Quyền năng thông linh cao và thấp (7) — Những khó khăn của nhãn thông

Những điều khó khăn của nhãn thông (Difficulties in Clairvoyance)

C.W. Leadbeater

Trong các bài trước các bạn đã được Chân sư DK giảng giải về quyền năng thông linh cao và thấp. Trong bài này, chúng tôi xin trích dịch bài viết của Ông C.W. Leadbeater về “Những khó khăn của nhãn thông” (Difficulties in Clairvoyance), đăng trong tạp chí The Theosophists năm 1919. Các bạn sẽ có dịp đối chiếu những gì một đệ tử như Ông C.W. Leadbeater viết và những gì mà Chân sư DK giảng dạy. Ông C.W. Leadbeater thường bị một số người phê bình là “psychic”, “không đáng tin cậy”. Tuy nhiên, trong bài này, chúng ta thấy Ông đưa ra những điều rất phù hợp với những gì đức DK giảng dạy về cùng một vấn đề, chỉ có một vài sai lệch nhỏ trong cách đánh giá “nhãn thông (clairvoyance). Chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi Giáo sư Michael D. Robbins nhận định Ông là một điểm đạo đồ bậc 3. Những gì ông viết, tuy còn đôi chỗ sai biệt nhỏ với giảng dạy của đức DK, vẫn có thể giúp người học đạo hiểu thêm giáo lý của Chân sư. Dưới đây là những điểm chúng tôi ghi nhận quan điểm của Ông về psychic powers:
1. Ông cho rằng những người bẩm sinh có nhãn thông là một điều thuận lợi, nhưng ông cũng chú thêm là “nó cũng mang theo nó những vấn đề khó khăn”

Chúng tôi có sự tin tưởng vô cùng chắc rằng việc sở hữu những năng lực thông linh từ khi sinh ra thực sự là một điều lợi. Điều rất rõ ràng rằng đó là một điều thuận lợi trong một số phương diện nào đó, và rằng nó nên là điều thuận lợi trong tất cả phương diện; nhưng kinh nghiệm cho thấy nó thường mang theo nó những khó khăn nghiêm trọng trong thực tế.

Quan điểm này có đôi chút sai khác với đức DK. Ngài dạy rằng “Những quyền năng thông linh bậc thấp được chia sẻ với giới động vật và với tất cả các giống dân kém tiến hoá của nhân loại.” Tuy nhiên, có những trường hợp những người bẩm sinh có năng lực thông linh như nhãn thông, nhĩ thông, lại là những người tiến hóa cao, những đạo đồ, những quyền năng đó là thành quả họ đạt được trong những kiếp trước, và kiếp này chúng tái hiện lại trong bản thân họ. Ví dụ như bà HP Blavatsky, Krishnamurti bẩm sinh đã có nhãn thông. Nhưng phần lớn những nhà ngoại cảm là những người có trình độ tiến hóa không cao, trí tuệ chưa khai mở nhiều, thì câu nói của đức DK ở trên hoàn toàn đúng cho họ. Trong những trường hợp này thì “việc sở hữu những năng lực thông linh từ khi sinh ra thực sự là một điều lợi” không đúng như Ông C.W. Leadbeater.

2. Tiếp đến, Ông nói nhãn thông vô cùng hữu ích, nhưng không quên kèm theo điều kiện: anh phải giữ nó cân bằng với lương tri (common sense) và sự khiêm tốn. Tại sao Ông lại nhắc đến sự khiêm tốn? Vì những người sở hữu nó rất dễ bị ảo cảm do các thực thể cõi trung giới gây ra. Các bạn đọc trong bài sẽ thấy Ông giải thích rõ điều này:

Do đó, nhãn thông hữu ích một cách vô giá trong trong nhiều khía cạnh. Trên tổng thể, tôi nghĩ rằng nó làm cho cuộc sống của người sở hữu của nó hạnh phúc hơn; nó cho phép anh ta hữu ích hơn cho bạn của mình so với khi anh không có nó. Nếu luôn được giữ cân bằng bởi lương tri và sự khiêm tốn, nó thực sự là một món quà tuyệt vời nhất. Bằng ngược lại, nó có thể dẫn đến nhiều điều hại, bởi vì nó có thể đánh lừa cả bản thân nhà nhãn thông lẫn những người tin tưởng vào anh ta. Điều này không xảy ra nếu ta cẩn thận, nhưng nhiều người lại không thực hiện sự cẩn thận thích hợp, và vì vậy xảy ra nhiều điều không chính xác.

3. Ông nói, một nhà nhãn thông khi vận dụng quan năng này trên những cõi giới cao, muốn không bị sai lạc phải thỏa mãn một số điều kiện, bởi vì khi anh mang những ấn tượng (impression) mà anh thấy trên các cõi đó vào bộ óc xác thịt, xuyên qua các cõi trí, cõi cảm dục, cõi trần, chắc chắn phải có sai lệch. Ông lấy ví dụ một người khi khảo sát tiền kiếp của một người khác, anh phải vận dụng nhãn thông của nhân thể. Và thấy được rồi nhưng mang những gì thấy vào bộ óc cần sự kiểm soát cả bốn khí thể (trí, cảm dục, dĩ thái, xác thân). Như vậy, ta thấy một số người tuyên bố  đọc được tiền kiếp của những người khác có đáng tin cậy được bao nhiêu?

4. Ông cũng nhắc đến những người lầm tưởng những hình tư tưởng mà họ tạo ra như những thực tại (realities):

anh [7] bao quanh mình với một thế giới của các hình thể được xây dựng bởi những suy nghĩ và cảm xúc của anh, và sau đó tiến hành xem xét và diễn tả những hình thể này như là những thực tại bên ngoài anh.

Ngoại trừ nhờ trực giác mơ hồ, một người không thể nào phân biệt một hình tư tưởng với một thực tại cho đến khi anh đã được giảng dạy đặc điểm tương ứng của chúng, và có thể vượt lên đủ cao trên chúng để có thể áp dụng các phép thử của mình

Đây là những gì Chân sư DK dạy trong bài trước đây: “họ lầm lẫn phản ảnh với thực tại, bản chính với bản sao, cái do con người tạo ra và cái do thiêng liêng tạo ra.” Thực tế, điều này vẫn luôn luôn xảy ra.
5. Ông kể lại những người bị huyễn cảm trên cõi trung giới, “Họ đến với những câu chuyện điểm đạo tuyệt vời mà họ đã trải qua, về những đấng thiên thần và tổng lãnh thiên thần vĩ đại mà họ đàm đạo thân thiết. Những câu chuyện thường hoang tưởng và tự kiêu đến nỗi cần một sự kiên nhẫn lớn lao để giải quyết tương xứng với chúng…”

Thành ra Ông nói muốn tránh sai sót phải có sự khiêm tốn. Trong bài trước, Chân sư DK cũng dạy cách tránh những huyễn cảm như thế này là thực hành đức khiêm tốn.
6. Một tai hại của những quyền năng thông linh bẩm sinh là khiến người sở hữu nó kiêu căng, cho mình tài giỏi hơn những người khác.

Người sinh ra với quyền năng thông linh thoát khỏi những rắc rối của việc phát triển các quyền năng này; nhưng việc sở hữu nó mang theo nó những cám dỗ đặc biệt riêng của chúng. Y biết và nhìn thấy, ngay từ ban đầu, những gì mà những người khác xung quanh anh không biết và nhìn thấy; vì vậy anh thường bắt đầu cảm thấy mình vượt trội so với những người khác, và anh có một sự tự tin về sự chính xác của nhãn thông của mình, cái mà có thể hoặc không thể chứng minh được

7. Đoạn kết bài viết của Ông chúng tôi nghĩ là một đoạn kết rất hay và đẹp đẽ:

 

Từ tất cả các điều này ta phải nhớ rằng những người bẩm sinh có quyền năng thông linh nên sử dụng chúng với sự cẩn thận lớn nhất. Nếu họ muốn món quà của họ hữu ích và không có hại, trước nhất họ phải trở nên hoàn toàn vị tha: họ phải nhổ sạch thành kiến và định kiến, sao cho họ mở rộng cửa cho chân lý như nó thực sự là; họ phải tràn ngập trong họ với sự bình an vượt qua tất cả hiểu biết,  sự bình an của những ai sống trong vĩnh cửu. Vì đây là những là điều kiện tiên quyết để đạt sự chính xác của nhãn quang; và ngay cả khi đã đạt được điều đó, họ vẫn còn phải học hỏi để hiểu cái mà họ nhìn thấy. Không ai bắt buộc xuất bản rộng rãi những gì anh thấy; không ai bị bắt buộc để cố gắng để nhìn vào tiền kiếp của người khác hoặc đọc lại lịch sử của thời đại quá xa xưa; nhưng nếu anh muốn làm như vậy, anh phải có biện pháp phòng ngừa mà các thế hệ đã qua đã đề nghị cho chúng ta, nếu không anh sẽ bị nguy cơ khủng khiếp dẫn các con chiên theo anh lạc đường, thay vì cho chúng ăn. Ngay cả nhà nhãn thông chưa qua đào tạo cũng có thể làm điều tốt nếu anh khiêm tốn và cẩn thận. Nếu anh ta lầm lẫn một ai đó là một Chân sư (một điều thường xuyên xảy ra), tình yêu và lòng sùng tín khơi hoạt trong anh ta là tốt cho anh; và nếu trong sự nhiệt tình của mình, anh có thể đánh thức cùng một cảm xúc trong những người khác, điều đó cũng tốt cho những người đó. Một cảm xúc cao quý luôn luôn là tốt cho những ai cảm nhận nó, ngay cả khi đối tượng của nó có thể không được như ta nghĩ. Nhưng điều xấu xảy ra khi nhà thấu thị sai lạc bắt đầu cung cấp thông điệp từ các Chân sư giả của mình, những mệnh lệnh có thể không được khôn ngoan, nhưng có thể được tuân thủ một cách mù quáng bởi nguồn gốc được thừa nhận của nó.

