đã mất. Tôi nghĩ rằng điều này rất là bất thường.

SK: Bà đang nói về mặt dĩ thái ư?

DVK: Đúng vậy. Tôi đang cố gắng giải thích làm thế nào anh bạn này cảm nhận được cơn đau. Tôi bắt đầu bằng ý tưởng kiểu suy diễn rằng phản ứng này đều xảy ra trong não bộ, rồi sau đó tôi nhận ra tôi đã hoàn toàn sai làm, vì khu vực của cơn đau có liên hệ rất gần gũi với cột sống. Chắc chắn có một mối liên hệ giữa mô thức trong não và cột sống, nhưng trong trường hợp này, thì cột sống là chủ yếu.

Tóm lại, những ngón chân đã cụt của GF thì nhìn sáng sủa hơn phần gót chân, cho thấy chúng có nhiều năng lượng hơn, và quan trọng hơn với bệnh nhân này. Luân xa phụ ở bàn chân vẫn được trông thấy, mặc dù nó không lớn hơn một cái ghim là mấy, và chính điều này đã gây nên rắc rối. Thông thường, không có khác biệt nào giữa gót chân và các ngón chân về mặt năng lượng dĩ thái, ngoại trừ có nhiều dòng chảy hơn ở các ngón chân.

Một trường hợp hơi khác nữa là trường hợp của EP, 64 tuổi, chịu đựng bệnh đái tháo đường. Hoại tử phát triển ở chân phải của ông do tuần hoàn máu kém, và nó được cắt đi vào tháng 8 năm 1969.

Bệnh nhân phát triển cơn đau ở phần chi đã mất ngay sau cuộc cắt bỏ. Ông cảm giác muốn gãi các ngón chân và gan bàn chân, và nhiều lúc có cơn đau như thể các ngón chân bị xoắn lại và các cây kim cắm vào gót chân. Cảm giác ngứa hạn chế ở phần lòng bàn chân phải và hai bên cạnh của ống chân phải. Ông phát hiện ra rằng gãi ở chỗ chân trái bình thường giúp giải toả cơn đau và ngứa ở bên chân phải đã mất. Ông cũng nhận ra rằng khi cơn ngứa xảy ra vào ban đêm, nếu ông bật đèn lên, ông có thể thuyết phục bản thân mình rằng bàn chân không còn đó. Điều này dường như làm ngưng cơn ngứa hiệu quả hơn bất cứ cách nào khác. Qua thời gian, ông ngừng lo lắng về phần chi đã mất và nhận thấy tình trạng tốt dần lên.

Ông được gặp chúng tôi lần đầu vào ngày 13 tháng 5 năm 1970, khi đó, phần chi đã mất gần như đã biến mất. Ông không còn ý thức về nó. Không còn cơn co rút hay xoắn cơ, cũng như việc bàn chân, cổ chân đã bị cắt không còn làm ông bận tâm nữa.

DVK quan sát thấy chân đã mất, và thậm chí các ngón chân, vẫn hiện ra với một đường viền xung quanh mờ nhạt trong thể dĩ thái. Nó trông như thể có ngày càng ít năng lượng chảy xuyên qua nó. Khi so sánh với trường hợp của GP, DVK để ý đặc biệt thấy không có một hình tư tưởng nào gắn vào chi đã mất của EP, và ông dường như không có một sự gắn kết cơ bản nào về ý tưởng có một cái chân. Não bộ chỉ bị ảnh hưởng rất ít, và việc đó giải thích tại sao không có nhiều cảm giác. Năng lượng dĩ thái ở chân bình thường khá là trong, với một vài chỗ hơi suy yếu.

Vì bệnh tiểu đường của ông, chúng tôi cũng quan sát tuyến tuỵ và tùng thái dương. Luân xa này mờ nhạt hơn rất nhiều mức trung bình, không có màu đỏ và rất nhiều màu xám. Lá lách thể dĩ thái cũng thể hiện màu xám đáng kể, điều này cho thấy một trường hợp tiểu đường nặng. Các tuyến nội tiết cũng bị ảnh hưởng và biểu hiện màu xám, cho thấy quá trình tiến triển căn bệnh.

DVK bình luận dựa trên thực tế rằng, vì chân của ông ta bị hoại tử, một tình trạng diễn ra từ từ, và vì vậy, nó không gây sang chấn tâm lý như một vết thương bất ngờ với một người đang ở tình trạng khoẻ mạnh, EP có thể đã trở nên quen với ý tưởng về việc một chân sẽ bị cắt bỏ. Điều này có thể làm giảm sức mạnh của hình tư tưởng về cái chân đã mất của ông. Ông dường như đã chuyển toàn bộ tư tưởng và cảm giác về nó đến cái chân còn lại. Điều này có vẻ như sự gắn bó mật thiết với ý tưởng về một chi là một yếu tố quan trọng trong nghiên cứu về các chi bị cắt.

Gây mê và phẫu thuật

Bác sĩ Bert Cotton sau này, một bác sĩ phẫu thuật tim, cho phép chúng tôi quan sát những bệnh nhân của ông sau phẫu thuật, những người đã ở các giai đoạn phục hồi khác nhau sau khi được gây mê toàn phần.

Ở những người hoàn toàn không còn ý thức, DVK quan sát thấy trường dĩ thái bị vắt hay đẩy lên khiến nó bay xung quanh vùng đầu, nhưng không hoàn toàn thoát ra khỏi cơ thể vật lý. Ở những người bắt đầu hồi phục phần nào, trường dĩ thái bắt đầu chuyển động đi xuống đến phần thân cơ thể, và ở những người tỉnh táo hơn, thể dĩ thái dần trở lại xuống chân họ. Cũng cần lưu ý là về mặt y học và bệnh học thì bàn chân là bộ phận cuối cùng lấy lại được cảm giác sau khi gây mê.

Vì những khó khăn trong việc có được sự cho phép để quan sát các bệnh nhân hậu phẫu, chúng tôi quyết định là con đường sẽ dễ dàng hơn khi đến một bệnh viện thú y để nghiên cứu. Bác sĩ David Weule đã rất hợp tác khi cho phép chúng tôi sử dụng các trang thiết bị ở bệnh viện.

Trước hết, chúng tôi cần nói rằng động vật có hệ thống luân xa tương tự như ở con người, mặc dù các luân xa thì có khác về kích thước, màu sắc và các đặc tính khác. Ở chó, các trung tâm lực kích thước khoảng 2cm, và luân xa sáng nhất về mặt dĩ thái là luân xa xương cùng. Về mặt vật lý, tiểu não cho thấy ít hoạt động và tuyến tuỵ thì nhỏ, hơi sáng và nhiều máu.

DVK được yêu cầu miêu tả một trường dĩ thái động vật và nhận dạng nơi bà nhìn thấy những bất thường chỉ ra bệnh tật. Những quan sát của bà sau đó được so sánh với chuẩn đoán của bác sĩ Weule. Trong một số lần, bà chỉ ra những bất thường ở động vật mà bác sĩ Weule vẫn chưa xem xét tới, và những lần này đều được khẳng định sau đó vài ngày hoặc vài tuần.

Chúng tôi cố gắng hiểu được đặc tính của trường dĩ thái trong cả trường hợp gây mê toàn phần và gây mê cục bộ, cách cảm giác đau được ngăn chặn và trạng thái mơ màng diễn ra, điều gì xảy ra với trường dĩ thái khi một khối u hay cơ quan bị cắt bỏ (như trong trường hợp cắt buồng trứng), quá trình phục hồi diễn ra như thế nào, và ảnh hưởng của thuốc tác động lên thể dĩ thái.

Trong một quy trình sử dụng gây mê cục bộ (khi 1 phần trăm Lidocaine Hydrochloride được tiêm vào da), DVK quan sát thấy dòng chảy năng lượng dĩ thái bị suy giảm cục bộ, và có một vùng mờ nhạt tăng lên trong não dĩ thái.

Một con mèo với một khuôn mặt bị sưng được điều trị bằng thuốc DMSO (Dimethylsulfoxide). DVK nhận thấy hợp chất hoá học ngấm vào cấu trúc cơ bản của da và làm sạch các kênh dĩ thái nhanh chóng. Điều này có thể giải thích hiệu quả của thuốc trong việc giảm sưng tấy nhanh chóng khi được dùng ngay tại chỗ sưng.

Một con mèo khoẻ mạnh được cho hít khí ether để quan sát sự khác biệt giữa loại này và các loại khác của việc gây mê. Không biết thông tin gì trước đó, DVK nói chính xác rằng con mèo này bình thường về mọi mặt. Sau 15 phút, dòng năng lượng dĩ thái trong cơ thể bắt đầu chậm lại; sau khoảng 20 phút, năng lượng được thấy phục hồi về tốc độ chảy bình thường, và cuối cùng, hai chân trước của con mèo bắt đầu chuyển động. Nó có thể đi lại gần như ngay sau đó.

Khi thuốc gây mê Pentothol được tiêm vào tĩnh mạch, thể dĩ thái bị đẩy ra khỏi cơ thể của con vật và trở nên định vị tại vị trí trên đầu nhanh hơn trong trường hợp khí ether. Tuy nhiên, một số liên hệ giữa cơ thể vật lý vẫn duy trì. Quan sát này giải thích những hiệu ứng của Pentothol khi sử dụng trên người, vì việc mất đi ý thức diễn ra nhanh chóng và dễ chịu.

Sandy, một chú chó giống Sheltie 4 tuổi, trải qua phẩu thuật cắt buồng trứng, và một liều 4 grains thuốc gây mê Pentothol được từ từ tiêm vào da. DVK nhận thấy “thuốc làm mờ đáp ứng của não thể dĩ thái và làm chậm mô hình năng lượng của nó, đồng thời, có một tình trạng mờ nhạt toàn thể trên thể dĩ thái khắp cơ thể.”. Sau vài phút, con chó bắt đầu nhận khí metophane qua đường thở. Kết quả là trường dĩ thái quanh đầu trở nên mờ nhạt hơn, và sự tiếp xúc với cơ thể vật lý lỏng ra hơn. Trong vòng 5 phút, thể dĩ thái trở nên càng ít sáng và bị đẩy xa lên phía đầu. Mọi thứ trong cơ thể vật lý dường như hoạt động chậm lại.

Trước khi ổ bụng của chú chó được mở ra, DVK thông báo buồng trứng bên phải hơi lớn hơn bên trái. Bác sĩ Weule bắt đầu phẫu thuật bằng việc cắt da vùng bụng để loại bỏ tử cung và buồng trứng. Khi ông tiến đến buồng trứng, ông xác nhận quan sát của DVK là buồng trứng bên phải hơi lớn hơn và có nhiều nang hơn buồng trứng bên trái.

Trong khi việc cắt bỏ tử cung và buồng trứng bên phải diễn ra, DVK nhận thấy mẫu hình năng lượng dĩ thái cũng bị cắt, và dòng chảy năng lượng dĩ thái đến khu vực này bị gián đoạn. Phần bị cắt bỏ trở nên mờ nhạt và rất ít sinh lực. Buồng trứng bên trái sau đó cũng được cắt bỏ.

Sau cuộc cắt bỏ, thuốc gây mê bắt đầu giảm tác dụng. Mẫu hình dĩ thái của các buồng trứng và tử cung đã bị cắt bỏ thay đổi nhanh chóng, lúc đầu trở nên mờ tối hơn, sau giảm dần, và biến mất trong khoảng thời gian ngắn.

Trong khoảng nửa giờ đồng hồ, khi ổ bụng đang được khâu lại, DVK quan sát thấy các bộ phận bên trong của chú chó bắt đầu bù đắp ngay lập tức, và các kênh hay đường năng lượng dĩ thái bắt đầu tạo ra các mạch vòng mới nơi tử cung và hai buồng trứng đã được cắt bỏ. Điều này tương tự với mô hình chúng ta thấy về mặt y học khi nguồn cung cấp máu bị loại bỏ hay ngăn chặn thì các mạch máu mới bắt đầu thành hình—nhưng quá trình này diễn ra lâu hơn.

Tiếp tục quan sát não bộ dĩ thái của chú chó cho thấy độ sáng của nó trở lại dần dần khi thuốc mê từ từ tan hết. Cần chú ý ở đây là mẫu hình thể dĩ thái ở chó đơn giản hơn ở người rất nhiều: nó tan rã nhanh hơn nhưng cũng thu về nhanh hơn như khi việc khâu vết mổ được hoàn thành. Điều này có thể giải thích tại sao động vật phục hồi nhanh hơn chúng ta. Sau khoảng một giờ, mẫu hình thể dĩ thái tại khu vực bị cắt bỏ bắt đầu tái thiết lập chính nó, mạng lưới dĩ thái co lại, cho thấy quá trình phục hồi đang tiến triển rất nhanh. Ngược lại, đối phần dĩ thái của hai bộ phận đã được cắt bỏ biến mất nhanh chóng và trở nên về cơ bản không tồn tại trong vòng một giờ.

Trong một trường hợp khác, DVK quan sát một chú chó săn Đức đã bị ốm 3 tuần. Bà nhận thấy con vật đang cố gắng chống chọi với tình trạng viêm nhiễm. Sinh lực ở mức thấp, hai quả thận hoạt động không tốt và chú chó đang chịu đau đớn. Luân xa tùng thái dương bị rối loạn nghiêm trọng và không thể hoạt động, gây nên cơn co thắt đau đớn. Thể dĩ thái thì mỏng ở khu vực này.

Nhìn vào con vật thứ 3 có vẻ đang rất đau ốm, DVK tiên lượng nó không thể sống sót vì thể dĩ thái đã giảm về mặt sinh lực và rời ra khỏi thể vật lý như thế nó đang trong trạng thái bị gây mê. Điều này cho bà biết cái chết sắp xảy ra, điều này sau đó được bác sĩ thú ý xác nhận.

***************************************************

XIII. Effects of Drugs and Other Modifiers of the Fields

From the description of the etheric given in Chapter IV, it should be clear that this field is material in a sense which is quite different from either the astral or mental, since it is inseparable from the physical body and perishes with it at death.

Clairvoyants have repeatedly stated that in their experience physical factors or materials do not modify the etheric field. Yet they also report that liquids and gases as well as solids have etheric counterparts. In fact, the etheric field is said to be subdivided into several categories, the densest of which is associated with physical solids, while the more rarefied are nonphysical. Some observers have even postulated that the electron is an aspect of the etheric.

If any of the above is true, there must be physical factors that could modify the etheric field. One of our early experiments has bearing on this question. DVK was taken to the Presbyterian Medical Center in New York City to observe both normal and radioactive iodine solutions. Both of these are as crystal clear as water, and DVK was not told which tube contained the radioactive solution. However, when she observed them clairvoyantly she immediately picked out the radioactive tube as having more etheric luminosity than the normal iodine solution.

The technician was then asked to place the radioactive iodine test tube in the lead well, which is a container that inhibits the radioactivity’s escape into the atmosphere. After a few minutes, DVK reported that the luminosity inside the lead well had increased. At first this effect seemed inconsistent, since the lead casing was supposed to be inhibiting the escape of the radioactivity. Therefore, how could DVK say it had increased? On second thought, however, this observation made a great deal of sense. To DVK’s etheric vision, the lead container was no impediment whatsoever; she saw right through it. Since the radioactive iodine constrained by the lead well could not escape as it would under normal conditions, its etheric luminosity was enhanced.

Attempts were made to use other experimental methods in order to discover what materials or solutions, if any, could modify the etheric field. The following examples may at first sight appear very simple, but they help us to understand both the potential and the limits of etheric vision.

Two cups of water, one cold and one warm, were placed two feet away from DVK in a dark room, and she was asked to describe them etherically. She said that one of the cups showed a slight increase of etheric energy on its surface, and she therefore assumed that it was the one containing warm water. This was correct.

DVK observed that manmade materials, such as nylon and dacron, partially inhibit the freedom of the etheric flow, which may be why some people find them uncomfortable to wear. She perceived the reverse to be true with respect to cotton, wool and silk.

Sound, Light and Magnetism

Some people are sensitive to very high or very low sound frequencies. Similarly, certain sounds can make us edgy and restless, while others soothe and harmonize. The beat of rock music affects people in different parts of the body, and may be physically or sexually stimulating.

Some report feeling musical vibrations throughout their bodies; others feel them in the arms or legs, back or head. It is well known medically that a person who listens to very loud music over a period of time may damage the hearing for certain frequencies, resulting in partial tone deafness. Classical or religious music, on the other hand, may stimulate the heart and/or the crown chakra.

Certain sound frequencies are being used today both in medical diagnosis and therapeutic procedures. We can cut with ultrasound, shatter a kidney stone, liquify a cataract, and photograph the maturing of an ovum or the deposits of calcium in an artery. Undoubtedly, when it is properly understood, sound will be used in the healing and repairing of tissues. But for these advances we need to know more about the effect of sound on biological systems.

Sunlight in small amounts is very beneficial and increases the etheric vitality, but a prolonged exposure to the sun tends to deplete one. Colored lights have varying effects. Yellow and gold light energizes; blue is soothing in cases of infection, reduces pain and lowers blood pressure; green has a harmonizing effect on the etheric. DVK observed that when yellow light was shone on a dog in shock it had a vitalizing effect on the animal’s etheric field.

In this connection, it should be noted that there is some difference in the effects produced by the physical use of colored light and the mental visualization of the same color, although the visualization of blue light is effective in pain relief. The form in which the color is used or visualized—such as a circle, a cross or a triangle—may also produce different effects. More research is needed to clarify this area of study. Fluorescent lights produce unpleasant sensations in some sensitives. For example, one healer, FF, could not stand fluorescent light on her hands.

Over 130 years ago, Reichenbach reported the effects which magnetic fields had on some sensitives. He found that those who could feel the presence of a magnet of certain strength, when it was moved up and down the spine without touching the skin, were also sensitive to weather changes and magnetic storms. A few of these sensitives could sleep comfortably only in a north/south position. Unfortunately, we were unable to test DVK’s perception of the influence of magnetic fields on any patients.

Geological Factors

A few subjects have reported suffering a depletion of vitality when visiting certain places, either in a city or in the country. They usually have an urge to leave the spot quickly, and after doing so feel revitalized. Two persons known to be sensitive felt very peculiar when visiting so-called magnetic spots; they were slightly nauseated and unable to drive a car for several hours. EP was a sensitive who used her body’s responses in dowsing, not only for water but also for minerals and archaeological finds. Another man, a petroleum geologist, reported that he knew where oil was to be found because he felt certain specific sensations in his feet when standing on the ground above it.

Human energy exchange should also be mentioned. It has already been explained that some people with whom we come into close contact can modify our energy fields, either by enhancing or sapping our vitality. This holds true also on the astral and mental levels, for some people are able to uplift our emotions and stimulate our minds, while others deaden and deplete us. This ability will be discussed further in the chapter on healing.

Painkillers

DVK was asked to observe throughout a day the changes in a subject before and after taking Bufferin to alleviate pain. The patient had twisted his right hip while entering a taxi in heavy traffic, and the pain which developed had persisted for several months. While sitting or walking, he felt tightness and pain stretching from the right sacrum or vertebrae in the pelvis to the back of the right thigh and calf of the right leg, but no pain while lying flat.

DVK noted that a sense of pressure had developed along the sacroilliac nerves, which were somewhat irritated, and this produced a swelling. This resulted in pressure on the nerves, which gave rise to the pain when the subject walked or bent over. DVK reported that all the joints were normal, an observation later verified by X-rays. In her opinion, the main problem was in the tendons and muscles, which had been overstretched like an elastic band. There were spurts of broken energy flow, indicating a mild local irritation. The etheric circulation appeared to be reduced around the middle of the thigh, and even more so in the middle of the calf. There was an interruption every few minutes in the flow of etheric energy from the hip to the ankle posteriorly, and thus there was too little energy to nourish the muscles.

Fifteen minutes after the subject took two Bufferin tablets, DVK noted a change in the etheric energy pattern in the region of the brain slightly above the pituitary gland, and this affected the electrical pattern. There was also an increase in the brightness of the energy. The Bufferin seemed to have altered the rhythm of the incoming and outgoing stimuli. A change in the circuitry altered the stimuli coming from different areas of the body. As the energy flowed down the right limb, the impulses seemed to slow down and some dullness was observed. The condition was not cured, but the irritated areas appeared more relaxed. The brain seemed very active, but the Bufferin slowed down the energy to a very small degree in part of the etheric brain, which helped to relax the muscles. The blood flow became more normal, and the rhythm regular.

In half an hour there was further improvement. By then the etheric energy was flowing freely, smoothly and without impediment. The two points that had been observed to be slightly irritated were much better.

After six hours, there was a change in the pattern of etheric energy in the brain. Uneven and jerky impulses were being sent from the sacroilliac region to the brain. In return, the etheric brain tended to send more energy back to the area of pain.

DVK’s observations of the effect of Bufferin on the painful muscles was correct in the sense that the patient experienced relief of pain that coincided with changes in the pattern of etheric energy. The pain did return after six hours. In all probability, the area near the pituitary gland DVK referred to is the hypothalamic, and it was here that changes helped increase the flow of blood to the muscles which were lacking etheric energy, relaxing them and thus relieving the pain.

Thorazine

Thorazine (chlorpromazine hydrochloride) is a substance which acts as a depressant of the central nervous system and is employed as a sedative and antiemetic. It also quiets severely excited psychotic patients.

VJ, a married woman of twenty-five with two children, was seen by us in 1979, following an attempted suicide. She was diagnosed as manic-depressive with visual and auditory hallucinations. (See Chapter XII for a fuller discussion of this case history.) After a subsequent suicidal attempt, in which she tried to burn down her home and family, she was observed a second time. VJ was admitted to a mental hospital for several months and then discharged with the recommendation that she take 400 milligrams of Thorazine daily. This seemed to decrease her hallucinations.

Our question was: How does Thorazine act, and what is its mechanism in inhibiting the hallucinations of the mentally ill?

The patient was observed for some time before she took the medication. DVK noted that all the colors of the astral body were disturbed and that her solar plexus was loose and open, causing her to interact excessively with other people. The chakra was unstable, moving too fast, dys- rhythmic and abnormally reddish in color. The astral field showed that the rejection system was damaged. The astral body was unstable, and the movement was from left to right, indicating pent-up anger. The colors were dark and muddied and constantly changing. At 4:00 P.M. the patient took 400 milligrams of Thorazine and was observed twenty minutes later by DVK. Since Thorazine is a chemical compound, it has its own etheric counterpart, as does everything in nature. The etheric Thorazine seemed to affect the brain as well as slowing down the brow and throat chakras. This in turn seemed to affect the optic nerve, the hypothalamic region and the pituitary gland, dulling the mechanism of auditory and visual perception. As this was taking place, the patient began to show improvement, although she was still shaken by the memory of her attempt to set her house on fire and her subsequent stay in the mental hospital.

After half an hour, the Thorazine affected all her vehicles, and especially the astral body. The throat and brow chakras were grayer, indicating a slowdown in their activity. Likewise, the pineal gland and the region of the hypothalamus decreased their activity and function, as indicated by a gray color in these areas. The solar plexus chakra was also affected.

In summary, Thorazine s action seemed to decrease the brightness of the etheric body and to depress and close the astral as well as the mental vehicles. This may explain how Thorazine helps the mentally disturbed by blocking and fogging their etheric and astral fields, thus decreasing visual and auditory hallucinations. As DVK’s observations continued, the effect of Thorazine was seen to spread to all three vehicles—mental as well as astral and etheric.

Drug Addiction

Probably the most acute social problem facing us today is the widespread use of narcotics and other addictive drugs. Although the data we have to offer are tenuous, scanty and incomplete because of the difficult circumstances under which we had to work, we offer it in the hope that it may stimulate others to engage in further research in this critical field. We were unfortunately not able to get access to a subject in an acute state of drug intoxication, nor were we able to observe the withdrawal syndrome.

In May, 1970, we made several visits to an outpatient clinic which convicted criminal addicts on parole were required by law to attend. During these visits, we monitored their pupilary reactions, signs of needle pricks and urinary tests. We were able to sit among the addicts, and DVK randomly selected the ones to be observed.

The first case was that of a thirty-year-old white man. The most striking features DVK observed were the etheric solar plexus, throat and brow chakras. The solar plexus center was the most disturbed, as indicated by the presence of a considerable amount of gray and red in both the core and petals. There was an erratic flow of energy around the core, with some breaks in the flow pattern as the energy moved in and out of the chakra. In addition, there was leakage of the etheric energy. The elasticity was slack, and the petals were both loose and coarse.

In the throat chakra, the core was tight and dysrhythmic but its periphery was loose and lax, while the petals’ periphery was both loose and coarse.

The etheric brow chakra indicated that the pituitary gland was functioning abnormally. It was ejecting a current of energy in a way not usually observed, and it seemed more active than the rest of the etheric. This raised the question of whether the state of drug euphoria would be accompanied with hallucinations or “seeing things.” Whatever he perceived as visual sensations would be distorted, but not necessarily seen as pictures.

The etheric crown chakra was small and slow.

Because of the patient’s stress, he had used up a great deal of etheric energy, so that at the time the observations were made both the liver and the adrenals appeared to be underfunctioning.

The astral body showed a great deal of emotional disturbance and tension, with a tendency to do whatever occurred to him so long as it didn’t involve much effort. There was a low degree of mentality.

In the case of the second patient, a man of forty, the etheric solar plexus chakra was very disturbed, and the vortex was redder in color and faster moving than with the first patient. The center was dysrhythmic, and there was unevenness in the etheric flow. On the other hand, the adrenals were more active than in the first case, and even in a state of agitation. Because of this, DVK assumed that the addiction of this patient was of more recent origin than in the first case.

The core of the etheric throat chakra was tighter than in the first subject, but the petals were looser. Here again, the etheric crown chakra was small and slow. This patient was more dangerous because he had very little self-identity and could therefore be easily influenced. He was very restless, emotionally disturbed and without much self-control.

The third patient was a black man aged thirty. In his case, the etheric solar plexus chakra was more elastic and the petals were loose, dysrhythmic and leaking etheric energy intermittently. The patient showed a tendency to swings between extreme depression and euphoria, fluctuations which were indicated by changes in the solar plexus. The core of the etheric throat chakra was dysrhythmic and loose on its periphery. This affected the levels of energy in both the adrenals and the pituitary gland. The adrenals indicated that the patient had been under great stress for some time, and consequently they were not as active as normal. The etheric crown chakra was also very small and slow. The functioning of the pituitary gland was abnormal, which led to distortion in his perceptions.

The fourth patient was a young Mexican man. Here the etheric solar plexus chakra was dysrhythmic both in the core and in the petals, but to a lesser degree than in the previous patients. The color, however, was a very unpleasant red, with flashes of the same color in the petals. The adrenals were partially overstimulated, and the thyroid indicated some disturbance. The etheric brow chakra seemed faster than normal, but it was beginning to slow down. He did not seem as excited or disturbed as some of the other patients. We did not know, however, the duration of his addiction, nor the length of time he had been free from drug-taking.

In drug addiction, it is as important to treat the imbalance in the astral body, i.e. in the emotions, as it is to treat the etheric. Addicts who were healed at Katherine Kuhlman’s meetings received a tremendous astral impact and this helped to change the direction of their emotions. At the same time, healing was taking place at the etheric level, and the simultaneous application of etheric and astral energies seemed to speed up the mechanism of restoration to health. This mechanism was missing in the addicts observed at the outpatient clinic.

In summary, the most outstanding finding in these cases of drug addiction was the dysrhythmia in both the core and the petals of the etheric solar plexus chakra, which affected the whole etheric body. The shade of red, seen in the form of flashes of gray and red or orange and red, differed from that seen in cancer patients, as described in the appendix, where the red was more scarlet. Furthermore, there was a definite decrease in the brightness of the etheric solar plexus chakra, and the leakage there made the patients feel permanently tired. In every case, the adrenal function was lowered.

At the astral level, the solar plexus chakra was greatly disturbed in addicts, with an erratic emotional pattern and periodic lack of energy. In addition, there was disturbance in the relationships between the thyroid, the adrenals, the pituitary gland and the hypothalamic region. The latter tended to produce a type of hallucination, and a loss of the sense of proportion. This dysrhythmia may be temporary, and it might disappear if the patient becomes free of the addiction.

Although these data need further verification, it appears that the effects of narcotics such as morphine and heroin begin at the etheric level and then reach the physical. Obviously opiates are medically useful and necessary, but even with limited use the bridge between the nervous system and the nadis or etheric channels is weakened. Continued use of opiates affects the chakras, and that is when addiction begins. The direction of movement within the chakras is reversed by the drug, and it is this that causes the addiction. In turn, this physiological change in the chakras produces a condition of fear and anxiety in the patient.

XIV. Effects of Surgical Excision

Now that procedures for organ replacement have become so widespread in treating malfunctions of the heart, kidneys and even lungs and liver, the observations we made on the effects of surgery on the etheric field and chakras should have particular interest. Patients who undergo such surgery are forced to take medication to prevent the rejection of the transplanted organ by the body, which regards it as a foreign element and attempts to destroy it. Our research may offer a clue to one of the many factors that determine the rejection syndrome.

In one case of a transplanted kidney, it was observed that the etheric texture of the new kidney did not match the recipient’s etheric field in quality; the two did not mesh. The question arises: Is the acceptance or rejection of transplanted organs to some degree dependent on the quality of the etheric of the patient and of the transplanted organ? Could a clairvoyant such as DVK perceive in advance whether rejection would take place and why, and how the rejection mechanism works? This is an interesting problem for research.

In 1984, DVK was taken to observe the patient MB, aged twenty-seven, who had received a kidney transplant in December, 1978, and was hospitalized for a checkup. The main objective was to observe the etheric characteristics and quality of the transplanted kidney as compared with the general etheric field of the patient.

DVK described the etheric of the transplanted kidney as being coarser in texture than the rest of the recipient’s etheric body. She remarked, “It is strange to see different qualities of etheric substance in the same person. There is something very odd about the energy in the kidney, as it seems to fluctuate.’’

The color was darker than the rest of the patient’s etheric; the two did not mesh well, and therefore the kidney was not functioning perfectly. DVK also perceived it as being in the front of the abdomen rather than in the back, as is normal. (This observation was correct.) The general etheric was thin and appeared fragmented in the region around the kidney, and the patient had a very low level of energy.

Another of DVK’s observations is pertinent here. She discovered that even after a diseased gland was surgically removed, the chakra related to that gland remained visibly abnormal. This fact may offer a clue to the reason why the disease for which the gland was removed may recur. It seems that only when the pattern of the etheric chakra returns to normalcy can the reappearance of symptoms be fully controlled.

DVK also observed that physical disease may arise in a dimension other than the etheric, such as the astral or mental. As previously suggested, psychosomatic medicine may in time come to embrace these dimensions, and thus consider the harmonics between the centers and their respective energy fields. And, to repeat another observation, we do not yet know the factors that determine which physical organ will be the target for disease associated with an abnormal chakra. (See Chapter XI.)

The term “holistic medicine” is used in various ways today, but it usually refers to the concept of the whole person, including body, mind and emotions—and sometimes the self or spirit. Basically, its practitioners emphasize a number of physical modalities other than drugs, such as homeopathy, acupuncture and physical therapy, as well as visualization and other mental techniques. All these techniques are founded upon the concept that disease is an interference with the basic wholeness of the human being, and that healing is accomplished by the restoration of that wholeness. Disease is thus a state of dissonance within the three fields of the personality, and does not describe the condition of the essential self or soul, which is unchanged by disalignments of body, emotions and mind.

Thus holistic medicine should, in its real sense, refer to the elimination of the causes of dissonance in order to promote the healing process and restore normal functioning. In other words, the purpose of medical intervention is to remove the impediments to self-healing.

Phantom Limbs

The rapid advance of techniques for organ replacement raises questions directly related to the effect upon the etheric field of the removal of parts of the physical body. We addressed this problem by having DVK observe a case of what is known as “phantom limbs,” a common occurrence in those who have had part of a leg or arm amputated.

Are phantom limbs indeed a phantom, or is there some evidence that they are “real”? The patient feels that the amputated limb is still present, and this often causes severe pain, spasms, itching, a burning sensation and abnormal or bizarre positioning. Over a period of time, the phantom limb seems to move upward toward the stump[1]; this phenomenon is called “telescoping.”

Dr. Wilder Penfield of the Montreal Neurological Institute found, in mapping the cerebral cortex of conscious patients during surgery, that the hands and feet have a greater area of representation in the brain than the trunk of the body. Human beings are primarily aware of the fingers and toes, not of the arms and legs. This may have some bearing on the fact that pain in the phantom limb is not illusory; it is a major problem in war casualties and accidents, especially among the young and healthy, for its effects may last a lifetime.

There were several objectives of our investigation. One was to observe a phantom limb etherically, and try to discover why pain, spasms and itching in the phantom limb can be relieved by scratching the healthy normal limb. In the case of chronically ill patients suffering from vascular diseases or diabetes, phantom limbs occur less frequently after amputation and are of shorter duration. What determines the difference between the healthy and the chronically ill patient in such cases? DVK was also asked to note the etheric characteristics of phantom limbs, and how or why massaging the normal limb relieved the pain of the phantom.

GF, a young soldier, stepped on a mine in Vietnam in 1968. The sole of the left foot was damaged, and the foot was amputated just above the ankle in April, 1968. The stump was good, and the heel pad was brought around to make its cushion. The patient was able to use his left foot adequately, but because of phantom pains he was readmitted to the hospital, where the neuromas (masses of nerve tissues in an amputation stump) were removed in the hope of relieving the phantom pains.

We saw the patient in 1970, two months after the last surgery, when the following dialogue took place:

SK: Could you describe the sensation in your amputated foot?

GF: It is a cold feeling—a cold, numb cramp. It feels as if the little toe is sitting on top of the one next to it, and I get pains like a cramp in the arch of my foot.

SK: Do you feel that your left foot is still there?

GF: My toes are definitely there, and so is the arch of my foot, but I cannot feel the rest of it.

SK: How did you learn to relieve the itch in the phantom foot?

GF: I don’t know. But if the toes of the amputated foot go into cramp and I can’t work it out, I go to the good right foot and rub the toes that are bothering me on the phantom left foot. This seems to help the itch or the cramp. When they told me to do this I thought they were crazy, but it does seem to work.

SK: Has the excision of the neuromas relieved your symptoms?

GF: After the removal of three neuromas at the end of each nerve, the phantom pains remained, but the operation changed the pain in the end of my stump. It has brought the phantom foot closer to the stump; instead of feeling like size 10 it feels like size 6. My toes feel as though they were in the middle of my foot. About a year after the amputation, I felt the toes about an inch from the stump, and as the neuromas grew in, the foot extended again. Immediately after the amputation, the phantom foot was normal in size. When the pain started coming into the stump, my leg was so bad I couldn’t walk on it, but now my toes have started going back out and I feel them about halfway through the foot.

SK: Can you move the phantom toes mentally?

GF: I can move the toes on the end of my stump; my toe is right there. (The patient pointed to a place on the stump, and it was observed that he could mentally contract the muscles, which made him feel as though he were moving the phantom limb.)

SK: When you contract the muscles of your stump, does it make you feel that you are actually moving the toe itself?

GF: Well, the big toe is here. (The patient pointed to an area in space about five inches from the stump.)

SK: If I put my fingers near the phantom toes, do you feel that they are being touched?

GF: No.

SK: Can you move the phantom big toe?

GF: Yes.

SK: Can you move the phantom little toe?

GF: No, I can’t move it alone, but I can move the whole foot upwards and downwards.

SK: Do you have cramps in the phantom foot?

GF: Yes. If I am up all day with the cast on, then when I am relaxed the toes go into cramps. I have more pain at night than during the day. I can relieve the cramp or itching, but I can’t separate the little toe from the one next to it. But I have found one of the quickest ways to get rid of a cramp is to jump out of bed and put my phantom foot on the floor. Sometimes I get a sprained phantom ankle!

SK: How do you straighten a twisted phantom ankle?

GF: I don’t. I just take off the artificial leg and suffer for two days.

DVK’s observations of GF’s phantom left foot were as follows:

DVK: It seems that the etheric outline of the left foot is actually there. I do not understand about the telescoping —there wasn’t much removed. It was very close to where the actual foot was. The etheric energy from the stump still produces the outline of the toes and the foot, and indeed there is without a doubt still an etheric foot. He says he always feels that the foot is there, and I think this is correct. When he says it feels as if one toe is folded over another, I do not think this is actually the case, but there appears to be a “kink” in the etheric energy which makes the etheric left foot unbalanced. The energy seems to shoot around the phantom foot irregularly, and therefore there is a corresponding irregularity in the energy flow up and down the real leg. Since this leg is flesh and blood, there is a definite energy exchange with the brain, and when he swings his leg there is a connection in the spine here. (DVK then pointed to the lumbar region.) I think this is where part of the difficulty lies.

The connection of a nerve impulse comes from both the leg and the spine. The impulse to swing his leg, as well as the pain he feels in the phantom foot come from the spine. There is in this patient a strong pattern of attachment to the thought of his left foot; in one sense, he hasn’t given it up, because he hasn’t acknowledged to himself, “I am a man without a foot.”

I wonder if there shouldn’t be some training for amputees in order to help them accept the loss of a limb. This patient only had part of his physical foot amputated, so etherically there was a heel and an outline of his foot not far from his stump. The outline of the phantom five toes is very clear—much clearer than the heel.

The patient is absolutely certain that he feels the outline of his foot, but he has great deal of pain because of spasm and the feeling that one toe is crossed over another. Etherically, I did not see these toes as crossed, but what I did see was an imbalance of etheric energy between the toes, which produced a similar imbalance on the side of the leg. This may have various physical causes. The patient says he feels more pain when he is relaxed, a condition I do not understand completely. Of course, the fact that he is continually thinking about his nonexistent foot sets up a reaction in his brain, and this reactivates the motion of the spinal energy. There is a reflex action between the nerves, the spine and the mental image of pain. This may be a fact which is not fully recognized.

SK: Did you see etherically how far the phantom toes extended from the stump? Was it five inches from the heel, or more, or less?

DVK: They seem to me at almost the normal position, not where he feels them to be. The foot may be a little smaller and tighter.

SK: What made you think of the spine as an important intermediary between the phantom foot and the brain pattern?

DVK: First of all, there is in reality no toe. But there is a definite etheric connection between the spine and that phantom toe. I thought that this was very abnormal.

SK: Etherically?

DVK: Yes. I was trying to figure out how the man felt the pain. I started with a preconceived idea that the reaction was all in the brain, and then I realized I was absolutely wrong, for the area of pain is very closely connected with the spine. There is certainly a relationship between the brain pattern and the spine, but in this case, the spine is primary.

In summary, GF’s amputated toes were brighter than his heel, showed more energy, and were more important to the patient. The minor chakra in the sole of the foot was still visible, although scarcely larger than a pinhead, and this made for trouble. Normally there is no difference between the heel and the toes as respects etheric energy, except that there is more flow in the toes.

* * * * *

A somewhat different case was that of EP, aged 64, who was suffering from diabetes mellitus. Gangrene developed in his right leg due to poor circulation, and it was amputated in August 1969.

The patient developed pain in the phantom limb soon after its amputation. He would feel a desire to scratch his little toe and the bottom of his foot, and at times there would be a pain which felt as though the toes were being twisted and that needles were being stuck into the heel. The sensation of itching was confined to the bottom of the right foot and the lateral side of the right leg. He discovered that scratching the normal left leg relieved the pain and itching in the phantom right foot. He also found that when the itching occurred during the night, if he turned on the light he would convince himself that the leg was not there. This seemed to stop the itch better than anything else. As time went on, he stopped worrying about his phantom limb and found that it became better.

He was first seen by us on May 13, 1970, by which time the phantom limb had almost disappeared. He was no longer aware of it. There were no muscular twitchings or contractions, nor did the amputated foot or leg bother him any longer.

DVK observed that the phantom leg, and even the toes, still showed as a faint outline in the etheric. It looked as though less and less energy was flowing through it. When compared with the case of GP, DVK noticed particularly that there was no thought-form attached to EP’s phantom limb, and he seemed to have no basic attachment to the idea of having a leg. The brain was only slightly affected, and that was why there was not much sensation. The etheric energy of the normal leg was quite clear, with a very slight impairment.

Because of his diabetes, we also observed the pancreas and the solar plexus. The chakra was much duller than average, with no red color and a lot of gray. The etheric pancreas also displayed considerable grayness, which indicated a severe case of diabetes. The adrenals were also affected and showed the grayness indicating a disease process.

DVK commented on the fact that, because his leg was gangrenous, a condition which develops slowly and therefore is not as traumatic as a sudden injury to a person in a healthy state, EP might have become used to the idea of having his leg removed. This could have lessened the strength of his thought-form about his lost leg. He seemed to have transferred all his ideas and feelings about it to the normal remaining leg. It seems that the strong attachment to the idea of having a limb is an important factor in the study of phantom limbs.

Anaesthesia and Surgery

The late Dr. Bert Cotton, a heart surgeon, gave us permission to observe his postoperative patients, who were at different stages of recovery from general anaesthesia.

In those who were completely unconscious, DVK observed that the etheric field was squeezed or pushed up so that it hovered around the region of the head, but was not completely exuded from the physical body. In those whose recovery was partial, the etheric field had begun to move downward toward the trunk of the body, and in those who were more awake, the etheric was gradually returning to their feet. It is worth noting that medically and clinically the feet are the last to regain their total sensation after anaesthesia.

Because of the difficulty in obtaining permission to observe postoperative patients, it was decided that we would have easier access to a veterinary[2] hospital for our research. Dr. David Weule was most cooperative in allowing us to use his hospital facilities.

We should mention first that animals have chakra systems corresponding to those in humans, although the chakras themselves differ in size, color and other characteristics. In dogs the centers are about two centimeters in size, and the brightest etherically is the sacral. Physically, the cerebellum shows little activity and the thymus is small, fairly bright and full of blood.

DVK was asked to describe an animal’s etheric field and to identify where she saw abnormalities that indicated disease. Her observations were then compared with Dr. Weule’s diagnosis. On a few occasions, she pointed to abnormalities in the animals that Dr. Weule had not yet considered, and these were confirmed a few days or weeks later.

We were trying to understand the characteristics of the etheric field under both local and general anaesthetic, how pain is inhibited and numbness produced, what happens to the etheric field when a tumor or an organ is removed (as in spaying[3]), how healing takes place, and what the effects of drugs are on the etheric body.

In a procedure using local anaesthesia (when one percent Lidocaine Hydrochloride was injected intracutaneously) DVK observed that the flow of etheric energy was diminished locally, and there was increased dullness in the etheric brain.

A cat with a swollen face was being treated with a medication, DMSO (Dimethylsulfoxide). DVK noted that the chemical compound penetrated the basic structure of the skin and cleared the etheric channels very quickly. This may explain the effectiveness of the drug in diminishing swelling so rapidly when it is applied locally.

A healthy cat was given ether in order to observe the difference between this and other types of anaesthetics. Without having known it previously, DVK stated correctly that the cat was normal in every way. After fifteen minutes, the flow of etheric energy in the body began to slow down; after another twenty minutes, the energy was seen to resume its normal flow, and subsequently the front legs of the cat began to move. She was able to walk soon thereafter.

When the anaesthetic Pentothol was injected intravenously[4], the etheric was pushed out of the animal’s body and became localized above the head more rapidly than in the case of ether. Some connections within the physical body remained, however. This observation explains the effectiveness of Pentothol for human use, for the loss of consciousness is swift and pleasant.

Sandy, a four-year-old Sheltie, was to undergo spaying, and a dose of four grains of Pentothol was slowly injected intravenously. DVK noted that “the drug dulls the etheric brain’s response and slows its energy pattern, and at the same time there is generalized dulling of the etheric all over the body.” After a few minutes, the dog began to receive metophane gas by inhalation. In consequence, the etheric around the head became still duller, and there was a slight loosening of its contact with the physical body. Within five minutes the etheric became even less bright and was pushed farther towards the head. Everything in the physical body seemed to slow down.

Before the dog’s abdomen was opened, DVK reported that the right ovary was slightly larger than the left. Dr. Weule began the surgery by cutting the skin of the abdomen to remove the dog’s uterus and ovaries. When he reached the ovaries, he confirmed DVK’s observation that the right ovary was slightly larger and more cystic[5] than the left.

At the moment of cutting the uterus and the right ovary, DVK noted that the pattern of the etheric was also being cut, and that the flow of etheric energy to the area discontinued. The cut portions became duller and very low in vitality. The left ovary was then removed.

After the excision, the anaesthesia was diminished. The etheric pattern of the ovaries and uterus which had been removed changed rapidly, first becoming dimmer, then diminishing, and vanishing within a short time.

In about half an hour, when the abdomen was being sutured[6], DVK observed that the internal organs of the dog began to compensate immediately, and that channels or lines of etheric energy began to form new circuits where the uterus and ovaries had been removed. This is similar to the pattern we see medically, when the blood supply is cut or obstructed and new vascular channels begin to form—but this process takes much longer.

Continued observation of the dog’s etheric brain showed that its brightness was returning slowly as the anaesthesia wore off. It was noted that the etheric pattern in dogs is much simpler than in humans: it dies down more quickly, but it also comes together more quickly, as when the suturing was done. This helps to explain why animals recover more rapidly than we do. After one hour the etheric pattern of the excised area began to reestablish itself; the etheric mesh was tightening, indicating that the healing process was proceeding rapidly. In contrast, the etheric counterpart of the two organs that were removed was fast diminishing and became practically nonexistent in an hour.

In another case, DVK observed a German shepherd dog that had been sick for three weeks. She noticed that the animal was trying to fight off an infection. Vitality was low, the kidneys were not functioning well, and the dog was in pain. The solar plexus chakra was very much disturbed and out of function, producing painful spasms. The etheric was thin in this area.

Looking at a third animal that seemed very ill, DVK predicted that it would not survive because the etheric was decreasing in vitality and loosening from the physical body as if under anaesthetic. This indicated to her that death was imminent, which was later confirmed by the veterinarian.

 

 

270 — Tổng số lần đọc 2 — Hôm nay

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *