Sự Chết – Phần 2: Diễn tiến của sự chết – Tiến trình hoàn nguyên (Restitution)

Đây là phần thứ hai của loạt bài viết về sự chết, trích dịch từ quyển Esoteric Healing, chương The Process of Restitution, trong đó Chân sư DK viết cụ thể hơn về các diễn tiến xảy ra khi một người từ trần. Chúng tôi nghĩ đây là tài liệu vô giá để học hỏi về sự chết. Trong truyền thống tâm linh Tây tạng ta có tác phẩm Tử Thư nói về tình trạng sau chết, hoặc trong Ai Cập ta có Book of the Death. Tuy nhiên những quyển sách này trình bày cái chết dưới ngôn ngữ ẩn dụ, khó hiểu. Trong Esoteric Healing đức DK trình bày rất rõ các giai đoạn của diễn biết sự chết: The Process of Restitution, The Art of Elimination, and The experience of Devachan liên quan đến việc loại bỏ dần dần ba thể của phàm ngã: xác thân và dĩ thái, thể cảm xúc, thể hạ trí.

Trong bài ta cũng sẽ học hỏi thêm nhiều điều có liên quan, ví dụ sự xung đột giữa tinh linh xác thân (physical elemental) và linh hồn trong lúc chết, gây ra sự kéo dài khi hôn mê. Ngoài ra, trừ những trường hợp chết độ ngột vì tai nạn, chiến tranh … cái chết là một quyết định có chủ ý của Linh hồn trên cõi giới của riêng nó, không có cái chết nào là bất ngờ cả. Khi đọc đến câu nói trên, bạn sẽ phải suy gẫm “Linh hồn trên cõi giới riêng của nó” là gì, là đấng Thái dương Thiên Thần (Solar Angel) đã theo ta từ khi chúng ta thoát kiếp thú trở thành người, hay là chân ngã của ta? Bạn cũng sẽ phải tìm hiểu thêm về các Tinh linh xác thân, Tinh linh cảm dục, và Tinh linh hạ trí, ba người đày tớ mà Ông chủ là Linh hồn như nhà thơ Robert Browning ẩn dụ: Three souls, One Man. Khi Linh hồn đã xướng Linh Từ của Sự Chết thì cái chết bắt đầu, không gì có thể thay đổi được. Trước đó sự hồi sinh có thể xảy ra, nhưng sau đó thì không thể.

Trong trường hợp chết đột ngột vì chiến tranh, thiên tai, tai nạn…, Ngài ám chỉ rằng nó không liên quan gì đến nghiệp quả cá nhân mà có liên hệ đến cộng nghiệp và nghiệp quả của hành tinh chúng ta mà Ngài gọi là great obscurity.

Bạn cũng sẽ nghe nói đến Tinh linh của Địa cầu (spirit of the earth), đây là một thực thể trên đường giáng hạ tiến hoá, giữ vai trò đối với Hành tinh Thượng đế của chúng ta như Tinh linh xác thân của chúng ta đối với linh hồn của chúng ta. Tinh linh địa cầu là tập hợp tất cả tinh linh xác thân của các sinh linh tên trái đất, nó tạo sức kéo lên hình hài của chúng ta khi giờ chết đã đên. Đức DK gọi đó là lực kéo của đất, nó đòi cát bụi trở về cát bụi, trả lại cho Caesar những gì của Caesar. Bạn sẽ biết thêm vể spirit of the Earth khi học thêm về luồng tiến hoá Thiên Thần (Deva Evolution) sau này trong Cosmic Fire. Bạn cũng lưu ý spirit (viết thường) of the earth khác với Planetary Spirit là tên gọi để chỉ Hành Tinh Thượng Đế

Ngài cũng giải thích các ích lợi của việc hoả táng, hi vọng trong tương lai nhân loại sẽ ngày càng áp dụng phương pháp này để dần dần làm tinh khiết hành tinh chúng ta.

Trong bài có đôi chỗ Ngài dùng những câu văn ẩn dụ, khó hiểu. Ví dụ đoạn sau đây :

“bảy trở thành hai mươi mốt và tiếp đến thành nhiều cái”; chất liệu ánh sáng (light substance), hay phương diện năng lượng của linh hồn, bắt đầu tràn ngập thể xác và công việc sáng tạo của thể dĩ thái hay thể sinh lực hoàn tất. Trên cõi trần tiếng khóc của trẻ sơ sinh là dấu hiệu đầu tiên về điều này. Nó là đỉnh điểm của tiến trình. Tác động sáng tạo của linh hồn giờ đây đã xong; một ánh sáng mới tỏa chiếu trong chỗ tối tăm…

Hay

Bốn mươi chín ngọn lửa bên trong cơ cấu xác thân tàn đi; sức nóng và ánh sáng của chúng được cuốn hút vào hai mươi mốt điểm ánh sáng nhỏ hơn; đến phiên chúng các điểm sáng này được thu hút bởi bảy trung tâm năng lượng chính

7, 21, 49 là số các luân xa chính, thừ yếu, và tiểu luân xa. Ngài ám chỉ diễn tiến phát triển của thể dĩ thái khi con người lâm phàm: bảy trở thành 21– 7 luân xa chính hình thành trước, kế đến là 21 luân xa thứ yếu, chót đến là 49 là tiểu luân xa…

Trong bài, Ngài cũng nhắc nhở chúng ta một điều quan trọng về vị trí của các luân xa dọc theo cột sống, không như một số sách mô tả, chúng không nằm ở đằng trước thân mình mà nằm ở phía sau lưng, cách cột sống từ 5-10cm. Bạn nên xem lại bài luân xa phần 2 để hiểu rõ điều này để khi áp dụng vào việc tham thiền không bị sai lạc.

Chúng tôi có lược bỏ đoạn văn trích từ các Kinh sách cổ của Chân sư vì chúng thật khó dịch và khó hiểu, bạn nên đọc thẳng bằng tiếng Anh nếu cần. Mong bài này và các bài khác trong loạt bài giúp chúng ta hiểu rõ hơn tiến trình huyến nhiệm mà ai cũng phải trải qua, để chúng ta không còn nỗi sợ hãi khi đối đầu với nó.

 

Tiến trình Hoàn nguyên – The Act of Restitution

Trong việc xem xét tâm thức của linh hồn sắp ra đi (bạn hãy chú ý từ ngữ đó) khi nó thực hiện tiến trình hoàn nguyên (restitution), tôi muốn nêu rõ một lần nữa rằng tôi đang bàn đến một đề tài không có bằng chứng vật chất hữu hình nào cả. Có đôi lúc con người sống trở lại vào đúng thời điểm xảy ra sự hoàn nguyên hoàn toàn. Điều này chỉ có thể xảy ra được khi mà thực thể hữu thức vẫn còn chiếm giữ thể dĩ thái mặc dù việc tách ra khỏi xác thể vật chất với tất cả ý định và mục đích đã hoàn tất. Tuy thể dĩ thái thâm nhập toàn bộ xác thân, nó lớn hơn xác thân rất nhiều, còn thể cảm xúc và bản chất trí tuệ có thể vẫn còn trụ vào thể dĩ thái ngay cả khi xác thân đã chết – bao gồm việc ngưng mọi hoạt động của tim và việc tập trung năng lượng dĩ thái căn bản trong vùng đầu hoặc tim, hoặc tùng thái dương –và việc rút lui đang tiến hành.

In considering the consciousness of the departing soul (note that phrase) as it undertakes the act of restitution, I would again point out that I am dealing with a subject of which there is no tangible physical proof. Occasionally men are brought back again into physical plane existence when at the exact point of complete physical restitution. This can only be done as long as the conscious entity is still occupying the etheric vehicle, though the discarding of the dense physical body has to all intents and purposes been completed. Though the etheric body interpenetrates the entire physical body, it is much larger than that body, and the astral body and the mental nature can still remain etherically polarized even if the death of the physical body—the cessation of all heart activity and the concentration of the basic etheric focus in the region of the head, or the heart, or the solar plexus—has been effective and the withdrawal is already well under way.

 

Trước tiên, các lực dĩ thái rút vào phần mở rộng chung quanh của vòng giới hạn dĩ thái (etheric ring-pass-not), trước khi có sự tan rã cuối cùng để con người được tự do như một linh hồn bên trong vòng giới hạn của thể cảm xúc của mình. Ở đây bạn thấy một khía cạnh khá mới mẻ của tiến trình từ trần. Sự rút lui của thể dĩ thái ra khỏi xác thân thường được mặc nhiên công nhận và đưa ra. Nhưng cho dù điều đó đã hoàn tất cái chết vẫn chưa xong; nó còn chờ hoạt động thứ hai của ý chí của linh hồn. Hoạt động thứ hai này sẽ làm cho tất cả lực dĩ thái hoà vào cội nguồn xuất phát của chúng là kho dự trữ của năng lực vũ trụ. Các bạn đừng quên rằng thể dĩ thái không có sự sống riêng của nó. Nó chỉ là một tập hợp lại của tất cả các lực và năng lượng làm linh hoạt thể xác và thúc đẩy thể xác hoạt động trong chu kỳ sống ở cõi trần. Và các bạn cũng nên nhớ rằng năm luân xa  trên xương sống không ở trong thể xác mà nằm ở một số điểm khác nhau trong chất dĩ thái song hành với cột sống. Trong trường hợp của người kém phát triển chúng cũng cách xa xương sống của thể xác ít nhất là 5cm, và khoảng cách này còn lớn hơn nữa trong trường hợp của người bình thường. Ba luân xa vùng đầu cũng ở bên ngoài thể xác. Việc ghi nhớ điều này sẽ giúp ích cho bạn dễ dàng hiểu phát biểu cho rằng khi các người có thẩm quyền quan sát cho rằng một người nào đó đã chết thì bản thân xác thân đó bị bỏ trống, tuy nhiên con người có thể chưa thực sự chết. Tôi cũng nhắc các bạn nhớ rằng điều này cũng đúng đối với nhiều luân xa  nhỏ [*] cũng như các luân xa  chính mà chúng ta rất quen thuộc.