Làm thế nào những sinh viên không có nhãn thông, những người cho đến nay chưa thấy gì cho chính mình, phân biệt được giữa cái thật và cái giả? Các tiêu chí an toàn nhất của sự thật là sự vắng mặt hoàn toàn của bản ngã. Khi nhãn quang của bất kỳ nhà ngoại cảm nào có xu hướng luôn ca ngợi một cách tinh tế nhà ngoại cảm đó, những điều này cần đặt dưới sự ngờ vực nghiêm túc nhất. Khi những thông điệp truyền đạt qua một người luôn luôn nhằm phóng đại địa vị huyền linh, tầm quan trọng hoặc danh hiệu của người đó, điều nghi ngờ là không tránh khỏi, bởi vì chúng ta biết rằng trong tất cả khoa Huyền Bí học, người môn sinh sống nhưng để quên mình bằng cách ghi nhớ điều tốt của những người khác, và cái quyền năng mà anh khao khát là cái sẽ làm cho anh xuất hiện như không là gì trong mắt của mọi người.

 

Trong đoạn trên, Ông lặp lại lời của mantram “Lời cầu nguyện các đấng cao cả” mà chúng tôi có nói trước đây: họ phải tràn ngập trong họ với sự bình an vượt qua tất cả hiểu biết,  sự bình an của những ai sống trong vĩnh cửu

 

*******

 

Trong những ngày đầu của Hội Thông Thiên Học, có một suy nghĩ phổ biến trong những hội viên Thông Thiên Học rằng quyền năng thông linh không thể được phát triển trừ khi một người bẩm sinh đã sở hữu một thể chất phù hợp—điều đó có nghĩa là họ có bản chất năng lực thông linh, là kết quả của những nỗ lực trong những kiếp sống trước, và những người khác—những người không được như thế—họ không có nguồn lực gì cả ngoại trừ bằng cách nỗ lực để làm bất kỳ công việc trần gian nào mà họ có thể làm, với hy vọng rằng qua đó có thể có được những đặc ân để được sinh ra với một thân xác ngoại cảm trong kiếp sống tiếp theo. Sự hiểu biết đầy đủ hơn của những năm sau đó đã điều chỉnh đôi chút ý tưởng này. Ngày nay chúng ta thấy rằng dưới một sự kích thích nào đó thì bất kỳ thể xác thông thường nào cũng sẽ khai mở một phần năng lực thông linh, và chúng tôi có sự tin tưởng vô cùng chắc chắn—như chúng tôi chưa bao giờ tin như thế—rằng việc sở hữu những năng lực thông linh từ khi sinh ra thực sự là một điều lợi. Điều rất rõ ràng rằng đó là một điều thuận lợi trong một số phương diện nào đó, và rằng nó nên là điều thuận lợi trong tất cả phương diện; nhưng kinh nghiệm cho thấy nó thường mang theo nó những khó khăn nghiêm trọng trong thực tế. [1]

In the early days of the Theosophical Society there was an impression current among us that psychic powers could not be developed except by one who from birth had possessed a physical vehicle of suitable type—that some people were psychic by nature, in consequence of efforts made in previous lives, and that others, who were not so favored, had no resource but to devote themselves earnestly to whatever physical plane work they could do, in the hope that they might thereby earn the privilege of being born with a psychic vehicle next time. The fuller knowledge of later years has to some extent modified this idea; we see now that under certain stimuli any ordinarily refined vehicle will unfold some portion of psychic capacity, and we have come to be by no means so sure as we used to be, that the possession of psychic faculties from birth is really an advantage. It is quite clear that it is an advantage in some ways, and that it ought to be an advantage in all; but as a matter of experience it often brings with it serious practical difficulties.

Cậu bé có năng lực thông linh sẽ biết một đến thế giới mà những bạn bè ít may mắn hơn của cậu không biết được — thế giới của các thần lùn (gnome), của các tiên nữ (faries), của tình bạn thật sự với thú vật và chim chóc, với cây và hoa, với sự đồng cảm sống động cùng tất cả các trạng thái của thiên nhiên—một thế giới tự do hơn, ít xấu xa và thực tế hơn so với nhịp điệu buồn tẻ của cuộc sống hàng ngày. Nếu em được may mắn—một may mắn rất hiếm hoi— có cha mẹ nhạy cảm, họ sẽ đồng cảm với em trong tất cả điều này, và giải thích cho em rằng thế giới thần tiên này của em không phải là một thế giới riêng biệt, mà chỉ phần là phần cao hơn và lãng mạn hơn của cuộc sống của trái đất xưa cũ, đáng yêu, và kỳ diệu của chúng ta, và do đó, khi chúng ta đã hiểu đúng thì cuộc sống hàng ngày không còn vẻ buồn tẻ, xám xịt, mà tiềm ẩn sự kỳ diệu sinh động, cùng với niềm hạnh phúc và mỹ lệ.

The boy who has it, knows a world from which his less fortunate fellows are excluded—a world of gnomes [2] and fairies, of actual comradeship with animals and birds, with trees and flowers, of living sympathy with all the moods of nature—a world freer, less sordid and far more real than the dull round of every-day life. If he has the good fortune—the very rare good fortune—to have sensible parents, they sympathise with him in all this, and explain to him that this fairy world of his is not a separate one, but only the higher and more romantic part of the life of the gracious and marvellous old earth to which we belong, and that therefore everyday life when properly understood is not dull and grey, but instinct with vivid wonder and joy and beauty.

Ở đây, có lẽ không có chi phải thắc mắc về cái lợi của điều này; nhưng, thật không may, như tôi đã nói, những bậc cha mẹ nhạy cảm rất hiếm, và nhà thơ, người nghệ sĩ hay nhà thần bí vừa chớm nở rất dễ thấy mình trong tay của một giai cấp tư sản không thương xót, hoàn toàn không có khả năng hiểu anh ta, và hoàn toàn sợ hãi và ghét bỏ bất cứ điều gì hơi có chút không bình thường, vượt lên trên mức độ dốt nát chết người của sự đáng kính tự mãn của họ. Sau đó số phận của anh thật không vui vẻ chút nào; anh nhanh chóng học được rằng anh phải sống một cuộc sống song đôi, che dấu cẩn thận những thực tại lãng mạn khỏi sự chế nhạo thô lỗ của những người Philistine dốt nát, và sự tàn bạo của việc đàn áp đáng phiền trách này quá thường xuyên đã dập tắt hoàn toàn những nhận thức tinh thần vừa le lói, đưa anh ta trở lại vào lớp vỏ của anh trong kiếp sống này. Do đó, thế gian mất đi hàng trăm nhà nhãn thông quí giá, chỉ đơn thuần do việc đối xử tàn ác vô thức xuất phát từ sự thiếu hiểu biết đơn giản.

There can be no question of the advantage here; but, unfortunately, as I have just said, the sensible parent is rare, and the budding poet, artist or mystic is quite likely to find himself in the hands of an unsympathetic bourgeoisie, wholly incapable of comprehending him, and thoroughly permeated with fear and hatred of anything which is sufficiently unusual to rise a little above the level of the deadly dullness of their smug respectability. Then is his lot indeed unhappy; he soon learns that he must live a double life, carefully hiding the romantic realities from the rude jeers of the ignorant Philistine, and but too often the crass brutality of this most reprehensible repression stifles altogether the dawning perception of the spirit and drives him back into his shell for this incarnation. Hundreds of valuable clairvoyants are thus lost to the world, merely through the unconscious cruelty of well-meaning stupidity. [3]

Tuy nhiên, một số bé trai, và có lẽ thường xuyên hơn nữa là các bé gái, hoàn toàn không mất quyền năng của mình, mà tiếp tục mang một số mảnh vụn của chúng vào cuộc sống trưởng thành; và cũng không loại trừ thực tế rằng do chúng có các kiến thức trực tiếp về sự tồn tại của thế giới vô hình, chúng dễ bị thu hút đến với Thông Thiên Học. Khi điều đó xảy ra, thì khả năng ngoại cảm của họ có phải là một lợi thế cho họ không?

Some boys, however, and perhaps still more often some girls, do not entirely lose their powers, but bring through some fragments of them into adult life; and not improbably the very fact that they have thus direct knowledge of the existence of the unseen world, draws them to the study of Theosophy. When that happens, is their psychism an advantage to them?

Không chút nghi ngờ rằng điều đó là như thế. Không chỉ họ biết—như là kinh nghiệm thực tế—nhiều điều mà các sinh viên khác chấp nhận như một giả thuyết cần thiết, mà họ còn có thể hiểu tốt hơn nhiều so với những người khác tất cả những mô tả về trạng thái tâm thức cao hơn—những mô tả mà do diễn đạt bằng ngôn ngữ trần gian chắc chắn sẽ không hoàn hảo. Các nhà thấu thị không thể nghi ngờ về cuộc sống sau khi chết, bởi vì những người chết thường hiện diện với anh ta; anh không thể đặt câu hỏi về sự tồn tại của những ảnh hưởng tốt và xấu, bởi vì hàng ngày anh nhìn và cảm thấy chúng.

There is no doubt that it ought to be. Not only do they know as a fact of experience many things which other students accept merely as a necessary hypothesis, but they can also understand far better than others all descriptions of higher conditions of consciousness—descriptions which, because they are couched in physical language, must necessarily be woefully imperfect. The clairvoyant cannot doubt the life after death, because the dead are ofte n present to him; he cannot question the existence of good and evil influences, for he daily sees and feels them.

Do đó, nhãn thông hữu ích một cách vô giá trong trong nhiều khía cạnh. Trên tổng thể, tôi nghĩ rằng nó làm cho cuộc sống của người sở hữu của nó hạnh phúc hơn; nó cho phép anh ta hữu ích hơn cho bạn của mình so với khi anh không có nó. Nếu luôn được giữ cân bằng bởi lương tri và sự khiêm tốn, nó thực sự là một món quà tuyệt vời nhất. Bằng ngược lại, nó có thể dẫn đến nhiều điều hại, bởi vì nó có thể đánh lừa cả bản thân nhà nhãn thông lẫn những người tin tưởng vào anh ta. Điều này không xảy ra nếu ta cẩn thận, nhưng nhiều người lại không thực hiện sự cẩn thận thích hợp, và vì vậy xảy ra nhiều điều không chính xác.

Thus there are many ways in which clairvoyance is an incalculable benefit. On the whole, I think that it makes happier the life of its possessor; it enables him to be more useful to his fellows than he could otherwise be. If balanced always by common sense and humility, it is indeed a most excellent gift; if not so balanced, it may lead to a good deal of harm, for it may deceive both the clairvoyant himself and those who trust in him. Not if proper care is exercised; but many people do not exercise proper care, and so inaccuracy arises. [4]

Đặc biệt, đây chính là trường hợp khi nhà nhãn thông nỗ lực sử dụng các quyền năng của các khí thể cao, bởi vì điều đầu tiên là anh phải được đào tạo lâu dài và cẩn thận trước khi anh có thể sử dụng chúng đúng cách. Thứ đến, kết quả phải được mang xuống thông qua một số khí thể trung gian, tạo nhiều cơ hội cho sự lệch lạc. Một ví dụ của điều này là khi nghiên cứu lịch sử hay các kiếp sống trước đây của một cá nhân—thường được gọi là khảo sát các ký ảnh. Để có được kết quả đáng tin cậy, điều này phải được thực hiện thông qua nhân thể (causal body); và để ghi lại các quan sát một cách chính xác trên các cõi giới thấp, chúng ta phải kiểm soát cả bốn khí thể hoàn toàn—đó là điều thiết yếu phải có.

Especially is this the case when the operator endeavors to use the powers of the higher vehicles, because in the first place, long and careful training is needed before these can be rightly used, and secondly the results must be brought down through several intermediate vehicles, which offer many opportunities for distortion. A good example of the kind of work in question is the investigation of past history or of the previous lives of an individual—what is commonly called examining the records. In order to obtain reliable results, this must be done through the causal body; and to chronicle the observations correctly on this lower plane we must have four vehicles thoroughly under control—which is a good deal to expect.

Xác thân phải trong tình trạng sức khỏe hoàn hảo, vì nếu không, nó có thể tạo ra những ảo tưởng và biến dạng bất thường nhất. Sự khó tiêu lặt vặt, một chút thay đổi nhỏ nhất trong việc lưu thông bình thường của máu qua não—hoặc về số lượng, chất lượng hoặc tốc độ—có thể thay đổi các chức năng của não, khiến nó truyền đạt hoàn toàn thiếu tin cậy của các ấn tượng chuyển tải đến nó. Một hiệu quả tương tự như thế có thể được tạo ra bởi bất kỳ sự thay đổi nào trong lưu lượng bình thường hoặc tốc độ của các dòng sinh lực chảy qua cơ thể con người thông qua lá lách. Não bộ là một bộ máy phức tạp, và trừ khi cả hai phần—phần dĩ thái của nó mà qua đó dòng sinh lực chảy, và phần vật chất hơn mà máu lưu thông—làm việc rất bình thường, chắc chắn không thể có một báo cáo chính xác; bất kỳ sự bất thường ở một trong hai phần trên có thể dễ dàng làm rối loạn sự tiếp nhận của nó, khiến nó ghi nhận không rõ ràng, hoặc làm méo mó hình ảnh của bất cứ điều gì đưa đến nó.

The physical body must be in perfect health, for if it is not it may produce the most extraordinary illusions and distortions. A trifling indigestion, the slightest alteration in the normal circulation of the blood through the brain, either as to quantity, quality or speed, may so alter the functioning of that brain as to make it an entirely unreliable transmitter of the impressions conveyed to it. A similar effect may be produced by any change in the normal volume or velocity of the currents of vitality which are set flowing through the human body by the spleen. The brain mechanism is a complicated one, and unless both the etheric part of it through which the vitality flows and the denser matter which receives the circulation of the blood are working quite normally, there can be no certainty of a correct report; any irregularity in either part may readily so dull or [5] disturb its receptivity as to produce blurred or distorted images of whatever is presented to it.

Thể tình cảm cũng phải hoàn toàn dưới sự kiểm soát, và điều này có ý nghĩa nhiều hơn so với ý nghĩ ban đầu của chúng ta, bởi vì thể xúc cảm đó là trú xứ tự nhiên của những ham muốn và cảm xúc, và trong hầu hết mọi người, nó thường xuyên ở trong tình trạng của sự phấn khích hoang dã. Những gì cần mong muốn không phải chỉ là những gì chúng ta thường gọi sự trầm tĩnh (calmness); đó là một mức độ cao hơn của yên tịnh (tranquility) mà chỉ có thể đạt được bằng cách huấn luyện lâu dài. Khi một người nói rằng mình bình tĩnh, y chỉ muốn nói rằng lúc này đây y không có bất kỳ cảm xúc mạnh nào trong thể cảm xúc của mình; nhưng y vẫn luôn luôn có một số lượng cảm xúc nhỏ hơn vẫn chuyển động bên trong thể cảm xúc— có lẽ là những gợn cảm xúc vẫn còn sau một bùng phát cảm xúc nào đó quét qua y ngày hôm qua. Nhưng nếu y mong ước đọc các ký ảnh hoặc thực hiện các nghi lễ huyền thuật, y phải học cách để làm êm dịu thậm chí những  gợn cảm xúc đó.

The astral body, too, must be perfectly under control, and that means much more than one would at first suppose, for that vehicle is the natural home of desires and emotions, and in most people it is habitually in a condition of wild excitement. What is wanted is not at all what we ordinarily call calmness; it is a far higher degree of tranquillity, which is only to be obtained by long training. When a man describes himself as calm, he means only that he has not at the moment any strong feeling in his astral body; but he has always a quantity of smaller feelings which are still keeping up a motion in the vehicle—the swell which still remains, perhaps, after some gale of emotion which swept over him yesterday. But if he wishes to read records or to perform magical ceremonies he must learn to still even that.

Khó có điều nào minh hoạ điều này tốt hơn là so sánh nó với hình bóng phản ánh của cái cây trong một hồ nước. Khi bề mặt của hồ nước thực sự yên tĩnh, chúng ta có một hình ảnh hoàn hảo của cái cây; chúng ta có thể thấy từng chiếc lá của nó; chúng ta có thể quan sát chủng loại và tình trạng của nó một cách chính xác; nhưng một làn gió nhỏ nhất làm tan vỡ hình ảnh đó ngay lập tức, nó tạo ra những gợn sóng ảnh hưởng nghiêm trọng lên hình ảnh đó, khiến chúng ta không những không còn có thể đếm số lá có thể nhìn thấy, mà chúng ta cũng khó có thể cho biết ngay loại cây đó là loại cây nào—sồi, tần bì, elm … tán lá của nó dày hay mỏng , nó có đang ra hoa hay không? Thực tế, trong các điều kiện như thế, các giải thích của chúng ta về hình ảnh phần lớn là phỏng đoán. Và chúng ta cần ghi nhớ rằng đó chỉ là hậu quả của một cơn gió nhẹ; một cơn gió mạnh mẽ hơn sẽ làm cho tất cả mọi thứ hoàn toàn không hiểu được.

The old simile of the reflection of a tree in a lake can hardly be bettered. When the surface of the water is really still we have a perfect image of the tree; we can see every leaf of it; we can observe correctly its species and its condition; but the slightest puff of wind shatters that image at once, and creates ripples which so seriously interfere with the image that not only can we no longer count the visible leaves, but we can hardly tell even what kind of tree it is, an oak or an elm, an ash or a hornbeam, whether its foliage is thick or thin, whether it is or is not in flower. In fact our interpretation of the image would, under such conditions, be largely [6] guesswork. And that, be it remembered, is the effect of a mere zephyr; a stronger wind would make everything utterly unintelligible.

Tình trạng bình thường của thể cảm xúc của chúng ta có thể được đại diện bởi ảnh hưởng của một cơn gió nhẹ trong lành và sự trầm tĩnh bình thường của chúng ta bởi các gợn sóng lăn tăn của làn không khí nhẹ nhưng liên tục; bề mặt giống như gương chỉ có thể đạt được sau thời gian thực hành dài với nhiều nỗ lực vất vả. Khi chúng ta nhận ra rằng để thực hiện việc đọc các ký ảnh một cách tin cậy, chúng ta phải đạt được tình trạng yên tĩnh hoàn hảo không chỉ trong một mà là cả bốn khí thể. Thực tế, không một khí thể nào trong số bốn khí thể đó bình thường thật sự yên tĩnh, dù chỉ trong phút chốc, và chúng ta sẽ bắt đầu thấy rằng chúng ta có một nhiệm vụ thật khó khăn, ngay cả nếu điều này là tất cả những điều kiện cần thiết phải có.

The normal condition of our astral bodies might be represented by the effects of a brisk breeze, and our ordinary calmness by the ripplings of a light but persistent air; the mirror-like surface can be attained only after long practice and much strenuous effort. When we realize that for a reliable reading of the records we must reach that condition of perfect placidity not in one vehicle only, but in four, no one of which is ever normally quiet even for a moment, we begin to see that we have a difficult task before us, even if this were all.

Không chỉ thể xúc cảm phải được yên tĩnh trước khi cuộc khảo sát bắt đầu, mà nó còn phải yên tĩnh suốt quá trình khảo sát đó —nghĩa là, nếu anh muốn nhận được nhiều hơn cái ấn tượng chung, nhà quan sát không được cho phép mình bị kích động bởi bất cứ điều gì mà có thể xuất hiện trong bức tranh đó. Ta phải quan sát sao cho bản chất của sự phấn khích không tạo ta sự khác biệt; nếu một sự tức giận hay lo sợ gây ra nguy hại trầm trọng cho sự chính xác, thì một cơn bộc phát tình cảm hay lòng  sùng đạo cũng thế. Nếu anh trung thực một cách nghiêm túc, thì nhà quan sát phải ghi lại những gì anh thấy và nghe một cách khách quan giống như một máy ảnh hoặc một máy quay đĩa; anh có thể cho phép mình đầy cảm xúc sau khi nhớ lại những gì mà anh đã nhìn thấy, nhưng khi quan sát anh phải hoàn toàn điềm tỉnh nếu anh muốn công việc của anh đáng tin cậy. Điều này khiến những người nhiều xúc cảm hoặc dễ xúc động không thể là một người quan sát đáng tin cậy trên những cõi giới cao; anh [7] bao quanh mình với một thế giới của các hình thể được xây dựng bởi những suy nghĩ và cảm xúc của anh, và sau đó tiến hành xem xét và diễn tả những hình thể này như là những thực tại bên ngoài anh.

Not only must the astral body be tranquil before the investigation is begun, but it must remain unruffled all through the work—which means that, if he wants to get more than a general impression, the seer must not allow himself to be excited by anything which may appear in the picture. Be it observed that the nature of the excitement makes no difference; if a spasm of anger, of fear, is fatal to accuracy, so also is a rush of affection or devotion. If he is to be rigorously truthful, the watcher must record what he sees and hears as impartially as does a camera or a phonograph; he may allow himself the luxury of emotions afterwards when recalling what he has seen, but at the time he must be absolutely impassive, if he is to be reliable. This makes it practically impossible for the emotional or hysterical[1] person to be a trustworthy observer on these higher planes; he [7] surrounds himself with a world of forms built by his own thoughts and feelings, and then proceeds to see and to describe those as though they were external realities.

Thường thường thì các hình thể như thế là đẹp đẽ, và việc chiêm ngưỡng chúng giúp nâng cao tinh thần. Do đó, mặc dù chúng không chính xác, chúng có thể giúp ích rất nhiều cho các nhà thấu thị. Thật ra, kinh nghiệm của anh cũng có thể hữu ích cho người khác, nếu anh có sự phân biện để nhận diện chúng mà không gán cho các diễn viên của anh vai trò của các vị thánh thần, đại thiên thần hay chân sư. Nhưng thường thì chính các hình ảnh như thế là do trí tưởng tượng của anh gợi ra, và đơn thuần chính bản chất con người mới cảm thấy rằng người đã đến với anh chắc chắn là một trong các Đấng Cao Cả. Cách duy nhất để tự bảo vệ chống lại việc tự phỉnh gạt chính là phương thức cũ và buồn tẽ—đó là chấp nhận một khóa đào tạo cẩn thận, khó khăn và lâu dài. Ngoại trừ nhờ trực giác mơ hồ, một người không thể nào phân biệt một hình tư tưởng với một thực tại cho đến khi anh đã được giảng dạy đặc điểm tương ứng của chúng, và có thể vượt lên đủ cao trên chúng để có thể áp dụng các phép thử của mình.

Often such forms are beautiful, and their contemplation is uplifting, so that, even though they are inaccurate, they may be of great help to the seer. Indeed, his experiences may be useful to others also, if he has the discrimination to relate them without labeling his actors as deities, archangels or adepts. But it is usually precisely such figures as those that his imagination evokes, and it is merely human nature to feel that the person who comes to him must surely be some Great One. The only way to secure oneself against self-deception is the old and irksome[2] way of a long, hard course of careful training: except by some vague intuition a man cannot know a thought-form from a reality until he has been taught their respective characteristics, and can rise sufficiently above them to be able to apply his tests.

Thể trí cũng cần sự điềm tĩnh giống như trong thể cảm xúc. Một người lo lắng không bao giờ có thể nhìn thấy một cách chính xác, bởi vì thể trí của anh luôn ở trong tình trạng bệnh hoạn mãn tính, viêm nhiễm thường xuyên bởi những xao động. Những người kiêu căng hay tham vọng cũng có khó khăn tương tự như thế. Một số người nghĩ rằng những gì họ thường suy nghĩ ít quan trọng, miễn là trong việc nghiên cứu thực sự họ cố gắng giữ tâm trí của họ yên tĩnh là được; nhưng ý tưởng đó là sai lầm. Ngoài ra, một cơn bão của ngày hôm qua để lại trong khí thể này một vết sưng đằng sau nó; việc duy trì liên tục hoặc thường xuyên một thái độ tâm trí tạo ra một dấu vết không thể xóa nhòa trong thể trí, và tạo nên một rung đập đều đặn mà chủ sở hữu không ý thức được giống như anh cũng không ý thức được nhịp đập của trái tim mình. Nhưng sự hiện diện của nó trở nên rõ ràng khi nhà thấu thị vận dụng nhãn thông, nó làm cho việc quan sát rõ ràng bất khả thi—nhất là khi người đó không biết đến sự tồn tại của nó và không có nỗ lực nào để chống lại tác dụng của nó.

Calmness is necessary in the mental body as well as the astral. A man who worries can never see accurately, because his mental body is in a condition of chronic disease, a perpetual inflammation of agitated fluttering. One who suffers from pride or ambition has a similar difficulty. Some have supposed that it matters little what they think habitually, so long as during the actual investigation they try to hold their minds still; but that idea is fallacious. In this vehicle, also, the storm of [8] yesterday leaves a swell[3] behind it; an attitude of mind which is constantly or frequently held, makes an indelible[4] mark upon the body, and keeps up a steady pulsation of which the owner is as unconscious as he is of the beating of his heart. But its presence becomes obvious when clairvoyance is attempted, and makes anything like clear vision impossible—all the more since the man, being ignorant of its existence, makes no effort to counteract its effects

.

Ngoài ra, thành kiến cũng là vật cản trở tuyệt đối cho sự chính xác; và chúng ta biết có bao nhiêu người người hoàn toàn không có định kiến. Trong nhiều trường hợp, những thái độ tinh thần đó là hệ quả của nơi sinh hoặc tập tục lâu đời— ví dụ, thái độ của một người Brãhmana trung bình với một người giai cấp pariah, hoặc một người Mỹ trung bình với một người da đen. Không người nào trong những người này có thể báo cáo một cách chính xác một cảnh trong đó xuất hiện bất kỳ thành viên nào của các giai cấp mà họ khinh khi theo bản năng. Tôi có thể đưa ra một ví dụ mà tôi quan tâm để ý một thời gian trước đây. Tôi biết một nhà nhãn thông có khuynh hướng Thiên Chúa giáo mạnh mẽ. Do đó, miễn chúng tôi quan sát các đối tượng vô tư, nhãn quang của cô là rõ ràng; nhưng tại thời điểm mà một điều nào đó phát sinh đụng chạm đến niềm tin tôn giáo của cô, dù có thoáng qua, ngay lập tức cô đã nỗi giận và trở thành hoàn toàn không đáng tin cậy. Là một người rất thông minh về nhiều phương diện, cô đã có thể kiểm tra thành kiến này nếu cô ý thức được nó; nhưng cô đã không ý thức được điều đó, và như thế ảnh hưởng tệ hại của nó là không được kiềm chế, kiểm soát. Cho ví dụ, nếu một cảnh xuất hiện trước chúng tôi trong đó một người theo đạo Cơ đốc và một người theo tôn giáo khác xung đột nhau, hoặc thậm chí xuất hiện bên cạnh nhau, những gì cô mô tả chỉ là một trò hề đơn thuần của thực tế, bởi vì cô chỉ có thể nhìn thấy điểm tốt trong người theo Thiên Chúa giáo và chỉ điều xấu trong người kia. Nếu bất kỳ sự kiện nào xuất hiện mà không phù hợp với lịch sử như được thừa nhận trong các Kinh Thánh Thiên Chúa giáo, cô bỏ qua sự kiện đó hoặc bóp méo cho phù hợp với định kiến của mình; và cô làm tất cả điều này hoàn toàn vô ý thức và với những ý định tốt nhất có thể có. Đó chỉ là một ví dụ nhỏ về sự đáng tin cậy của nhãn thông tự phát, không được đào tạo.

Prejudice, again, is an absolute bar to accuracy; and we know how few people are entirely without prejudices. In many cases these mental attitudes are matters of birth and long custom—the attitude, for example, of the average Brãhmana to a pariah, or the average American to a Negro. Neither of those could report accurately a scene in which appeared any members of the classes they instinctively despise. I may give an example which came under my notice some time ago. I knew a good clairvoyant with strong Christian proclivities[5]. So long as we were dealing with indifferent subjects, her vision was clear; but the moment that anything arose which touched, however remotely, upon her religious beliefs, she was instantly up in arms[6], and became absolutely unreliable. Being a highly intelligent person in many directions, she would have checked this prejudice if she had been conscious of it; but she was not, and so its evil influence was unrestrained. If, for example, a scene arose before us in which a Christian and a man of some other religion came in any way into conflict or even appeared side by side, her [9] description of it was a mere travesty of the reality, for she could see only the good points in the Christian and only the evil in the other man. If any fact appeared which did not fit in with the alleged history contained in the Christian Scriptures, that fact was ignored or distorted to suit her preconceptions; and all this with entire unconsciousness, and with the best possible intentions. That is only a small sample of the unreliability of spontaneous, untrained clairvoyance.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi một đệ tử của Chân sư phải mất nhiều năm huấn luyện cẩn thận và kiên trì trước khi y có thể được chấp nhận như thực sự đáng tin cậy. Y phải khám phá tất cả những định kiến không nhận ra được và loại bỏ chúng; y phải gỡ bỏ từ những chốn sâu thẳm trong tâm thức của mình tất cả những gì bám chặt hơn vào đó –tính kiêu căng, tự ý thức, ích kỷ.

No wonder that it takes many years of patient and careful training before the pupil of the Master can be accepted as really reliable. He must discover all these unrecognized prejudices, and must eliminate them; he must evict from the recesses of his own consciousness other tenants even more firmly attached to the soil—pride, self-consciousness, self-centeredness.

Cuối cùng, có một tình trạng mà nhiều người vấp phải. Tôi không có ý nói là họ là ích kỷ trong ý nghĩa bình thường của thế gian; họ thường còn xa điều đó, và có thể là họ tốt bụng, tự hy sinh, và quan tâm giúp đỡ  mọi người. Tôi cũng không có ý nói họ kiêu căng, phách lối; nhưng chỉ muốn nói rằng họ thích thể hiện mình dưới ánh đèn sân khấu, phải luôn luôn ở vị trí  trung tâm của sân khấu. Giả sử một người như thế bẩm sinh là một nhà ngoại cảm; trong mọi trường hợp có liên quan đến kinh nghiệm bản thân, nhà ngoại cảm đó sẽ nhất thiết và chắc chắn phải phóng đại vai trò cái tôi của mình trong các vụ việc, dù rằng không có ý định mảy may về việc định làm như vậy. [10]

The last is a condition from which many people suffer. I do not mean that they are selfish in the ordinary gross meaning of the world; they are often far from that, and they may be kind-hearted, self-sacrificing, and anxious to help. Nor do I mean that they are offensively proud or conceited; but just that they like to be under the limelight, to be always well on view in the center of the stage. Suppose such a person to be psychic from birth; in every case where there is a personal experience to be related, that psychic will necessarily and inevitably magnify his or her personal part in the affair, and that without the slightest intention of doing so. [10]

Đôi khi chúng tôi biết rằng có trường hợp một người mới bắt đầu công việc của mình trên cõi trung giới, trong hồi ức của anh về một số sự kiện, lại đồng hoá với người mà anh đã giúp. Nếu vào ban đêm anh hỗ trợ một người chết trong một tai nạn đường sắt, khi thức dậy vào buổi sáng anh có thể ghi nhớ giấc mơ trong đó anh đã bị giết chết trong một tai nạn đường sắt, và cứ như thế. Theo một cách tương tự như thế, khi một nhà ngoại cảm tự kỷ (self-centered psychic) trong khi khảo sát thấy một ai đó với một hào quang tốt đẹp, anh ngay lập tức nhớ lại mình cũng với một hào quang như vậy; nếu anh thấy ai đó trò chuyện với một Đấng Cao Cả, anh nhanh chóng tưởng tượng mình đã có một cuộc trò chuyện như thế, và (không có bất kỳ chút ý định lừa dối nào) anh phát minh ra tất cả các nhận xét tâng bốc mà đấng Cao Cả đó nói với anh. Tất cả điều này làm cho anh đặc biệt nguy hiểm, trừ phi anh có một sức mạnh phi thường của đức khiêm tốn và tự kiểm soát.

We know that it sometimes happens that a beginner in astral work identifies himself, in his recollection of some event, with the person whom he has helped. If he had during the night been assisting a man who was killed in a railway accident, he might wake in the morning remembering a dream in which he had been killed in a railway accident, and so on[7]. In something the same way, when the self-centered[8] psychic comes across in his investigations someone with a fine aura, he immediately remembers himself with such an aura; if he sees some one conversing with a Great One, he promptly imagines himself to have had such a conversation, and (without the slightest intention of deceit) invents all sorts of flattering remarks as having been addressed to him by that august Being. All this makes him indistinctly[9] dangerous, unless he has quite a phenomenal power of self-effacement[10] and self-control.

Những hội viên của hội có kinh nghiệm về việc tâng bốc kiểu này đã được khuyến khích gửi câu chuyện của họ đến Bà Hội trưởng hoặc một số nhà thấu thị kinh nghiệm, để các sự kiện (nếu có) có thể được lọc lựa ra khỏi những câu chuyện thêu dệt, với hy vọng rằng việc chỉnh sửa đó có thể giúp họ học hỏi từng bước chậm chạp, cách làm thế nào để tách trấu từ lúa mì. Họ đến với những câu chuyện điểm đạo tuyệt vời mà họ đã trải qua, về những đấng thiên thần và tổng lãnh thiên thần vĩ đại mà họ đàm đạo thân thiết. Những câu chuyện thường hoang tưởng và tự kiêu đến nỗi cần một sự kiên nhẫn lớn lao để giải quyết tương xứng với chúng. Ngoài ra, cũng không có nghi ngờ rằng về phần họ nó cũng đòi hỏi nhiều kiên nhẫn, vì chúng tôi phải lặp đi lặp lại nói với họ rằng họ đã nhìn thấy một ai khác, và gán hành động của người đó cho chính mình, hoặc họ phóng đại một từ thân thiện thành một lời ngợi khen quá mức.

Members of the Society who have flattering experiences of this sort have been encouraged to send an account of them to the President or to some other trained seer, in order that the facts (if any) may be disentangled from the embroidery, in the hope that such correction may enable them by slow degrees to learn how to winnow[11] the chaff[12] from the wheat. They come with stories of the marvellous initiations through which they have passed, of the great angels and archangels with whom they have familiarly conversed, and the tales are often so wild and so presumptuous[13] that it requires a great fund of patience to deal adequately with them. No doubt [11] it requires a good deal of patience on their part also, for again and again we have to tell them that they have been watching someone else, and have appropriated his deeds to themselves, or that they have magnified a friendly word into an extravagant[14] laudation[15]

.

Chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng, nếu bản ngã chỉ cần nổi trội hơn một chút, họ sẽ không đến và yêu cầu giải thích, mà sẽ ôm chặt vào lòng sự chắc chắn rằng họ đã thực sự trở thành một đạo sư cao cả, hoặc đã được thủ lĩnh của một thái dương hệ xa xôi niềm nở tiếp nhận. Do đó, từng bước, chúng ta dễ dàng gặp những người được thiên thần hướng dẫn, những người nghe thấy tiếng nói thiêng liêng chỉ đạo họ, và nhận liên tục những truyền thông đáng kinh ngạc nhất. Không có chi đáng nghi ngờ rằng trong một số trường hợp những người đó là những người lường gạt (lang băm-charlatan), và một số trường hợp khác họ là người bất bình thường; nhưng tôi nghĩ rằng đa số họ không phải người láo toét hoặc hoang tưởng, nhưng họ thực sự nhận các tuyên bố khoa trương từ các thực thể của cõi trung giới — thường là từ các thành viên tầm thường trong vô số những người đã chết.

We may easily see that, if the self were just a little more prominent, they would not come and ask for explanations, but would hug[16] to their bosoms the certainty that they really had become high Adepts, or had been affably[17] received by the Chieftain[18] of some distant solar system. So we come by easy gradations[19] to those who have angel-guides, who hear divine voices directing them, and are the constant recipients of the most astounding communications. It is no doubt true that in some cases such people have been charlatans, and that in others they have been insane; but I think it should be understood that the majority of them are neither mendacious[20] or megalomaniac[21], but that they do really receive these bombastic[22] proclamations from entities of the astral world—usually from quite undistinguished members of the countless hosts of the dead.

Đôi khi xảy ra chuyện một nhà thuyết giáo, đặc biệt nếu đó là nhà thuyết giáo của một giáo phái bí ẩn, trở thành người hướng dẫn tinh thần. Sau khi chết, trên cõi trung giới, ông phát hiện ra một số ý nghĩa nội tại của tôn giáo của mình mà ông đã không bao giờ thấy trước đó, và ông cảm thấy rằng nếu người khác có thể nhìn thấy những vấn đề như ông bây giờ nhìn thấy, toàn bộ cuộc sống của họ sẽ được thay đổi—như thực ra họ có thể như thế. Vì vậy, nếu ông có thể ảnh hưởng đến một số nhà ngoại cảm nữ trong nhóm của ông, ông bảo cô rằng ông đã chọn cô làm công cụ để tái sinh (regeneration of the world) thế giới, và để gây ấn tượng với cô ấy sâu sắc hơn, ông thường nghĩ rằng tốt hơn nên trình bày sự mặc khải của ông đến từ một nguồn gốc cao cả — thực ra thì ông thường cho rằng nó đến từ nguốn gốc như thế. Nói chung, giáo lý và sự khuyên bảo mà ông đưa ra là tốt trong mức độ nào đó, mặc dù chỉ là những nét đạo đức cung chung.

It sometimes happens that a preacher, especially if of some obscure sect, becomes a spirit-guide. In the astral world after death, he discovers some of the inner meanings of his religion which he had never seen before, and he feels, that if others could see these matters as he now sees them, their whole lives would be changed—as indeed they quite probably would. So if he can manage to influence some [12] psychic lady in his flock, he tells her that he has chosen her to be the instrument for the regeneration of the world, and in order to impress her more profoundly, he often thinks it well to represent his revelation as coming from some high source — indeed he usually supposes that it does so come. Generally the teaching and advice which he gives is good as far as it goes, though rather of the copybook heading style of morality.

Nhưng bấy giờ, những người đến với nhà thuyết giáo đã chết ấy không có sự minh triết, đạo đức của ông, mà chỉ muốn biết tình yêu của họ sẽ diễn tiến ra sao, con ngựa nào sẽ thắng cuộc đua nào đó, và cổ phiếu sẽ đi lên hay đi xuống. Về tất cả các vấn đề như thế thì nhà truyền giáo của chúng ta hoàn toàn không biết, nhưng ông không muốn thú nhận điều đó. Ông lý luận rằng những người này tin rằng ông là toàn năng vì ông đã chết, họ sẽ mất niềm tin vào giáo lý của ông nếu ông từ chối trả lời ngay cả những câu hỏi không phù hợp nhất. Do vậy, ông trang trọng tư vấn cho họ về các vấn đề không phù hợp, và do đó gây ra nhiều tai tiếng cho sự truyền thông từ thế giới khác nói chung, và cho danh tiếng của mình nói riêng.

But to that dead preacher come presently people who will have none of his sage[23], moral maxims[24], but want to know how their love affairs will progress, what horse will win a certain race, and whether certain stocks will go up or down. About all such matters our preacher is sublimely[25] ignorant, but he does not like to confess it, reasoning that as these men believe him to be omniscient because he happens to be dead, they will lose faith in his religious teaching if he declines to answer even the most unsuitable questions. So he gravely advises them on these incongruous[26] subjects, and thereby brings much discredit[27] upon communications from the other world in general, and upon his own reputation in particular.

Những nhà ngoại cảm chưa được đào tạo trong chúng ta thường ở cùng tình trạng như thế, và họ hiếm khi có can đảm để nói rõ rằng: “Tôi không biết.” Một trong những bài học đầu tiên mà Chân sư dạy bảo chúng tôi là hãy phân biệt rõ ràng giữa vài sự kiện mà chúng tôi thực sự biết và một khối lượng lớn thông tin mà chúng tôi chấp nhận bằng đức tin hoặc suy luận. Chúng tôi được dạy rằng để nói “tôi biết” là thực hiện một một yêu cầu cao — một yêu cầu không bao giờ nên thực hiện nếu không có sự chắc chắn cá nhân; người nên khôn ngoan để áp dụng công thức khiêm tốn hơn mà tất cả các kinh Phật đều bắt đầu như thế: “tôi đã nghe như thế này.”

The untrained psychic among ourselves is often put in precisely the same position, and he or she rarely has the courage to say plainly: “I do not know.” One of the very first lessons given to us by the Great Teachers is to distinguish clearly between the few facts that we really know and the vast mass of information which we accept on faith or inference. [13] We are taught that to say “I know” is to make a high claim—a claim which none should ever make without personal certainty; men are wiser to adopt the humbler formula with which begin all the Buddhist Scriptures: “Thus have I heard.”

Tôi nghĩ rằng lợi thế mà người đệ tử ngay từ khi sinh không có năng lực thông linh, sau đó được huấn luyện để phát triển chúng, nằm ở đây: trước khi các nỗ lực được thực hiện để phát triển các quyền năng đó, anh đã được huấn luyện về tính vô kỷ, loại bỏ định kiến, đặt thể cảm dục và thể trí dưới sự kiểm soát; và vì vậy, khi các quyền năng thông linh đến, anh chỉ phải đối phó với những khó khăn cố hữu trong viêc khai mở các quyền năng này và sử dụng chúng, chứ không phải với một loạt các khó khăn khác do bởi các điểm yếu của anh. Anh đã học để đưa các khí thể của mình vào nề nếp, biết chính xác những gì anh có thể làm gì với chúng, và chấp nhận bất kỳ khuyết tật nào còn tồn tại trong chúng; Anh hiểu và cho phép những hành động của phần của phàm ngã bình thường không biểu lộ — cái được Hiệp hội Nghiên cứu Tâm Linh gọi là cái ngã tiềm ẩn (subliminal self).

The advantage of the pupil who, not having been psychic in the beginning, is afterwards instructed in these matters, lies, I think, in this: that before the attempt is made to develop any such powers, he is trained in selflessness, his prejudices are eradicated, and his astral and mental bodies are brought under control; and so, when the powers come, he has to deal only with the difficulties inherent in their unfolding and their use, and not with a host of others imposed by his own weaknesses. He has learnt to bring his vehicles into order, to know exactly what he can do with them, and to make allowance for any defects which still exist in them; he understands and allows for the action of that part of the personality which is not normally in manifestation—that which has been called by the Psychical Research Society the subliminal[28] self.

Khi các quyền năng được khai mở anh không tiến hành ngay lập tức lao vào sử dụng thiếu kềm chế chúng; anh kiên trì và nhẫn nại đi qua một loạt các bài học trong phương pháp sử dụng chúng—loạt bài học mà có thể kéo dài nhiều năm trước khi anh được xem là hoàn toàn đáng tin cậy. Một đệ tử kỳ cựu sẽ tận tay chỉ dẫn anh, cho anh thấy các đối tượng trung giới khác nhau và hỏi anh ta: “bạn thấy gì?” Người đệ tử kỳ cựu sẽ sửa chữa anh khi anh sai sót, và dạy anh làm thế nào để phân biệt những điều mà tất cả người sơ cơ dễ nhầm lẫn; Y sẽ giải thích cho anh sự khác biệt giữa hai ngàn bốn trăm loại tinh hoa chất, và những kết hợp tốt nhất của chúng có thể được sử dụng cho các loại công việc khác nhau; y chỉ cho anh làm thế nào để đối phó với tất cả các trường hợp khẩn cấp, làm thế nào để phóng các luồng tư tưởng, làm thế nào để tạo ra các tinh linh nhân tạo—tất cả những công việc chi li của cõi trung giới. Vào giai đoạn cuối của tất cả việc chuẩn bị này người chí nguyện tỏ ra là một người làm việc thực sự có khả năng—một người học việc có thể hiểu các huấn thị của Chân sư, và có vài ý tưởng về cách làm thế nào để thực hiện được giao phó

When the powers are opened he does not proceed immediately to riot in their unrestrained use; laboriously and patiently he goes through a series of lessons in the method of their employ—a series which may last for years before he is pronounced entirely reliable. An older pupil takes him in hand, shows him various astral objects, and asks him: “What do you see? “ He corrects him when in error, and teaches him how to distinguish those things which all [14] beginners confuse; he explains to him the difference between the two thousand four hundred varieties of the elemental essence, and what combinations of them can best be used for various sorts of work; he shows him how to deal with all sorts of emergencies, how to project thought-currents, how to make artificial elementals—all the manifold minutiae of astral work. At the end of all this preparation the aspirant comes out a really capable workman—an apprentice who can understand the Master’s instructions, and has some idea of how to set to work to execute the task confided to him.

Người sinh ra với quyền năng thông linh thoát khỏi những rắc rối của việc phát triển các quyền năng này; nhưng việc sở hữu nó mang theo nó những cám dỗ đặc biệt riêng của chúng. Y biết và nhìn thấy, ngay từ ban đầu, những gì mà những người khác xung quanh anh không biết và nhìn thấy; vì vậy anh thường bắt đầu cảm thấy mình vượt trội so với những người khác, và anh có một sự tự tin về sự chính xác của nhãn thông của mình, cái mà có thể hoặc không thể chứng minh được. Đương nhiên, anh có những cảm giác và xúc cảm từ những kiếp sống đã qua, và những cái này phát triển cùng với quan năng thông linh của anh; do vậy, anh có một số định kiến và thành kiến, chúng đối với anh giống như tấm kính màu mà anh luôn luôn nhìn xuyên qua đó, và do vậy anh đã không bao giờ biết đến bất kỳ khía cạnh nào khác của thiên nhiên ngoài những gì chúng mang đến anh. Cái ấn tượng mà những điều này cung cấp cho anh dường như tuyệt đối là một phần của anh, và thật vô cùng khó để anh vượt qua nó và nhìn mọi vật ở một góc độ khác. Thường thì anh không biết rằng anh hoàn toàn nghiêng lệch, và hoạt động trên giả thuyết rằng anh nhìn thấy ngay thẳng, và những ai không đồng ý với anh thật không chính xác.

The person who is born psychic escapes the trouble of developing the powers; but this great gain brings with it its own peculiar temptations. The man knows and sees, from the first, things which others about him do not know and see; and so he often begins to feel himself superior to others, and he has a confidence in the accuracy of his power of sight which may or may not be justified. Naturally he has feelings and emotions which are brought over from past lives, and these grow along with his psychic faculties; so that he has certain preconceptions and prejudices which are to him like colored glasses through which he has always looked, so that he has never known any other aspect of nature than that which they show him. The bias which these give him seems to him absolutely part of himself, and it is exceedingly hard for him to overcome it and see things at another angle. Ordinarily he is quite unaware that he is all askew[29], and acts on [15] the hypothesis that he is seeing straight, and that those who do not agree with him are hopelessly inaccurate.

Từ tất cả các điều này ta phải nhớ rằng những người bẩm sinh có quyền năng thông linh nên sử dụng chúng với sự cẩn thận lớn nhất. Nếu họ muốn món quà của họ hữu ích và không có hại, trước nhất họ phải trở nên hoàn toàn vị tha: họ phải nhổ sạch thành kiến và định kiến, sao cho họ mở rộng cửa cho chân lý như nó thực sự là; họ phải tràn ngập trong họ với sự bình an vượt qua tất cả hiểu biết,  sự bình an của những ai sống trong vĩnh cửu. Vì đây là những là điều kiện tiên quyết để đạt sự chính xác của nhãn quang; và ngay cả khi đã đạt được điều đó, họ vẫn còn phải học hỏi để hiểu cái mà họ nhìn thấy. Không ai bắt buộc xuất bản rộng rãi những gì anh thấy; không ai bị bắt buộc để cố gắng để nhìn vào tiền kiếp của người khác hoặc đọc lại lịch sử của thời đại quá xa xưa; nhưng nếu anh muốn làm như vậy, anh phải có biện pháp phòng ngừa mà các thế hệ đã qua đã đề nghị cho chúng ta, nếu không anh sẽ bị nguy cơ khủng khiếp dẫn các con chiên theo anh lạc đường, thay vì cho chúng ăn. Ngay cả nhà nhãn thông chưa qua đào tạo cũng có thể làm điều tốt nếu anh khiêm tốn và cẩn thận. Nếu anh ta lầm lẫn một ai đó là một Chân sư (một điều thường xuyên xảy ra), tình yêu và lòng sùng tín khơi hoạt trong anh ta là tốt cho anh; và nếu trong sự nhiệt tình của mình, anh có thể đánh thức cùng một cảm xúc trong những người khác, điều đó cũng tốt cho những người đó. Một cảm xúc cao quý luôn luôn là tốt cho những ai cảm nhận nó, ngay cả khi đối tượng của nó có thể không được như ta nghĩ. Nhưng điều xấu xảy ra khi nhà thấu thị sai lạc bắt đầu cung cấp thông điệp từ các Chân sư giả của mình, những mệnh lệnh có thể không được khôn ngoan, nhưng có thể được tuân thủ một cách mù quáng bởi nguồn gốc được thừa nhận của nó.

From all this it emerges that those who possess the psychic faculties by nature should exercise them with the greatest care and circumspection[30]. If they wish that their gift shall be helpful and not harmful, they must above all things become utterly selfless: they must uproot their prejudices and preconceptions, so as to be open to the truth as it really is; they must flood themselves with the peace that passeth understanding, the peace that abideth only in the hearts of those who live in the Eternal. For these be the prerequisites to accuracy of vision; and even when that is acquired, they have still to learn to understand that which they see. No man is compelled to publish abroad what he sees; no man need try to look up people’s past lives or to read the history of aeons long gone by; but if he wishes to do so, he must take the precautions which the experience of the ages has recommended to us, or run the terrible risk of misleading, instead of feeding, the sheep which follow him. Even the uninstructed clairvoyant may do much good if he is humble and careful. If he takes for a Master someone who is not a Master (a thing which is constantly happening), the love and devotion awakened in him are good for him; and if in his enthusiasm he can awaken the same feelings in others, they are good for others also. A high and noble emotion is always good for him who feels it, even though the object of it may not be so great as [16] he is supposed to be. But the evil comes when the erring seer begins to deliver messages from his pseudo-Master, commands which may not be wise, yet may be blindly obeyed because of their alleged source.

Làm thế nào những sinh viên không có nhãn thông, những người cho đến nay chưa thấy gì cho chính mình, phân biệt được giữa cái thật và cái giả? Các tiêu chí an toàn nhất của sự thật là sự vắng mặt hoàn toàn của bản ngã. Khi nhãn quang của bất kỳ nhà ngoại cảm nào có xu hướng luôn ca ngợi một cách tinh tế nhà ngoại cảm đó, những điều này cần đặt dưới sự ngờ vực nghiêm túc nhất. Khi những thông điệp truyền đạt qua một người luôn luôn nhằm phóng đại địa vị huyền linh, tầm quan trọng hoặc danh hiệu của người đó, điều nghi ngờ là không tránh khỏi, bởi vì chúng ta biết rằng trong tất cả khoa Huyền Bí học, người môn sinh sống nhưng để quên mình bằng cách ghi nhớ điều tốt của những người khác, và cái quyền năng mà anh khao khát là cái sẽ làm cho anh xuất hiện như không có gì trong mắt của mọi người.

How then is the non-clairvoyant student, who as yet sees nothing for himself, to distinguish between the true and the false? The safest criterion of truth is the utter absence of self. When the visions of any seer tend always to subtle glorification of that seer, they lie open to the gravest[31] suspicion[32]. When the messages which come through a person are always such as to magnify the occult position, importance or title of that person, distrust[33] becomes inevitable, for we know that in all true Occultism the pupil lives but to forget himself in remembering the good of others, and the power which he covets[34] is that which shall make him appear as nothing in the eyes of men.

Quyền năng thông linh được rộng rãi mong cầu, và nhiều người hỏi làm thế nào họ có thể khai mở chúng. Thế nhưng, việc sở hữu chúng không phải là một ơn huệ, bởi vì ở giai đoạn tiến hoá mà thế giới ngày nay đã đạt đến, nhà nhãn thông khi nhìn vào đồng loại của mình sẽ thấy cái ác nhiều hơn cái tốt. Rất nhiều các cuộc đấu tranh đê tiện, rất nhiều sự vô tâm bất nhẫn, rất nhiều sự bất nhân của con người đối với con người có thể khiến biết bao người khóc, và cũng có thể làm cho các thiên thần khóc; rất nhiều các đối xử tàn ác xấu xa có tính toán của các thầy giáo tàn bạo đối với cậu học trò co rúm của mình, của người lái xe độc ác đối với con bò ít hung hản hơn nhiều; rất nhiều sự đần độn vô tri, rất nhiều sự ích kỷ và tội lỗi. Như nhà thơ lớn Schiller đã khóc:

“Tại sao Ngài không ném tôi lại vào thành phố của những người mù vĩnh viễn, và công bố lời sấm về việc khai mở giác quan? Hãy lấy lại ánh sáng đáng buồn này, lấy lại ánh sáng tàn nhẫn từ đôi mắt tôi ! Trả lại tôi với sự mù lòa — sự đen tối hạnh phúc của giác quan; hãy lấy lại món quà dễ sợ của Ngài !”

Psychic powers are widely desired, and many men ask how they can unfold them. Yet is their possession no unmitigated[35] blessing, for at the stage which the world has reached today there is more of evil than of good to be seen by the man who looks with unclouded vision over the great mass of his fellow-creatures. So much of sordid[36] struggle, so much of callous[37] carelessness, so much of man’s inhumanity to man which indeed makes countless thousands mourn, and might well make angels weep; so much of the wicked, calculated cruelty of the brutal schoolmaster to his shrinking pupil, of the [17] ferocious[38] driver to his far less brutish[39] ox; so much senseless stupidity, so much of selfishness and sin. Well might the great poet Schiller cry:

Why has Thou cast me thus into the town of the ever blind, to proclaim Thine Oracle with the opened sense? Take back this sad clear-sightedness; take from mine eyes this cruel light! Give me back my blindness—the happy darkness of my senses; take back thy dreadful gift!

Thực sự ra còn có một mặt khác của điều đó, bởi vì ngay khi chúng ta quay khỏi nhân loại để nhìn về các tinh linh vui tính nhảy nhót vui đùa, hay vẻ rực rỡ chói lọi của các thiên thần vinh quang, người ta có thể nhận ra lý do tại sao mặc dù tất cả điều này, Thượng đế khi nhìn lên thế giới mà Ngài đã tạo ra thấy rằng nó vẫn tốt đẹp. Và ngay cả trong nhân loại chúng ta cũng thấy một làn sóng đang mãi tăng của tình thương và sự thương cảm, của nỗ lực nghiêm túc và sự hi sinh cao quý, sự hướng đến Thượng đế, đấng mà từ đó chúng ta đến, một nỗ lực để vượt qua loài thú, để quạt tia lửa Thiêng Liêng mờ nhạt trong ta thành Ngọn Lửa Thiêng. Quà tặng lớn nhất mà nhãn thông mang đến cho ta là những kiến thức trực tiếp về sự tồn tại của Thánh Đoàn,  là điều chắc chắn rằng con người không phải không có các Nhà Lãnh đạo và Hướng dẫn. Rằng các Ngài sống và di chuyển trên mặt đất này như những con người trần gian chúng ta, thế nhưng các Ngài đã là các vị Thần về Kiến thức, Quyền năng và Tình thương , và do đó các Ngài khuyến khích chúng ta bằng chính bản thân các Ngài, các Ngài giúp đỡ chúng ta bước theo con đường mà các Ngài đã đi, với niềm hi vọng chắc chắn rằng ngày nào đó chúng ta cũng sẽ đạt được như các Ngài.  Như thế, chúng ta có sự chắc chắn thay vì nghi ngờ; chúng ta có sự vui sướng thay vì sầu khổ; bởi vì chúng ta biết rằng, không phải cho riêng chúng ta mà là cho toàn thể nhân loại trong đó chúng ta là một phần, có một ngày nào đó sẽ đến một thời điểm khi chúng ta thức tỉnh giống y như các Ngài, và sẽ hài lòng với điều đó.

Truly there is another side to the shield[40], for so soon as one looks away from humanity to the graceful gambols[41] of the jocund[42] nature-spirit or the gleaming splendour of the glorious Angels, one realises why, in spite of all, God looked upon the world which He had made, and saw that it was good. And even among men we see an ever-rising tide of love and pitifulness[43], of earnest effort and noble sacrifice, a reaching upward towards the God from whom we came, an endeavour to transcend the ape and the tiger, and to fan into a flame the faint spark of Divinity within us. For the greatest of all the gifts that clairvoyance brings is the direct knowledge of the existence of the great White Brotherhood, the certainty that mankind is not without Guides and Leaders, but that there live and move on earth Those who, while They are men even as we are, have yet become as Gods in knowledge and power and love, and so encourage us by Their example and Their help to tread the Path which They have trodden, with the sure and certain hope that one day even we also shall be as They. Thus we have certainty instead of doubt; thus we have [18] happiness instead of sorrow; because we know that, not for us alone but for the whole humanity of which we are a part, there will someday come a time when we shall wake up after Their likeness, and shall be satisfied with it.

 

2724 — Tổng số lần đọc 2 — Hôm nay

  1 comment for “Quyền năng thông linh cao và thấp (7) — Những khó khăn của nhãn thông

  1. jupiter nguyen
    November 27, 2015 at 10:20 am

    Cám ơn các bài viết của bạn Webmaster về vấn đề quyền năng thông linh cao và thấp , nó rất có giá trị vì đó là sự tập hợp những lời nhận xét của chân sư D.K ( một Đấng toàn năng và trí tuệ vô biên ) và trong phần 7 này có thêm lời nhận xét của ông Leadbeater ( một đệ tử của Thánh Sư và đã khai mở thần thông ) . Đó cũng là lý do mà tôi say mê nghiên cứu giáo huấn của chân sư D.K ( vì chân sư D.K không phải là một lý thuyết gia hay một triết gia bình thường ) mà những gì chân sư D.K nói ra ( hay chính xác hơn là tuyên bố cho nhân loại biết ) đều xuất phát từ cái trí tuệ vô biên đó của Ngài và từ cái nhìn bằng Thần Thông siêu đẳng của Ngài , đó chính là giá trị và đó chính là điều làm nên sự tuyệt diệu và khác biệt trong trong giáo huấn của chân sư D.K . Về vấn đề khai mở quyền năng thì tôi nghĩ rằng một người phải có đủ 3 điều kiện chính là đức tính không sợ hãi ( vô úy ) , một trí tuệ cao và quan trọng nhất là phải được chân sư hay một đệ tử chân sư bảo vệ và hướng dẫn trong lúc tập luyện.

Leave a Reply