* Đức DK muốn nói đến vị trí của các luân xa thứ yếu và tiểu luân xa cũng nằm ngoài xác thể của chúng ta.

The etheric forces are first of all withdrawn into the surrounding extension of the etheric ring-pass-not, prior to that final dissipation which leaves the man free to stand as a human soul within the ring-pass-not of his astral vehicle. You have here a somewhat new aspect of the death process. The withdrawal of the etheric body from occupation of the dense physical body has oft been posited and presented. But even when that has been accomplished, death is not yet complete; it still awaits a secondary activity of the will of the soul. This secondary activity will result in all the etheric forces dissolving into an emanating source which is the [461] general reservoir of forces. Forget not that the etheric body has no distinctive life of its own. It is only an amalgamation of all the forces and energies which animated the physical body and which galvanized it into activity during the outer life cycle. Remember also that the five centers up the spine are not within the physical body, but are found at certain distinctive points in the paralleling etheric substance; they are (even in the case of the undeveloped man, and still more in the case of the average man) at least two inches away from the physical spine. The three head centers are also outside the dense physical body. The recollection of this will facilitate your understanding of the statement that the physical body is, per se, vacated when death is assumed by the watching authorities, but that, nevertheless, the man may not be truly dead. I would remind you also that this is equally true of the many minor centers as well as of the major centers, with which we are so familiar.

Các luân xa thứ yếu cuối cùng tan rả là hai luân xa nằm trong vùng phổi và có liên hệ chặt chẽ với cơ quan này. Đây chính là hai trung tâm mà Linh hồn sẽ tác động lên trong trường hợp bị gọi trở về thể xác vì lý do nào đó làm thể xác hồi sinh. Con người biết điều này một cách vô thức khi thực hiện việc cấp cứu trong những hợp chết đuối hay ngạt thở bằng cách xoa bóp ngực. Với người bị bệnh đã lâu và cơ thể yếu đi nhiều, phép hồi sinh ấy không giúp ích và cũng không nên áp dụng. Khi chết thình lình do tai nạn, tự tử, ám sát, đột quị bất ngờ, hay do chiến tranh, sự chấn động mạnh làm cho phương pháp rút lui có phần nào chậm rãi của linh hồn bị đảo lộn hoàn toàn, sự tách rời khỏi thể xác và sự tan rã trọn vẹn của thể sinh lực xảy ra cùng một lúc. Trong trường hợp thông thường chết vì bệnh tật, sự rút lui xảy ra chậm chạp; nếu thể xác chưa đến nỗi kiệt lực hoàn toàn vì bệnh tật, vẫn có thể xảy ra chuyện con người trở lại thể xác trong phút chốc hoặc dài hoặc ngắn. Điều này thường xảy ra nhất là khi ý chí muốn sống còn mạnh, hay là công việc ở cõi trần chưa xong và chưa hoàn tất đúng theo ý muốn.

The last of the minor centers to “fade out into nothingness,” in order to be resolved into the totality of etheric substance, are two which are closely related to and in the region of the lungs. It is on these two centers that the soul works if recalled into the dense physical body for some reason. It is when they swing into a returning or a fresh ingoing activity that the breath of life returns to the vacated physical form. It is an unconscious realization of this which constitutes the prompting cause of the process which is normally carried out in all cases of drowning or of asphyxiation[1]. When a man has succumbed to disease and the physical body is consequently weakened, such restorative exercises are not possible and should not be employed. In cases of sudden death through accident, suicide, murder, unexpected heart attacks or through the processes of war, the shock is such that the somewhat leisurely process of soul withdrawal is entirely offset, and the vacating of the physical [462] body and the complete dissolution of the etheric body are practically simultaneous. In normal cases of death from disease, the withdrawal is slow, and (where the malignancy of the disease has not caused too great deterioration of the physical organism involved) there is the possibility of a return for a shorter or a longer period of time. This frequently happens, especially when the will to live is strong or the life task remains as yet unaccomplished and is not correctly concluded.

Có một điểm nữa mà tôi muốn bàn đến liên quan đến sự xung đột thường xuyên giữa cặp đôi thể dĩ thái và xác thân. Tinh linh xác thân—là tiếng gọi chung của sự sống của riêng thể xác—và linh hồn trong khi tìm cách rút lui và làm tan rã tổng số năng lượng kết hợp lại của thể sinh lực sẽ đối chọi mãnh liệt nhau, việc tranh chấp thường kịch liệt kéo dài. Chính cuộc chiến giữa hai thể trong thời gian hôn mê dài hoặc ngắn là đặc trưng của nhiều trường hợp lâm chung. Nói về khía cạnh huyền bí, có hai loại hôn mê: “hôn mê do tranh chấp xảy ra trước cái chết thực; cũng có một loại “hôn mê tái tạo, xảy ra khi linh hồn rút sợi dây tâm thức về nhưng để lại sợi dây sự sống, trong nỗ lực cho tinh linh thể xác có cơ hội làm chủ tình hình và do đó phục hồi sức khỏe. Khoa học hiện giờ vẫn chưa phân biệt được hai loại hôn mê ấy. Sau này khi nhãn thông dĩ thái hoặc nhãn thông trung giới trở nên phổ biến hơn, người ta sẽ biết rõ tính chất của loại hôn mê nào đang thắng thế, và các yếu tố hy vọng hoặc tuyệt vọng sẽ không còn kiểm soát nữa. Bạn bè và họ hàng của người hôn mê sẽ biết chính xác phải chăng họ đang chứng kiến sự rút lui lớn và cuối cùng khỏi kiếp sống hiện tại, hoặc chỉ quan sát tiến trình phục hồi. Trong trường hợp sau, linh hồn vẫn giữ lại ảnh hưởng của nó trên thể xác xuyên qua các luân xa, nhưng tạm thời ngưng lại mọi tiến trình năng lượng. Các ngoại lệ cho việc ngưng tiến trình năng lượng này là luân xa tim, luân xa lá lách và hai luân xa nhỏ liên hệ với bộ máy hô hấp. Các luân xa này sẽ được cung cấp sinh lực bình thường, cho dù các hoạt động của chúng phần nào bị yếu đi; và nhờ chúng mà sự kiểm soát được duy trì. Khi ý định của linh hồn là chết thực sự, bấy giờ sự kiểm soát luân xa lá lách xảy ra trước tiên; kế đó là sự kiểm soát hai luân xa nhỏ, và cuối cùng sự kiểm soát luân xa tim xảy ra và con người chết.

There is another point upon which I wish to touch and which has relation to the eternal conflict being waged between the dualities of the dense physical body and the etheric vehicle. The physical elemental (which is the name given to the integrated life of the physical body) and the soul, as it seeks to withdraw and dissolve the sumtotal of the combined energies of the etheric body, are in violent conflict and the process is often fierce and long; it is this battle which is being waged during the long or short period of coma which characterizes so many death beds. Coma, esoterically speaking, is of two kinds: there is the “coma of battle” which precedes true death; there is also the “coma of restoration” which takes place when the soul has withdrawn the consciousness thread or aspect, but not the life thread, in an effort to give the physical elemental time to regain its grip upon the organism and thus to restore health. As yet, modern science does not recognize the distinction between these two aspects of coma. Later, when etheric or clairvoyant vision is more common, the quality of the coma prevailing will be known, and the elements of hope or of despair will no longer control. The friends and relations of the unconscious person will know exactly whether they are watching a great and final withdrawal from present incarnation or simply looking on at a restorative process. In the latter case, the soul is still retaining its hold upon [463] the physical body, via the centers, but is withstanding temporarily all energizing processes. The exceptions to this restraint are the heart center, the spleen, and two minor centers connected with the breathing apparatus. These will remain normally energized, even if somewhat weakened in their activity; and through them control is retained. When true death is the soul’s intention, then control over the spleen first of all takes place; then control over the two minor centers follows, and finally control over the heart center supervenes and the man dies.

 

Phần trên cung cấp cho bạn một vài ý tưởng về nhiều điểm liên quan với sự chết mà y học chính thống cần phải khám phá, và chúng sẽ được tiết lộ khi nhân loại ngày càng nhạy cảm hơn.

Tôi muốn các bạn nhớ rằng trong tất cả các xem xét hiện nay của chúng ta, chúng ta đang bàn đến các phản ứng và các hoạt động của linh hồn đang cố thu hồi khía cạnh lâm phàm của nó vì chu kỳ sống đã kết thúc. Kỳ hạn của chu kỳ sống đó có thể dài hoặc ngắn, tùy theo các mục đích có liên hệ; nó có thể chỉ là vài năm ngắn ngủi hoặc cả một thế kỷ. Trước bảy tuổi thì sinh lực (vitality) của tinh linh thể xác là yếu tố quyết định chính yếu. Lúc đó linh hồn trụ vào thể dĩ thái, nhưng không sử dụng hoàn toàn mọi luân xa , nó chỉ có sự kiểm soát nhẹ nhàng từng chặp và một hoạt động thúc đẩy nhẹ nhàng – đủ để duy trì tâm thức, mang sinh lực đến cho các tiến trình thể chất, và mở đầu cho việc biểu lộ cá tính và tính khí. Các tiến trình này ngày càng trở nên rõ rệt cho đến năm hai mươi mốt tuổi, khi đó chúng ổn định thành cái mà chúng ta gọi là phàm ngã. Trong trường hợp của các đệ tử, việc linh hồn kiểm soát các luân xa  dĩ thái trở nên mạnh mẽ ngay từ khi bắt đầu cuộc sống trần gian. Lúc mười bốn tuổi, tính chất và bản chất của linh hồn tái sinh, và tuổi gần đúng của linh hồn hay là kinh nghiệm của nó được quyết định, tinh linh hồng trần, tinh linh cảm xúc và tinh linh trí tuệ đều dưới sự kiểm soát, và linh hồn, tức con người tâm linh bên trong, đã quyết định các xu hướng và các chọn lựa trong kiếp sống hiện tại.

The above will give you some idea of the many points connected with dying that still remain to be discovered by orthodox medicine, and which will be revealed as the race of men reaches an increasing sensitivity.

I would ask you to remember that in all our present considerations we are dealing with the reactions and activities of the soul which is deliberately recalling its incarnated aspect because a life cycle has been concluded. The term of that life cycle may be long or short, according to the purposes involved; it may cover only a very few short years, or a century. Prior to the seventh year, the vitality of the physical elemental is largely the determining factor. The soul is then focused in the etheric body, but is not fully utilizing all the centers; it has simply a gently pulsating control and a gentle impulsive activity—sufficient to preserve consciousness, to vitalize the various physical processes, and to initiate the demonstration of character and of disposition. These become increasingly marked until the twenty-first year, when they stabilize into what we call the personality. In the case of disciples, the grip of the soul upon the etheric centers will be more powerful from the very start of the physical existence. By the time the fourteenth year is reached, the quality and the nature of the incarnated soul and its approximate age or experience are determined, the [464] physical, astral and mental elemental are under control, and the soul, the indwelling spiritual man, already determines the life tendencies and choices.

Trong trường hợp của người thường, khi cái chết là điều được dự tính, cuộc tranh chấp giữa tinh linh thể xác và linh hồn là yếu tố nổi bật; nó được gọi một cách huyền bí là “cuộc ra đi Lemuria” (“Lemurian departure”). Trong trường hợp người trung bình, trọng tâm cuộc sống ở trong bản chất dục vọng, sự xung đột xảy ra giữa tinh linh cảm xúc với linh hồn, và nó được gán cho tên gọi “cái chết của người Atlantis”. Đối với người đệ tử sự tranh chấp sẽ thuần trí tuệ hơn và thường tập trung quanh ý-chí-phụng-sự và sự quyết định để hoàn thành một khía cạnh đặc biệt nào đó của Thiên Cơ và ý-chí-quay-về (will-to-return) với toàn bộ sức mạnh hướng về trung tâm Ashram. Trong trường hợp của các điểm đạo đồ, không hề có tranh chấp mà chỉ là sự rút lui cố ý và có ý thức. Điều khá ngạc nhiên là nếu có sự tranh chấp, thì đó sẽ là giữa hai tinh linh còn lại trong phàm ngã: tinh linh xác thân và tinh linh hạ trí. Không hề có tinh linh cảm xúc ở trong phàm ngã của một điểm đạo đồ cao cấp. Người đạo đồ đã chuyển hóa hoàn toàn dục vọng, xét về bản chất của riêng cá nhân.

In the case of the ordinary man, where death is intended, the battle between the physical elemental and the soul is a distinctive factor; it is occultly called a “Lemurian departure”; in the case of the average citizen, where the focus of the life is in the desire nature, the conflict is between the astral elemental and the soul, and this is given the name “the death of an Atlantean”; where disciples are concerned, the conflict will be more purely mental and is oft focused around the will-to-serve and the determination to fulfil a particular aspect of the Plan and the will-to-return in full force to the ashramic center. Where initiates are concerned, there is no conflict, but simply a conscious and deliberate withdrawal. Curiously enough, if there appears to be a conflict, it will be between the two elemental forces then remaining in the personality: the physical elemental and the mental life. There is no astral elemental to be found in the equipment of an initiate of high standing. Desire has been completely transcended as far as the individual’s own nature is involved.

 

Các yếu tố cản trở sự rút lui của Linh hồn – Factors Confronting the Withdrawing Soul

Do đó, trong cái chết của thể xác và trong tiến trình hoàn nguyên, linh hồn đang rút lui phải đối phó với các yếu tố sau đây:

  1. Tinh linh hồng trần, tức sự sống gắn kết của xác thể, bao giờ cũng tìm cách gắn kết lại với nhau dưới tác dụng của các lực hấp dẫn của tất cả các thành phần của thể xác và sự tương tác lẫn nhau của các thành phần này. Lực này tác động qua một số luân xa thứ yếu.
  2. Thể dĩ thái, vốn có một đời sống gắn kết mạnh mẽ của riêng nó, biểu lộ qua bảy luân xa chính. Các luân xa này phản ứng với năng lượng thúc đẩy của của các thể cảm xúc, hạ trí và của linh hồn. Nó cũng hoạt động qua vài luân xa nhỏ vốn không dành để đáp ứng với trạng thái của phàm ngã con người mà H.P.B. cho là không phải một nguyên khí – đó là thể xác trọng trược.

Do đó, các luân xa  thứ yếu thuộc hai nhóm: các nhóm đáp ứng với sự sống của vật chất trọng trược, đáp ứng với phương diện mẫu nghi (mother aspect), và rõ ràng chúng ở trên cung tiến hóa giáng hạ; các nhóm này là di sản từ thái dương hệ trước trong đó toàn thể con người được kiểm soát thông qua các luân xa thứ yếu này, và chỉ có rất ít các luân xa chính hiện hữu mờ nhạt trong trường hợp của các điểm đạo đồ và các đệ tử tiến hóa của thời đó. Thứ hai, các luân xa  đáp ứng với các năng lượng đi đến chúng xuyên qua các luân xa chính; lúc đó các luân xa này chịu sự kiểm soát của thể cảm xúc và thể hạ trí. Do đó bạn sẽ hiểu tại sao ở phần trước trong quyển sách này, tôi đề cập đến các luân xa thứ yếu. Tuy nhiên, bạn có thể quan tâm hai mươi mốt luân xa thứ yếu nằm ở đâu. Chúng có thể nằm ở các điểm sau:

In physical death, therefore, and in the act of restitution, the withdrawing soul has to deal with the following factors:

  1. The physical elemental, the integrated and coordinated life of the physical body, which is forever seeking to hold together under the attractive forces of all its component parts and their mutual interaction. This force works through a number of minor centers.
  2. The etheric vehicle, which has a powerful coordinated life of its own, expressed through the seven [465] major centers which react under astral, mental and soul impulsive energy. It works also through certain of the minor centers which are not dedicated to a response to that aspect of the man’s equipment which H.P.B. states is not a principle—the dense physical mechanism.

The minor centers are therefore to be found existing in two groups: Those responsive to the life of dense matter, to the mother aspect, and which are definitely upon the involutionary arc; these are an inheritance from the previous solar system wherein the entire man was controlled via these minor centers, with only a very few of the major centers dimly indicated in the case of initiates and advanced disciples of that time; secondly, those centers which are responsive to energies reaching them via the major centers; these then come under the control of the astral body and the mental apparatus. You will see consequently why, earlier in this treatise, I made the following reference to the minor centers. It might be of interest to you, nevertheless, to be told where the twenty-one minor centers are to be found. They can be located at the following points:

  1. Hai luân xa ở đàng trước hai tai, sát với xương quai hàm.
  2. Hai luân xa ở ngay trên hai vú.
  3. Một luân xa nối tiếp với xương ngực, gần tuyến giáp trạng. Luân xa này với hai luân xa ở vú, tạo thành một tam giác lực.
  4. Hai luân xa ở trong lòng hai bàn tay.
  5. Hai luân xa trong lòng hai bàn chân.
  6. Hai luân xa nằm ngay sau hai mắt.
  7. Cũng có hai luân xa, liên hệ với các tuyến sinh dục.
  8. Một luân xa sát cạnh gan.
  9. Một luân xa liên hệ với bao tử; do đó nó liên quan với luân xa tùng thái dương, nhưng không đồng nhất với luân xa này.
  10. Hai luân xa liên hệ với lá lách. Thật ra hai luân xa này hợp thành một luân xa, nhưng luân xa như thế được hợp bởi hai luân xa, cái này chồng lên cái kia.
  11. Hai luân xa, mỗi luân xa ở sau mỗi đầu gối.
  12. Có một luân xa mạnh mẽ nằm sát cạnh với thần kinh phế vị. Đây là luân xa mạnh nhất và một vài trường phái huyền linh học xem như là luân xa chính; nó không ở trong cột sống, nhưng không xa tuyến ức lắm.
  13. Một luân xa nằm sát với luân xa tùng thái dương, và liên kết nó với luân xa ở đáy cột sống, như vậy tạo thành tam giác gồm luân xa xương cùng, luân xa tùng thái dương và luân xa ở đáy cột sống.
  1. There are two in front of the ears, close to where the jaw bones are connected.
  2. There are two just above the two breasts.
  3. There is one where the breast bone connects, close to the thyroid gland. This, with the two breast centers, makes a triangle of force.
  4. There are two, one each in the palms of the hands.
  5. There are two, one each in the soles of the feet.
  6. There are two, just behind the eyes.
  7. There are two, also, connected with the gonads.
  8. There is one close to the liver. [466]
  9. There is one connected with the stomach; it is related, therefore, to the solar plexus, but is not identical with it.
  10. There are two connected with the spleen. These form one center in reality, but such a center is formed by the two being superimposed one on the other.
  11. There are two—one at the back of each knee.
  12. There is one powerful center which is closely connected with the vagus nerve. This is most potent and is regarded by some schools of occultism as a major center; it is not in the spine, but is no great distance from the thymus gland.
  13. There is one which is close to the solar plexus, and relates it to the center at the base of the spine, thus making a triangle of the sacral center, the solar plexus, and the center at the base of the spine.

Hai tam giác được nêu trong bảng liệt kê này rất quan trọng. Một ở trên và một ở dưới cơ hoành.

The two triangles referred to in this tabulation are of real importance. One is above and the other below the diaphragm.

Again, the death process can be seen as a dual activity and one which primarily concerns the etheric body. There is first of all the collecting and the withdrawing of the etheric substance, so that it no longer interpenetrates the dense physical organism, and its subsequent densification (a word I deliberately choose) in that area of the etheric body which has always surrounded, but not penetrated, the dense vehicle. This has been sometimes erroneously called the health aura, and it can be photographed more easily and successfully during the process of dying than at any other time, owing to the accumulation of the withdrawn forces for several inches external to the tangible body. It is at this point in the experience of the withdrawing soul that the “word of death” is spoken, and it is prior to this [467] enunciation of this word that a return to physical living can be possible and the withdrawn etheric forces can again interpenetrate the body. Relationship with all the withdrawn forces is, up to this point, retained via the head or the heart or the solar plexus, as well as via the two minor chest centers.

Lại nữa, tiến trình chết có thể được xem như hoạt động kép và là tiến trình liên quan chủ yếu đến thể dĩ thái. Trước tiên thể dĩ thái tập hợp lại và rút lui, không còn xuyên thấu vào thể xác nữa. Tiếp theo là sự đậm đặc lên (densification), (tôi cố ý chọn từ này) trong vùng của thể dĩ thái bao quanh nhưng không thâm nhập vào thể xác. Vùng này đôi lúc được gọi một cách sai lầm là hào quang sức khỏe, và ta có thể chụp hình nó dễ dàng trong quá trình chết hơn bất cứ khi nào khác, bởi sự tích lũy lại các lực bị thu hồi trong vùng vài inch bên ngoài thể xác. Chính vào thời điểm này trong kinh nghiệm của linh hồn đang rút lui mà Linh hồn xướng lên “linh từ của sự chết”. Trước khi Linh hồn xướng lên linh từ này con người có thể sống lại, và các lực dĩ thái rút lui có thể lại thâm nhập trở lại cơ thể. Cho tới lúc này các mối liên hệ với tất cả các lực rút lui được duy trì thông qua luân xa đỉnh đầu, hoặc luân xa  tim, hoặc luân xa tùng thái dương, cũng như xuyên qua hai luân xa thứ yếu ở ngực.

All this time the consciousness of the dying man is focused in either the emotional (or astral) body or the mental vehicle, according to the point in evolution. He is not unconscious as the onlooker might infer, but is fully aware within himself of what is occurring. If he is strongly focused on physical plane life, and if that is the dominating desire of which he is the most aware, he may then intensify the conflict; you will then have the physical elemental battling furiously for existence, the desire nature fighting to retard the processes of death, and the soul, intent upon the work of abstraction and of restitution. This can and frequently does occasion a struggle which is quite apparent to the onlookers. As the race of men progresses and develops, this triple struggle will become much rarer; desire for physical plane existence will not appear so attractive, and the activity of the astral body will die out.

Trong suốt thời gian này, tâm thức của người hấp hối tập trung trong thể tình cảm (cảm xúc) hoặc là thể trí, tùy trình độ tiến hóa. Y không ở trạng thái vô thức như người bên ngoài suy nghĩ, mà là ý thức hoàn toàn những gì đang xảy ra bên trong chính mình. Nếu y tập trung mạnh mẽ vào đời sống cõi trần, và nếu đó là điều ham muốn nhất trong đời y, thì y có thể làm mạnh thêm sự xung đột. Khi đó, bạn sẽ thấy tinh linh thể xác đấu tranh mãnh liệt để tồn tại, bản chất dục vọng đấu tranh để làm chậm lại tiến trình chết, còn linh hồn, nhắm vào việc rút lui và hoàn nguyên. Người bên ngoài thường chứng kiến rõ sự tranh chấp này. Khi nhân loại tiến bộ và phát triển, cuộc đấu tranh tay ba này sẽ trở nên hiếm hoi hơn; ham muốn cuộc sống trần gian sẽ không còn thu hút nữa, và hoạt động của thể cảm xúc sẽ biến mất.

I wish you could get a picture (symbolically considered) of a man who is in full incarnation and rooted in his phase of experience, and of a man who is withdrawing from that experience. It connotes a repetition on a tiny scale of the great planetary processes of involution and evolution; it concerns those activities which produce a focusing or a polarization in one of two directions; it resembles what might be regarded as a process of pouring in life and light into a vessel upon the physical plane, or an intensification of the radiation of that life and light of so potent a nature that under the evocative power of the soul they are both withdrawn and gathered up into the center of life and light from whence they originally came. I have here given you [468] (could you but recognize it) a definition of initiation, but one of a somewhat unusual phrasing. Perhaps some lines from the Manual of Death which is to be found in the hierarchical archives would prove explanatory to you, and might aid you in gaining a new perspective upon death. This manual has in it what are called the “Formulas preceding Pralaya.” These deal with all the death or abstraction processes, covering the death of all forms, whether it be the death of an ant, a man or a planet. The formulas concern only the two aspects of life and light—the first conditioned by Sound and the second by the Word. The writing which I have in mind concerns the light, and the Word which abstracts it from the form or focuses it within the form.

Tôi mong bạn có được một cái nhìn toàn cảnh về một người giáng sinh vào cõi trần để thu thập kinh nghiệm, và một người đang rút lui khỏi kinh nghiệm đó. Nó hàm ý một sự lặp lại trên một qui mô nhỏ các tiến trình hành tinh to lớn của quá trình giáng hạ tiến hóa và thăng thượng tiến hóa; nó liên quan đến các hoạt động tạo ra sự tập trung (focussing) hay là an trụ (polarisation) vào một trong hai hướng; nó giống tiến trình tuôn đổ sự sống và ánh sáng vào một cái vại (vessel) trên cõi trần, hay là sự tăng cường phát xạ của sự sống và ánh sáng đó với một bản chất mạnh đến nỗi dưới sức mạnh kêu gọi của linh hồn, cả hai đều được rút về và gom lại vào trung tâm của sự sống và ánh sáng là nơi mà chúng xuất phát. Ở đây, tôi đã cho bạn một định nghĩa về điểm đạo theo các thuật ngữ hơi đôi chút lạ lùng (nếu bạn có thể nhận ra điều đó). Có lẽ một vài dòng trong Cẩm Nang về Sự Chết trong văn khố của Thánh Đoàn sẽ giải thích cho bạn, và có thể giúp bạn có được hiểu biết mới về cái chết. Cẩm nang này chứa đựng những gì được gọi là “các Công thức trước Pralaya”. Các công thức này bàn đến mọi cái chết hay là các tiến trình rút lui, bao gồm cái chết của mọi hình hài, dù là cái chết của một con kiến, một con người hoặc một hành tinh. Các công thức chỉ liên quan đến hai trạng thái của sự sống và ánh sáng – cái thứ nhất bị chi phối bởi Linh Âm (Sound); cái thứ hai bị chi phối bởi Linh Từ (Word). Tài liệu mà tôi có trong trí liên quan đến ánh sáng, còn Linh Từ tách nó ra khỏi hình hài, hoặc tập trung nó bên trong hình hài.

“Bear in mind, O Chela, that within the known spheres naught is but light responsive to the Word. Know that that light descends and concentrates itself; know that from its point of chosen focus, it lightens its own sphere; know too that light ascends and leaves in darkness that which it—in time and space—illumined. This descending and ascension men call life, existence and decease; this We Who tread the Lighted Way call death, experience and life.

Light which descends anchors itself upon the plane of temporary appearance. Seven threads it outward puts, and seven rays of light pulsate along these threads. Twenty-one lesser threads are radiated thence, causing the forty-nine fires to glow and burn. Upon the plane of manifested life, the word goes forth: Behold! A man is born.

As life proceeds, the quality of light appears; dim and murky it may be, or radiant, bright and shining. Thus do the points of light within the [469] Flame pass and repass; they come and go. This men call life; they call it true existence. They thus delude themselves yet serve the purpose of their souls and fit into the greater Plan.

And then a Word sounds forth. The descended, radiating point of light ascends, responsive to the dimly heard recalling note, attracted to its emanating source. This man calls death and this the soul calls life.

The Word retains the light in life; the Word abstracts the light, and only That is left which is the Word Itself. That Word is Light. That Light is Life, and Life is God.”

 

The manifestation of the etheric body in time and space has in it what has been esoterically called “two moments of brilliance.” These are, first, the moment prior to physical incarnation, when the descending light (carrying life) is focused in all its intensity around the physical body and sets up a rapport with the innate light of matter itself, to be found in every atom of substance. This focusing light will be found to concentrate itself in seven areas of its ring-pass-not, thus creating seven major centers which will control its expression and its existence upon the outer plane, esoterically speaking. This is a moment of great radiance; it is almost as if a point of pulsating light burst into flame, and as if within that flame seven points of intensified light took shape. This is a high point in the experience of taking incarnation, and precedes physical birth by a very short period of time. It is that which brings on the birth hour. The next phase of the process, as seen by the clairvoyant, is the stage of interpenetration, during which “the seven become the twenty-one and then the many”; the light substance, the energy aspect of the soul, begins to permeate [470] the physical body, and the creative work of the etheric or vital body is completed. The first recognition of this upon the physical plane is the “sound” uttered by the newborn infant. It climaxes the process. The act of creation by the soul is now complete; a new light shines forth in a dark place.

Trong sự biểu lộ của thể dĩ thái trong không gian và thời gian, có hai thời điểm được gọi về mặt huyền bí là “hai thời điểm tỏa sáng”. Thứ nhất, đó là thời điểm trước khi có sự giáng sinh trong xác thân, khi ánh sáng đi xuống (mang theo sự sống) tập trung hết sức mạnh của nó chung quanh thể xác và thiết lập sự giao tiếp với ánh sáng cố hữu của chính bản thân vật chất vốn nằm trong mọi nguyên tử. Ánh sáng tập trung này tập trung trong bảy khu vực của vòng-giới-hạn của nó, và như thế tạo ra bảy luân xa chính sẽ kiểm soát sự biểu lộ và sự sống của nó trên cõi ngoại tại, nói về mặt huyền bí. Đây là một thời điểm tỏa sáng lớn lao; nó gần như là một điểm sáng rung động nhịp nhàng, bùng lên thành ngọn lửa, và bên trong ngọn Lửa đó dường như bảy điểm ánh sáng được tăng cường đã hình thành. Đây là cao điểm trong kinh nghiệm giáng trần và xảy ra trước việc thời điểm con người được sinh ra về mặt thể xác một thời khoảng rất ngắn. Chính điều này đưa tới giờ sinh. Giai đoạn kế của tiến trình dưới nhãn quang của người có nhãn thông là giai đoạn thấu nhập, trong đó “bảy trở thành hai mươi mốt và tiếp đến thành nhiều cái”; chất liệu ánh sáng (light substance), hay phương diện năng lượng của linh hồn, bắt đầu tràn ngập thể xác và công việc sáng tạo của thể dĩ thái hay thể sinh lực hoàn tất. Trên cõi trần tiếng khóc của trẻ sơ sinh là dấu hiệu đầu tiên về điều này. Nó là đỉnh điểm của tiến trình. Tác động sáng tạo của linh hồn giờ đây đã xong; một ánh sáng mới tỏa chiếu trong chỗ tối tăm.

The second moment of brilliance comes in reverse of this process and heralds the period of restitution and the final abstraction of its own intrinsic energy by the soul. The prison house of the flesh is dissolved by the withdrawing of the light and life. The forty-nine fires within the physical organism die down; their heat and light are absorbed into the twenty-one minor points of light; these, in their turn, are absorbed by the major seven centers of energy. Then the “Word of Return” is uttered, and the consciousness aspect, the quality nature, the light and energy of the incarnating man, are withdrawn into the etheric body. The life principle withdraws, likewise, from the heart. There follows a brilliant flaring-up of pure electric light, and the “body of light” finally breaks all contact with the dense physical vehicle, focuses for a short period in the vital body, and then disappears. The act of restitution is accomplished. This entire process of the focusing of the spiritual elements in the etheric body, with the subsequent abstraction and consequent dissipation of the etheric body, would be greatly hastened by the substitution of cremation for burial.

Thời điểm tỏa chiếu thứ hai xảy ra ngược với tiến trình này và báo trước giai đoạn hoàn nguyên và sự tách ra cuối cùng của năng lượng nội tại bởi linh hồn. Ngục tù thân xác bị tan rã bằng việc rút lui của ánh sáng và sự sống. Bốn mươi chín ngọn lửa bên trong cơ cấu xác thân tàn đi; sức nóng và ánh sáng của chúng được cuốn hút vào hai mươi mốt điểm ánh sáng nhỏ hơn; đến phiên chúng các điểm sáng này được thu hút bởi bảy trung tâm năng lượng chính. Kế đó “Linh Từ Trở về” được xướng lên và phương diện tâm thức, bản chất tính chất, ánh sáng và năng lượng của con người lâm phàm, được thu hồi vào thể dĩ thái. Nguyên khí sự sống cũng rút ra khỏi tim. Tiếp theo một ánh sáng điện tinh khiết lóe lên sáng rực, và sau cùng “thể ánh sáng” (“body of light”) cắt đứt mọi tiếp xúc với thể xác, tập trung trong một giai đoạn ngắn trong thể sinh lực, và kế đó biến mất. Tác động hoàn nguyên được hoàn tất. Toàn bộ tiến trình của việc tập trung các yếu tố tinh thần trong thể dĩ thái, với sự tách ra theo sau và sự tan rã tiếp theo của thể dĩ thái sẽ được hối thúc phần lớn bằng việc dùng hỏa táng thay cho chôn cất.

Hai lí do của sự hoả táng – Two Main Reasons for Cremation

Occultly speaking, cremation is needed for two main reasons. It hastens the release of the subtle vehicles (still enshrouding the soul) from the etheric body, thus bringing about the release in a few hours instead of a few days; it also is a much needed means for bringing about the [471] purification of the astral plane and for arresting the “downward moving” tendency of desire which so greatly handicaps the incarnating soul. It can find no point of focus, because essentially fire repels the form-making aspect of desire and is a major expression of divinity with which the astral plane has no true relation, being created entirely by the human soul and not the divine soul. “Our God is a consuming fire” is the statement in the Bible which refers to the first divine aspect, the aspect of the destroyer, releasing the life. “God is love” connotes the second aspect and portrays God as incarnated existence. “God is a jealous God” is an expression indicating God as form, circumscribed and limited, self-centered and not outgoing. The destroying Sound; the attracting Word; the individualized Speech!

Về mặt huyền bí việc hỏa táng là cần thiết vì hai lý do chính. Nó thúc đẩy việc giải thoát các thể tinh anh (vẫn còn bao phủ linh hồn) ra khỏi thể dĩ thái, nhờ thế mang lại sự giải thoát trong vài giờ thay vì vài ngày. Nó cũng là phương tiện rất cần để thanh lọc cõi tình cảm và ngăn chn khuynh hướng muốn trở lại cõi trần, cái thường quấy rầy linh hồn đang rút lui mà nếu thực hiện được, nó sẽ gây trở ngại lớn lao cho Chơn nhơn. Khi hỏa táng, lòng ham muốn không còn điểm tụ vì tác dụng chính yếu của lửa là xua đuổi, phân tán không cho dục vọng kết thành hình và là một biểu hiện chính của Thượng Đế mà cõi cảm xúc không có liên hệ thực sự nào với nó, hoàn toàn được tạo ra bởi nhân hồn (human soul) chớ không phải bởi hồn thiêng (divine soul). “Thượng Đế chúng ta là một ngọn lửa hay thiêu rụi” là phát biểu trong Thánh Kinh, có liên quan với trạng thái thiêng liêng thứ nhất, trạng thái hủy diệt, giải phóng sự sống. “Thượng Đế là tình thương” ngụ ý trạng thái thứ hai và diễn tả Thượng Đế như là sự sống lâm phàm. “Thượng Đế là một Thần ganh tị” là hình thức diễn tả Thượng Đế dưới hình thức sắc tướng, bị giới hạn và hạn chế, duy ngã (self-centered) chứ không hướng ngoại. Linh Âm hủy diệt; Linh Từ thu hút; Ngôn Từ ngã hóa !

At the time of death, speech fades out as the Word sounds forth and restitution is enforced; later, the Word is no longer heard as the Sound obliterates or absorbs it, and there is then complete elimination of all that interferes with Sound. Silence then supervenes and the Sound itself is no longer heard; complete peace follows the act of final integration. Here, in esoteric phraseology, the entire process of death is described.

Lúc từ trần, ngôn từ (speech) nhỏ dần khi Linh Từ (Word) ngân lên và tiến trình hoàn nguyên được tăng cường; sau đó, Linh Từ không còn được nghe nữa vì Linh Âm (Sound) xoá tan hoặc thu hút nó, và lúc đó có sự hoàn toàn loại bỏ tất cả những gì quấy rầy Linh Âm. Khi đó, im lặng đến và chính Linh Âm không còn được nghe nữa; sự bình an hoàn toàn tiếp theo sau động tác hợp nhất cuối cùng. Trên đây là phần mô tả toàn bộ tiến trình chết theo các thuật ngữ huyền môn.

 

It is important to note that it is under the basic and fundamental Law of Attraction that the Art of Dying is carried forward, and that it is the love aspect, the second aspect of divinity, which does the attracting. I exclude cases of sudden death. There the activity is the result of the destroyer, or the first divine aspect. There the condition is different; individual karmic necessity may not be involved at all, and reasons of group conditioning and of great obscurity may lie behind such a happening. So obscure is the subject at this time that I shall not attempt to elucidate. You do not know enough about the Law of [472] Karma, about karmic group involvement, or about relationships and obligations established in past lives. When I say, for instance, that on occasion the “soul may leave the door of protection open so that the forces of death itself may enter anew, having no focal point behind the door” in order “more rapidly to obliterate past penalties due,” you can see how obscure this whole matter can be.

Điều quan trọng cần để ý là dưới tác động của định luật căn bản là Luật Hấp  Dẫn mà Nghệ thuật Chết diễn ra, và chính trạng thái bác ái hay trạng thái thứ hai của Thượng Đế gây ra sự thu hút. Tôi không xét đến các trường hợp chết đột ngột. Trường hợp này là kết quả của Phương diện Huỷ diệt hay là Trạng thái Thiêng liêng thứ nhất. Trong các trường hợp như thế tình trạng lại khác hẳn; nghiệp quả cá nhân có thể không liên quan đến việc này chút nào, mà có thể xuất phát từ các điều kiện tập thể và của tình trạng đen tối lớn. Đề tài này thật khó hiểu đến nỗi tôi sẽ không có ý định giải thích rõ về nó. Bạn chưa biết nhiều về Định Luật Nhân quả, về nghiệp quả của nhóm liên quan thế nào, hoặc về các mối liên hệ và các ràng buộc được thiết lập trong các kiếp trước. Thí dụ, khi tôi nói rằng có những lúc “linh hồn có thể để cánh cửa che chở mở ra, để các lực tử vong lại có thể tiến vào, không có một điểm tập trung nào ở đằng sau cánh cửa,” nhằm “nhanh chóng xóa bỏ các hình phạt quá khứ đã đến lúc một cách nhanh chóng hơn”, bạn có thể thấy toàn bộ đề tài này khó hiểu ra sao.

 

In all that I am here writing, I am dealing simply with normal death processes—death which comes as the result of disease, old age, or the imposed will of the soul which has completed a designed cycle of experience and is using normal channels to attain projected ends. Death in these cases is normal, and this humanity needs to grasp with greater patience, understanding and hope.

Under the Law of Attraction, the soul, at the close of a life cycle, and with full intention, exerts its attractive power in such a manner that it offsets the attractive power inherent in matter itself. This is a clear definition of the basic cause of death. Where no soul contact has been consciously established, as in the case of the majority of people at this time, death comes as an unexpected or sadly anticipated event. Yet—it is a true soul activity. This is the first great spiritual concept to be proclaimed as the fear of death is combated. Death is carried forward under this Law of Attraction, and consists in the steady and scientific abstraction of the vital body out of the dense physical body, leading eventually to an elimination of all soul contact in the three worlds.

Trong tất cả những gì mà tôi đang viết ra ở đây, tôi chỉ bàn đến các tiến trình từ trần bình thường – từ trần vì hậu quả của bệnh tật, tuổi già hoặc là ý muốn bắt buộc của linh hồn khi nó đã hoàn tất một chu kỳ kinh nghiệm được họach định và đang vận dụng các cách bình thường để đạt các mục tiêu được dự trù. Trong các trường hợp này, cái chết là bình thường, và nhân loại cần hiểu điều này với sự nhẫn nại, hiểu biết và hy vọng to lớn hơn.

Theo Định Luật Hấp dẫn, vào cuối chu kỳ sống và với chủ định hoàn toàn, linh hồn vận dụng lực hút của nó theo một cách nào đó để hóa giải lực hút tiềm ẩn trong chính vật chất. Đây là một định nghĩa rõ ràng về nguyên nhân căn bản của sự chết. Trong trường hợp của đa số nhân loại hiện nay, không có sự tiếp xúc có ý thức với linh hồn, cái chết xảy đến như một biến cố bất thình lình hoặc đáng buồn rầu. Thế nhưng, đó là một hoạt động đích thực của linh hồn. Đây là ý niệm tinh thần lớn đầu tiên cần được nêu ra để chống lại việc sợ chết. Sự chết tuân theo Định Luật Hấp dẫn, và bao gồm sự tách dần dần và một cách khoa học thể sinh lực ra khỏi thể xác, cuối cùng đưa đến việc loại bỏ mọi tiếp xúc của linh hồn trong ba cõi thấp.

Sequence of Events at Death

I feel that the best that I can do, in order to clarify this subject more completely, is to describe the sequence of events which happens at a death bed, reminding you that the points of final abstraction are three in number: [473]

  • the head for disciples and initiates and also for advanced mental types;
  • the heart for aspirants, for men of goodwill, and for all those who have achieved a measure of personality integrity and are attempting to fulfil, as far as in them lies, the law of love;
  • and the solar plexus for the undeveloped and emotionally polarized persons.

All I can do is to tabulate the stages of the process, leaving you to accept them as an interesting and possible hypothesis awaiting verification; to believe them unquestioningly because you have confidence in my knowledge, or to reject them as fantastic, unverifiable and of no moment anyway. I recommend the first of the three, for it will enable you to preserve your mental integrity, it will indicate an open mind, and at the same time it will protect you from gullibility and from narrow-mindedness. These stages, therefore, are:

Trình Tự Các Sự Việc Lúc Chết

Tôi cảm thấy rằng điều tốt nhất tôi có thể làm để làm rõ đề tài này hơn là mô tả trình tự các sự việc xảy ra vào phút lâm chung. Xin nhắc các bạn rằng có ba điểm thoát ra vào phút cuối cùng:

  • ở đầu, đối với đệ tử và điểm đạo đồ và cũng đối với người tiến hóa đã mở trí;
  • ở tim đối với người tầm đạo, người có thiện chí, và tất cả những ai đã đạt đến một mức độ nào đó của sự gắn kết Phàm ngã và đang cố gắng thực hiện bằng hết khả năng của họ Định luật Bác ái;
  • và cuối cùng là ở tùng thái dương đối với người kém phát triển và người sống nặng về tình cảm.

Tất cả những gì tôi có thể làm là liệt kê các giai đoạn của tiến trình và để cho các bạn hoặc chấp nhận chúng như một giả thuyết khả dĩ đáng chú ý, chờ được kiểm chúng; hoặc là tin vào chúng một cách vô điều kiện bởi vì bạn có lòng tin vào hiểu biết của tôi; hoặc các bạn có thể bác bỏ chúng như là hoang tưởng, không thể kiểm chứng và không có gì là quan trọng. Tôi đề nghị với bạn cách đầu tiên trong cách vì nó cho phép bạn duy trì nguyên vẹn thể trí của bạn, nó thể hiện bạn có một tâm trí cởi mở, đồng thời nó cũng sẽ bảo vệ bạn khỏi sự cả tin và tâm trí hẹp hòi.

Những giai đoạn có thể liệt kê như sau:

 

1. The soul sounds forth a “word of withdrawal” from its own plane, and immediately an interior processing and reaction is evoked within the man upon the physical plane.

1. Linh hồn xướng lên “linh từ rút lui” (word of withdrawal)  từ cõi riêng của nó và lập tức gợi nên phản ứng trong con người nơi cõi trần.

a. Certain physiological events take place at the seat of the disease, in connection with the heart, and affecting also the three great systems which so potently condition the physical man: the blood stream, the nervous system in its various expressions, and the endocrine system. With these effects I shall not deal. The pathology of death is well known and has received much study exoterically; much still remains to be discovered and will later be discovered. I am concerned, first of all, with the subjective reactions which (in the last analysis) bring about the pathological predisposition to death.

a. Một số hiện tượng sinh lý xảy ra ở chỗ bị bệnh, có liên quan đến tim, và ảnh hưởng đến ba hệ thống lớn chi phối mạnh hoạt động của thể xác: hệ tuần hoàn, hệ thần kinh với các biểu hiện khác nhau của nó, và hệ nội tiết. Tôi không cần đi sâu vì người ta đã biết nhiều về bệnh lý học của cái chết và có nhiều nghiên cứu về nó, dù còn nhiều điều cần được khám phá và sẽ được tìm ra sau này. Trước nhất, tôi quan tâm đến các phản ứng bên trong, mà xét cho cùng sẽ đưa đến các khuynh hướng bệnh học dẫn đến cái chết.

b. A vibration runs along the nadis. The nadis are, as you well know, the etheric counterpart of the [474] entire nervous system, and they underlie every single nerve in the entire physical body. They are the agents par excellence of the directing impulses of the soul, reacting to the vibratory activity which emanates from the etheric counterpart of the brain. They respond to the directing Word, react to the “pull” of the soul, and then organize themselves for abstraction.

b/ Có một sự rung động chạy dọc theo các đường từ lực nadis. Như bạn biết rõ, nadis là đối phần bằng chất dĩ thái (etheric counterpart) của toàn bộ hệ thần kinh, và chúng nằm dưới mọi dây thần kinh trong toàn bộ thể xác. Chúng là các tác nhân đặc biệt (par excellence) thông qua đó linh hồn tác động; các nadis này đáp ứng lại các hoạt động rung động phát ra từ đối phần dĩ thái của bộ óc. Chúng đáp ứng lại Linh từ điều khiển (directing Word), phản ứng lại “sức lôi kéo” (“pull”) của linh hồn, và sau đó tự sắp xếp lại cho việc rút lui.

c. The blood stream becomes affected in a peculiarly occult manner. The “blood is the life,” we are told; it is interiorly changed as a result of the two previous stages, but primarily as the result of an activity hitherto undiscovered by modern science, for which the glandular system is responsible. The glands, in response to the call of death, inject into the blood stream a substance which in turn affects the heart. There the life thread is anchored, and this substance in the blood is regarded as “death-dealing” and is one of the basic causes of coma and of loss of consciousness. It evokes a reflex action in the brain. This substance and its effect will be questioned as yet by orthodox medicine, but its presence will later be recognized.

c/ Hệ tuần hoàn bị ảnh hưởng một cách đặc biệt huyền bí. Dân gian cho rằng “máu là sự sống”; bản thân nội tại của nó bị thay đổi bởi hai giai đoạn trên, nhưng chủ yếu vì một tác động do hệ nội tiết gây ra mà khoa học hiện đại vẫn chưa rõ. Những tuyến này đáp ứng với tiếng gọi của sự chết, tuôn vào máu một chất làm ảnh hưởng đến quả tim. Ta còn nhớ sợi dây của sự sống trụ ở đó, và chất này được xem như là “liên quan đến sự chết” và là một trong những nguyên nhân căn bản của sự hôn mê hay mất tri giác. Nó gây nên phản xạ trong não. Hiện nay, y khoa chính thống sẽ đặt câu hỏi về chất này và tác động của nó, họ sẽ nhận ra sự hiện hữu của nó sau này.

d. A psychic tremor is established which has the effect of loosening or breaking the connection between the nadis and the nervous system; the etheric body is thereby detached from its dense sheath, though still interpenetrating every part of it.

d/ Một làn chấn động tâm linh nhẹ xảy ra, nó có tác động nới lỏng hoặc cắt đứt sự nối kết giữa các đường từ lực nadis và hệ thần kinh; nhờ đó thể sinh lực tách khỏi thể xác dù vẫn còn thấu nhập mọi phần mọi phần của thể xác.

 

2. There is frequently a pause at this point of a shorter or longer period of time. This is allowed in order to carry forward the loosening process as smoothly and as painlessly as possible. This loosening of the nadis starts in the eyes. This process of detachment often shows itself in the relaxation and lack of fear which [475] dying persons so often show; they evidence a condition of peace, and a willingness to go, plus an inability to make a mental effort. It is as if the dying person, still preserving his consciousness, gathers his resources together for the final abstraction. This is the stage in which—the fear of death once and for all removed from the racial mind—the friends and relatives of the departing person will “make a festival” for him and will rejoice with him because he is relinquishing the body. At present this is not possible. Distress rules, and the stage passes unrecognized and is not utilized, as it will some day be.

 

2. Tới đây thường có một khoảng ngơi nghỉ dài hoặc ngắn. Mục đích của nó là để cho việc tách rời giữa hai thể được diễn ra êm xuôi, không đau đớn chừng nào tốt chừng đó. Việc nới lỏng các đường từ lực nadis xảy ra trước tiên ở cặp mắt. Tiến trình tách rời này thường biểu lộ qua việc người hấp hối trở nên an nhiên bình thản, không sợ hãi; họ tỏ ra thư thái, sẵn sàng ra đi, cũng như cho thấy việc sử dụng lý trí không còn mạnh nữa. Dường như là người hấp hối dù vẫn còn tri thức, đang thu góp hết tàn lực để làm việc sau cùng là ra đi. Đây là giai đoạn mà bằng hữu và thân quyến—khi không còn lòng sợ chết—nên vui vẻ mừng cho người bạn, hân hoan vì họ đang rời bỏ thân xác. Hiện nay điều này chưa thể xảy ra. Sự đau buồn bao phủ và giai đoạn trôi qua mà không được nhận biết và vận dụng, như nó sẽ xảy ra một ngày nào đó trong tương lai.

3. Next, the organized etheric body, loosened from all nervous relationship through the action of the nadis, begins to gather itself together for the final departure. It withdraws from the extremities towards the required “door of exit” and focuses itself in the area around that door for the final “pull” of the directing soul. All has been proceeding under the Law of Attraction up to this point—the magnetic, attractive will of the soul. Now another “pull” or attractive impulse makes itself felt. The dense physical body, the sumtotal of organs, cells and atoms, is steadily being released from the integrating potency of the vital body by the action of the nadis; it begins to respond to the attractive pull of matter itself. This has been called the “earth” pull and is exerted by that mysterious entity whom we call the “spirit of the earth”; this entity is on the involutionary arc, and is to our planet what the physical elemental is to the physical body of man. This physical plane life force is essentially the life and light of atomic substance—the matter of which all forms are made. It is to this reservoir of involutionary and material life that the substance of all forms is restored. Restitution of [476] the commandeered matter of the form occupied by the soul during a life cycle consists in returning to this “Caesar” of the involutionary world what is his, whilst the soul returns to the God Who sent it forth.

3. Kế đến, thể dĩ thái được sắp xếp lại, nới lỏng khỏi mọi mối liên hệ thần kinh qua tác động của các đường từ lực nadis, bắt đầu thu gom lại cho chuyến ra đi cuối cùng. Nó rút từ ngoại biên vào một trong ba cửa thoát đã nói ở trên, tụ quanh đó chờ lực kéo chót từ linh hồn. Cho đến điểm này mọi việc xảy ra theo Định luật Hấp dẫn, do ý chí thu hồi của linh hồn, và bây giờ có một sức thu hút khác xảy ra. Thể xác—cái tổng hợp của những cơ quan, tế bào và nguyên tử—đang tách dần khỏi thể sinh lực, qua tác động của các đường từ lực nadis, bắt đầu đáp ứng với sức thu hút của chính vật chất. Lực hút này được gọi là lực hút “của đất” (“earth pull) và do thực thể huyền bí mà chúng ta gọi là “tinh linh của địa cầu” (spirit of the earth). Thực thể này đang ở trên cung giáng hạ tiến hóa, và giữ vai trò đối với hành tinh chúng ta giống như tinh linh xác thân đối với thể xác con người. Sinh lực cõi trần này [tinh linh của địa cầu] chủ yếu là sự sống và ánh sáng của vật chất nguyên tử (atomic substance) – vật chất cấu tạo nên mọi hình hài. Chất liệu của mọi hình thể hoàn nguyên trở lại kho chứa sự sống vật chất và giáng hạ tiến hóa. Sự hoàn nguyên chất liệu bị trưng dụng của hình hài mà linh hồn sử dụng trong chu kỳ sống chính là trả lại cho “Caesar” của thế giới giáng hạ tiến hóa những gì của “Caesar”, trong khi linh hồn trở về với Thượng Đế là Đấng đã gởi Linh hồn đến.

 

It will therefore be apparent that a dual attractive process is at this stage going on:

  1. The vital body is being prepared for exit.
  2. The physical body is responding to dissolution.

It might be added that a third activity is also present. It is that of the conscious man, withdrawing his consciousness, steadily and gradually, into the astral and mental vehicles, preparatory to the complete abstraction of the etheric body when the right time comes. The man is becoming less and less attached to the physical plane and more withdrawn within himself. In the case of an advanced person, this process is consciously undertaken, and the man retains his vital interests and his awareness of relationship to others even whilst losing his grip on physical existence. In old age this detachment can be more easily noted than in death through disease, and frequently the soul or the living, interested, inner man can be seen losing his grip on physical and, therefore, illusory reality.

Do đó, ở giai đoạn này rõ ràng có là một tiến trình hai mặt đang diễn ra:

  • Thể sinh lực chuẩn bị rút lui
  • Thể xác đáp ứng với sự tan rã.

Có thể thêm rằng một hoạt động thứ ba cũng đang xảy ra. Đó là hoạt động của con người hữu thức, đang rút dần tâm thức của mình tụ vào thể tình cảm và thể trí, chuẩn bị cho phút tách khỏi thể sinh lực hoàn toàn khi đến giờ. Con người trở nên càng lúc càng xa lìa cõi trần, và càng rút vào nội giới. Ở người tiến hóa, tiến trình ấy được thực hiện có ý thức, và họ vẫn còn quan tâm cùng có tình thương mến đối với người khác trong lúc tách dần khỏi sự sống cõi trần. Sự tách biệt dễ dàng nhận thấy ở cái chết do tuổi già hơn là do bệnh tật, và thường khi linh hồn hay con người thật bên trong có thể lãng quên cõi trần, cái thực tại đầy ảo tính.

 

4. Again a pause ensues. This is the point where the physical elemental can at times regain its hold upon the etheric body, if that is deemed desirable by the soul, if death is not part of the inner plan, or if the physical elemental is so powerful that it can prolong the process of dying. This elemental life will sometimes fight a battle lasting for days and weeks. When, however, death is inevitable, the pause at this point will be exceedingly brief, sometimes only for a matter of seconds. The physical elemental has lost its hold, and the etheric [477] body awaits the final “tug” from the soul, acting under the Law of Attraction.

4. Lại một kỳ ngơi nghĩ nữa. Đây là thời điểm mà tinh linh thể xác đôi khi có thể tái giữ chặt thể sinh lực, nếu đó là điều linh hồn thấy cần thiết, nếu cái chết chưa phải là một phần của kế hoạch, hoặc nếu tinh linh thể xác quá mạnh tới nỗi có thể kéo dài tiến trình chết. Tinh linh này đôi khi kéo dài cuộc tranh chấp này nhiều ngày và nhiều tuần. Tuy nhiên, khi chết là chuyện không thể tránh được, khoảng ngơi nghỉ ở điểm này thường rất ngắn, đôi khi chỉ vài giây. Tinh linh xác thân mất đi sự kiểm soát và thể dĩ thái chờ đợi cú giật mạnh cuối cùng của linh hồn hành động theo Luật Hấp dẫn.

 

5. The etheric body emerges from the dense physical body in gradual stages and at the chosen point of exit. When this emergence is complete, the vital body then assumes the vague outline of the form that it energized, and this under the influence of the thought-form of himself which the man has built up over the years. This thought-form exists in the case of every human being, and must be destroyed before the second stage of elimination is finally complete. We will touch upon this later. Though freed from the prison of the physical body, the etheric body is not yet freed from its influence. There is still a slight rapport between the two, and this keeps the spiritual man still close to the body just vacated. That is why clairvoyants often claim to see the etheric body hovering around the death bed or the coffin. Still interpenetrating the etheric body are the integrated energies which we call the astral body and the mental vehicle, and at the center there is a point of light which indicates the presence of the soul.

5. Thể dĩ thái ra khỏi thể xác từ từ ở cửa thoát chọn sẵn. Khi nó rút ra khỏi hoàn toàn, thể dĩ thái có lại hình dạng mờ nhạt của thân xác, do ảnh hưởng của hình tư tưởng mà con người đã tạo qua bao năm. Hình tư tưởng này tồn tại ở mọi người và phải được phá bỏ trước khi giai đoạn loại bỏ thứ hai hoàn tất. Chúng ta sẽ nói đến điều này sau. Dù đã thoát khỏi ngục tù thể xác, thể dĩ thái vẫn chưa tách hẳn khỏi ảnh hưởng của xác thân, vẫn còn mối liên kết nhỏ giữa hai thể và điều ấy giữ cho con người thật còn ở gần với xác thân vừa bỏ đi. Đó là lý do tại sao đôi khi những người có nhãn thông thường cho là thấy thể dĩ thái lượn lờ chung quanh giường người chết hoặc quan tài. Cũng đừng quên là thể tình cảm và thể trí vẫn còn thấu nhập trong thể sinh lực, và ở giữa thể sinh lực còn điểm sáng cho thấy sự hiện diện của linh hồn.

6. The etheric body is gradually dispersed as the energies of which it is composed are reorganized and withdrawn, leaving only the pranic substance which is identified with the etheric vehicle of the planet itself. This process of dispersal is, as I have earlier said, greatly aided by cremation. In the case of the undeveloped person, the etheric body can linger for a long time in the neighborhood of its outer disintegrating shell because the pull of the soul is not potent and the material aspect is. Where the person is advanced, and therefore detached in his thinking from the physical plane, the dissolution of the vital body can be exceedingly rapid. Once it is accomplished, the process of restitution is over; the man [478] is freed, temporarily at least, from all reaction to the attractive pull of physical matter; he stands in his subtle bodies, ready for the great act to which I have given the name “The Art of Elimination.”

6. Thể dĩ thái tan rã dần khi những năng lựơng tạo thành nó được xếp đặt lại và rút đi, chỉ để lại chất liệu sinh khí (pranic substance) vốn đồng nhất với thể dĩ thái của chính hành tinh. Tiến trình tan rã này được trợ lực rất nhiều do việc hỏa thiêu như tôi đã nói trước đây. Trong trường hợp của người chưa tiến hóa, thể dĩ thái còn lảng vảng một thời gian dài trong vùng quanh thể xác đang tan rã, vì sức hút của linh hồn chưa mạnh bằng lực hút của vật chất. Với người tiến hóa và do đó tâm trí không còn ràng buộc vào cõi trần, sự tan rã của thể dĩ thái có thể xảy ra cực kỳ mau lẹ. Một khi hoàn tất, việc hoàn nguyên coi như xong, con người được tự do , ít nhất là tạm thời, khỏi những thu hút của vật chất, y ở trong các thể thanh của mình, sẵn sàng cho tác động lớn mà tôi gọi là “Thuật Loại bỏ” (“Art of Elimination”).

One thought emerges as we conclude this inadequate consideration of the death of the physical body in its two aspects: that thought is the integrity of the inner man. He remains himself. He is untouched and untrammelled; he is a free agent as far as the physical plane is concerned, and is responsive now to only three predisposing factors:

  1. The quality of his astral-emotional equipment.
  2. The mental condition in which he habitually lives.
  3. The voice of the soul, often unfamiliar but sometimes well known and loved.

Individuality is not lost; the same person is still present upon the planet. Only that has disappeared which was an integral part of the tangible appearance of our planet. That which has been loved or hated, which has been useful to humanity or a liability, which has served the race or been an ineffectual member of it, still persists, is still in touch with the qualitative and mental processes of existence, and will forever remain—individual, qualified by ray type, part of the kingdom of souls, and a high initiate in his own right.

Một ý tưởng nảy ra khi chúng ta kết thúc phần nghiên cứu chưa đầy đủ về cái chết của xác thân ở hai khía cạnh của nó: đó là sự toàn vẹn của con người bên trong. Y vẫn là chính y. Y không bị ảnh hưởng và không bị tổn hại, y không còn vướng mắc với cõi trần và giờ chỉ còn đáp ứng với ba yếu tố sau:

  • Tình cảm thường ngày của mình
  • Trí tuệ mà anh hằng sử dụng
  • Tiếng nói của linh hồn, thường thì xa lạ nhưng đôi khi quen thuộc.

Cá tính không mất đi; vẫn con người đó hiện hữu trên hành tinh này. Cái biến mất chỉ là hình hài vật chất, là một phần trong tổng thể của hành hài sắc tướng của hành tinh chúng ta. Cái được yêu mến hoặc ghét bỏ, cái đã hữu dụng cho nhân loại hoặc chỉ là một món nợ, cái đã phụng sự nhân loại hoặc là một thành viên không hiệu quả, vẫn tồn tại, vẫn tiếp xúc với các tiến trình định tính và trí tuệ của cuộc sống, và sẽ mãi mãi hiện hữu một cách riêng biệt, được phẩm định bằng cung của y, là một phần của giới linh hồn, và là một điểm đạo đồ cao cấp với quyền riêng của nó.

6004 — Tổng số lần đọc 1 — Hôm nay

  4 comments for “Sự Chết – Phần 2: Diễn tiến của sự chết – Tiến trình hoàn nguyên (Restitution)

  1. Jupiter nguyen
    June 3, 2015 at 8:37 pm

    Xin vô cùng cảm ơn bài viết của bạn. Tôi lúc nào cũng nghiên cứu cả ngàn lần mỗi bài viết của bạn về giáo lý của Master Tibetan Djwhal Khul.

  2. Jupiter nguyen
    June 4, 2015 at 11:18 pm

    Tôi cảm thấy Việc hoả táng rất là tốt, vừa tiết kiệm đất đai, chi phí và không gây ô nhiễm môi trường.

  3. Jupiter nguyen
    June 5, 2015 at 9:18 am

    Sau khi nghiên cứu bài trích dịch trên và suy gẫm rất nhiều. Tôi cảm thấy đã đến lúc mà tôi không còn ham sống trong Tam giới nữa. Tôi không bao giờ sợ chết vì cái chết chỉ là một trò đùa vô nghĩa đối với tôi. Tôi cảm thấy thật là một điều tuyệt vời khi ta có thể thoát khỏi mọi sự ràng buộc của thể xác và bước vào một cõi giới khác kỳ diệu hơn. Quả thật thể xác là một ngục tù và mọi đau khổ là từ đó. Có một câu châm ngôn rất hay là ” Muốn Thì Được ” , do đó tôi nghĩ mỗi chúng ta sẽ được những gì mà chúng ta hằng mong muốn nhưng mà tôi lại đang sống như một người đang sống trong thế giới của những người điên và những điều mà tôi ham muốn thì không nằm ở trong thế gian này. How do I know what to do !

    • Cnguyen
      January 28, 2016 at 10:53 pm

      Xác thân chúng ta như món quà được trao tặng. Hãy sống và phụng sự xứng đáng với món quà này. Không sợ cái chết không có nghĩa là muốn chết để được sang thế giới tốt đẹp hơn. Cuọc sống có ý nghĩa riêng của nó. Hãy quý trọng và sống cho xứng đáng. Giải quyết khó khăn và mâu thuẫn là quy luật của sự phát triển và tiến hoá. 🙂

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *