Sự chết – Phần I: Cứu rỗi từ sự chết

Đây là bài đầu tiên trong loạt bài nói về sự chết, cái mà đức DK gọi là “tiến trình huyền nhiệm mà tất cả hình hài đều phải trải qua“, và thường bị xem như là một kết cục ghê sợghê sợ bởi vì người ta chưa hiểu biết về nó. Bài được trích dịch từ chương Salvation from Death, trong quyển A Treatise on White Magic. Đây là phần tiếp theo của chương Salvation from our thought forms cũng trong quyển A Treatise on White Magic mà chúng tôi đã trích dịch trong một bài trước đây. Ở đây, Ngài dùng từ cứu rỗi từ sự chết không có ý nghĩa thoát khỏi cái chết, để trường sinh bất tử, mà là cứu rỗi khỏi sự sợ hãi cái chết, bởi vì hiện nay đa số nhân loại đều sợ chết, bị ám ảnh bởi các chết. Người càng duy vật càng sợ chết. Do đó, làm sao thoát ra được nỗi lo sợ này? Ngài nói trong tương lai khi con người hiểu biết thêm về thế giới vô hình, biết rằng con người không phải là xác thân vật chất, thì ý nghĩa cuộc sống sẽ thay đổi hoàn toàn. Mục đích của đời sống không phải là sở hữu vật chất, của cải… mà là thể hiện bản chất thiêng liêng của con người. Khi đó, sự chết không còn là nỗi ghê sợ nữa, mà là “một kết cục huy hoàng của cuộc sống”, “một kết cục vui vẻ hằng mong đợi đối với anh và những người xung quanh”, và “cảnh qua đời sẽ được coi là cơ hội đáng vui, vui hơn cả việc sinh nở và cưới hỏi”. 

Bạn sẽ tìm thấy trong bài rất nhiều điều bổ ích, các kỹ thuật thực tập cho việc chết. Ví dụ bạn sẽ được học về:

  • Ba đường thoát ra của tâm thức khi con người chết;
  • Hai sợi chỉ tâm thức và sợi chỉ sự sống;
  • Sự khác nhau và giống nhau giữa ngủ và chết
  • Bốn qui luật đơn giản để chuẩn bị cho cái chết mai sau. Và cuối cùng là
  • Những việc có thể làm để cho người sắp chết ra đi nhẹ nhàng.

Trong bài bạn cũng biết thêm việc các bậc tiến hoá cao có thể biết trước cái chết, và có thể thoát xác tuỳ ý. 

Nhân tiện chúng tôi cũng xin nói đến việc kéo dài sự sống của hình thể mà nhiều người thường hiểu lầm. Sự kéo dài sự sống của hình hài khi nó đã đến chu kỳ tan rả, đã làm xong nhiệm vụ trong kiếp sống của nó rồi là điều không nên. Bởi vì Định luật Chu lỳ (Law of Cycle) là định luật của vũ trụ, có sinh thì có diệt; diệt rồi để tái sinh trong hình thể tốt đẹp hơn. Do đó, kéo dài sự sống của hình hài khi nó không còn hữu ích nữa là một việc trái tự nhiên, đi ngược lại định luật,đi ngược lại ý muốn của linh hồn. Nó thể hiện sự chưa giác ngộ, bám víu vào hình hài vật chất. Còn việc ướp xác còn tệ hại hơn thế nữa, bởi vì nó nói lên sự quá bám víu vào hình hài vật chất. Trong quyển A Treatise on Cosmic Fire, đức DK nói về sự kéo dài sự sống hình hài, xác thể (A Treatise on Cosmic Fire trang 1069)

Ở đây có một hiện tượng lạ lùng trong giới nhân loại được gọi một cách sai lầm là sự kéo dài sự sống; đúng ra nó phải được gọi là sự kéo dài đời sống của hình hài. Y học ngày nay đang làm mọi cách để duy trì sự sống trong hình hài bệnh tật và không còn thích hợp, những hình thể này nếu để cho tư nhiên thì đã bị đào thải từ lâu. Do đó, các hình hài này giam hảm sự sống, buộc tinh hoa sự sống phải quay trở lại xác thể nhiều lần vào giờ phút giải thoát . Theo thời gian và khi có nhiều hiểu biết hơn, nền Y học hiện đại đúng nghĩa sẽ mang tính phòng ngừa hoàn toàn. Nó sẽ tập trung vào việc duy trì đời sống đơn tử của đơn tử nhân loại, và thúc đẩy các tiến trình phòng ngừa duy trì, và sự hoạt động trơn tru của sự sống xoay tròn của đơn tử, và như thế đi đúng theo quĩ đạo đúng đắn … nhưng nó không đi xa hơn thế nữa, và khi kiếp sống đã hoàn thành, khi bánh xe cuộc sống đã dừng lại, khi giờ giải thoát đã điểm, khi đã đến lúc hoàn trả cái tinh tuý về với trung tâm của nó, khi đó công việc xem như đã hoàn tất và hình hài bị thải bỏ. Nhưng điều này không thể xảy ra được cho tới khi gia đình nhân loại đã đạt đến một giai đoạn tiến hoá khi mà những sự hư hỏng hiện tại đã bị loại bỏ thông qua lối sống tinh khiết và sự suy nghĩ trong sạch. Khi đó con người vẫn hoạt động cho đến tuổi già, hoặc cho đến khi chân ngã nhận thức rằng công việc đặc biệt trong kiếp sống đã hoàn thành xong, thu hồi tia sự sống thấp và rút ngọn lửa trung tâm về. Điều này đương nhiên đòi hỏi những kiến thức và quan năng mà hiện tại còn thiếu trong nhân loại.

There might here be noted the curious phenomenon, in the human kingdom which is erroneously termed the prolongation of life; it might more truthfully be called the perpetuation of the form. Medical science today strains every effort to retain life in forms diseased and inadequate; these Nature, if left to herself, would long ago have discarded. They thereby imprison the life, and force back the life essence again and again into the sheath at the moment of liberation. In course of time and with more knowledge, true medical science will become purely preventative. It will concentrate its ability on preserving the atomic life of the human atom, and at furthering the preservative protective processes, and the functionary smoothness of the atomic rotary life, thus conducing to the correct following of the human orbital path. But further than that it will not go, and when the course of nature has been run, when the wheel of life has run down, when the hour for liberation has struck, when the time has come for the return of the essence to its center, then the work will be recognized as completed, and the form discarded. But this will not, however, be possible until the human family has reached a stage [1069] when, through pure living and clean thinking, the present corruptions have been eliminated. Men will then function on into old age, or until the Ego, realizing the particular work to be accomplished in any one life has been duly worked out, calls in the lower spark of life, and withdraws the central point of fire. This naturally presupposes knowledge and faculties at present lacking. [CF 1069]

Chúng tôi hi vọng cung cấp cho bạn những hiểu biết hữu ích qua bài trích dịch trên đây. Trong bài có sử dụng một số tư liệu của website www.phungsutheosophia.org. Xin cám ơn tác giả của tài liệu.

 

Cứu rỗi từ Sự chết — Salvation from Death

 

Đề tài của chúng ta giờ đây là sự cứu rỗi khỏi bản chất xác thể (body nature) thông qua tiến trình chết. Các bạn cần lưu ý hai điều sau khi chúng ta nghiên cứu cách thức cứu rỗi này:

Thứ nhất, khi nói bản chất xác thể (body nature) tôi muốn nói đến phàm ngã gắn kết (integrated personality), hay là xác thân, thể dĩ thái, thể cảm dục, và thể trí. Tất cả các thể này tạo thành các lớp vỏ hay hình thể ngoại tại của linh hồn đầu thai. Khía cạnh tâm thức đôi khi tập trung vào thể này, đôi lúc ở thể kia, hoặc đồng hoá với hình thể hoặc với linh hồn. Người bình thường làm việc thoải mái và có ý thức tự ngã trong xác thân và thể cảm xúc. Người sáng suốt và tiến hoá cao thêm vào hai thể này sự kiểm soát có ý thức thể trí, tuy chỉ ở trong một vài khía cạnh của nó như khả năng ghi nhớ và phân tích. Đôi khi, y cũng thành công trong việc hợp nhất các thể này thành một phàm ngã hoạt động một cách có ý thức. Người tầm đạo bắt đầu hiểu đôi chút ý nghĩa của sự sống làm linh hoạt phàm ngã, trong khi người đệ tử thì sử dụng cả ba, bởi vì y đã phối kết hay chỉnh hợp linh hồn, thể trí, và bộ óc xác thịt, và như thế bắt đầu hoạt động với bộ máy nội tại hay phương diện năng lượng của mình.

Thứ hai sự cứu rỗi này được thực hiện thông qua sự hiểu biết đúng đắn cái kinh nghiệm huyền bí mà chúng ta gọi là chết. Đây sẽ là chủ đề của chúng ta, và đề tài thật rộng lớn đến nỗi tôi chỉ có thể trình bày một vài cách thức mà người tầm đạo có thể suy nghĩ, và đưa ra một vài tiên đề mà y có thể triển khai thêm sau này. Chúng ta sẽ tự giới hạn chủ yếu vào cái chết của thể xác.

Our subject now is salvation from the body nature through the process of death.

Two things must be borne in mind as we seek to study the means of this salvation:

  • First, by the body nature I mean the integrated personality, or the human equipment of physical body, vital or etheric vehicle, the matter (or mode of being) of the desire nature, and the mind stuff. These constitute the sheaths or outer forms of the incarnated soul. The consciousness aspect is sometimes focused in one and sometimes in another, or is identified with the form or with the soul. The average man works with facility and self-consciousness in the physical and astral bodies. The intelligent and highly evolved man has added to these two the conscious control of his mental apparatus, though only in certain of its aspects, such as the memorizing or analyzing faculties. He has also, in some cases, succeeded in unifying these three into a consciously functioning personality. The aspirant is beginning to understand something of the principle of life which is animating the personality, whilst the disciple is utilizing all three, because he has coordinated or aligned the soul, the mind, and the brain and is therefore beginning to work with his subjective apparatus or energy aspects.
  • Secondly, this salvation is brought about through a right understanding of the mystical experience we call This is to be our theme, and the subject is so immense that I can only indicate certain lines along which the aspirant may think, and posit certain premises which he can later elaborate. We shall confine ourselves also primarily to the death of the physical body. [494]

Trước tiên chúng ta hãy định nghĩa tiến trình huyền nhiệm mà tất cả hình hài đều phải trải qua và thường là cái kết cục ghê sợ duy nhất—ghê sợ bởi vì người ta chưa hiểu biết về nó. Cái trí của con người kém phát triển đến nỗi sự sợ hãi cái không biết, sự kinh sợ cái không quen thuộc, và việc bám chặt vào hình hài đã đưa đến tình trạng một trong những sự diễn biến tốt lành nhất trong chu trình đời sống của Đứa Con của Thượng đế bị xem như cái cần phải tránh hoặc trì hoãn càng lâu càng càng tốt.

Let us first of all define this mysterious process to which all forms are subject and which is frequently only the dreaded end—dreaded because it is not understood. The mind of man is so little developed that fear of the unknown, terror of the unfamiliar, and attachment to form have brought about a situation where one of the most beneficent occurrences in the life cycle of an incarnating Son of God is looked upon as something to be avoided and postponed for as long a time as possible.

Nếu chúng ta có thể nhận thức được thì chết là một trong những hoạt động mà chúng ta thường thực hiện nhất. Chúng ta đã chết biết bao lần và sẽ còn tiếp tục chết trong tương lai. Chết là một trạng thái của tâm thức. Phút trước chúng ta ý thức nơi cõi trần và phút sau chúng ta rút về một cảnh giới khác rồi tích cực sinh hoạt ở đó. Khi nào mà tâm thức chúng ta còn đồng hoá với phương diện hình hài thì cái chết vẫn là nỗi ghê sợ đối với chúng ta. Ngay khi chúng ta biết rằng chúng ta là linh hồn và chúng ta có thể chuyển di tâm thức hay thức tỉnh ở một cõi khác, hay vào một hình thể khác tuỳ ý, hoặc trong bất kỳ chiều hướng nào bên trong hình thể của Thượng đế, chừng đó chúng ta không còn biết đến cái chết.

Death, if we could but realize it, is one of our most practiced activities. We have died many times and shall die again and again. Death is essentially a matter of consciousness. We are conscious one moment on the physical plane, and a moment later we have withdrawn onto another plane and are actively conscious there. Just as long as our consciousness is identified with the form aspect, death will hold for us its ancient terror. Just as soon as we know ourselves to be souls, and find that we are capable of focusing our consciousness or sense of awareness in any form or on any plane at will, or in any direction within the form of God, we shall no longer know death.

Chết với người trung bình là một kết cục tai họa, nó gây ra việc chấm dứt mọi liên hệ với những người chung quanh, ngưng lại mọi hoạt động thể chất, cắt đứt hết mọi tình thương và lòng yêu mến, cùng đi vào miền đáng sợ chưa được biết. Nó tương tự như phải rời bỏ căn phòng sáng sủa ấm cúng, thân yêu quen thuộc, nơi người thân tụ họp để bước một mình vào đêm tối lạnh lẽo đầy kinh hoàng, phập phồng lo sợ, hi vọng điều tốt đẹp nhất và không biết cái gì đang chờ.

Death for the average man is the cataclysmic end, involving the termination of all human relations, the cessation of all physical activity, the severing of all signs of love and of affection, and the passage (unwilling and protesting) into the unknown and the dreaded. It is analogous to leaving a lighted and a warmed room, friendly and familiar, where our loved ones are assembled, and going out into the cold and dark night, alone and terror stricken, hoping for the best and sure of nothing.

Nhưng người ta lại quên rằng mỗi tối trong lúc ngủ chúng ta chết ở cõi trần và sống động linh hoạt ở chỗ khác. Ta quên rằng mình đã từng bỏ thể xác một cách dễ dàng; bởi vì con người chưa thể làm tâm thức não bộ nhớ lại việc rút lui ấy, về khoảng thời gian linh động sinh hoạt ở bên kia, nên họ không liên hệ được cái chết với giấc ngủ. Cái chết chỉ là sự ngơi nghỉ dài hơn, ngưng hoạt động ở cõi trần lâu hơn, chúng ta chỉ đã “xuất dương” trong một thời gian lâu hơn. Giấc ngủ hằng ngày và cái chết giống hệt nhau, chỉ có sự khác biệt là trong giấc ngủ sợi chỉ từ điện hay là dòng năng lượng dọc theo đó những dòng sinh lực chảy còn nguyên vẹn và tạo thành đường rút lui trở lại thể xác. Khi chết, sợi chỉ này bị đứt, thực thể hữu thức không thể trở lại xác thân, và xác thân đó mất đi nguyên khí gắn kết sẽ tan rả.

But people are apt to forget that every night, in the hours of sleep, we die to the physical plane and are alive and functioning elsewhere. They forget that they have already achieved facility in leaving the physical body; [495] because they cannot as yet bring back into the physical brain consciousness the recollection of that passing out, and of the subsequent interval of active living, they fail to relate death and sleep. Death, after all, is only a longer interval in the life of physical plane functioning; one has only “gone abroad” for a longer period. But the process of daily sleep and the process of occasional dying are identical, with the one difference that in sleep the magnetic thread or current of energy along which the life force streams is preserved intact, and constitutes the path of return to the body. In death, this life thread is broken or snapped. When this has happened, the conscious entity cannot return to the dense physical body and that body, lacking the principle of coherence, then disintegrates.

Chúng ta cần nhớ rằng mục đích và ý chí của linh hồn, sự quyết tâm thiêng liêng để hiện hữu và để hành động sử dụng sợi chỉ linh hồn, hay là sutrama, sinh mệnh tuyến, như là phương tiện để biểu lộ trong hình thể. Sinh mệnh tuyến này phân thành hai sợi chỉ  hay hai dòng năng lượng khi nó đến xác thể, và “trụ” vào—nếu tôi có thể diễn đạt như thế—tại hai nơi trong cơ thể. Điều này tượng trưng cho sự phân hoá của Atma hay Tinh Thần vào hai phản ảnh của nó là linh hồn và xác thân. Linh hồn hay là khía cạnh tâm thức, là cái mà khiến con người thành một thực thể có lý trí, biết suy nghĩ, “trụ” một phương diện của sợi chỉ linh hồn vào một điểm trong bộ óc, nằm trong vùng của tùng quả tuyến. Phương diện khác của của sự sống làm linh hoạt mọi nguyên tử của cơ thể và tạo thành nguyên lý của sự gắn kết , đi đến tim và trụ ở đó. Nhờ thế hoạt động trên cõi trần có thể được và biểu lộ khách quan trở thành cách thể hiện tạm thời.

It should be remembered that the purpose and will of the soul, the spiritual determination to be and to do, utilizes the thread soul, the sutratma, the life current, as its means of expression in form. This life current differentiates into two currents or two threads when it reaches the body, and is “anchored”, if I might so express it, in two locations in that body. This is symbolic of the differentiations of Atma, or Spirit, into its two reflections, soul and body. The soul, or consciousness aspect, that which makes a human being a rational, thinking entity, is “anchored” by one aspect of this thread soul to a “seat” in the brain, found in the region of the pineal gland. The other aspect of the life which animates every atom of the body and which constitutes the principle of coherence or of integration, finds its way to the heart and is focused or “anchored” there. From these two points, the spiritual man seeks to control the mechanism. Thus functioning on the physical plane becomes possible, and objective existence becomes a temporary mode of expression.

An trụ trong bộ óc, linh hồn làm con người thành một thực thể thông minh, biết lý luận, có ngã thức và biết định hướng cho mình. Họ ý thức ở các mức độ khác nhau về đời sống chung quanh tùy theo mức tiến hóa và mức độ phát triển của bộ máy của y. Bộ máy ấy biểu lộ ra thành ba thành phần. Trước hết là hệ thống các đường từ lực (nadis)  và bảy luân xa, kế đó là hệ thần kinh với ba nhánh: não tủy, hệ trực giao cảm và thần kinh ngoại biên, sau chót là hệ thống tuyến nội tiết mà ta có thể xem như khía cạnh đậm đặc nhất của sự biểu lộ ngoại tại của hai cái kia.

The soul, seated in the brain, makes man an intelligent rational entity, self-conscious and [496] self-directing; he is aware in varying degree of the world in which he lives, according to the point in evolution and the consequent development of the mechanism. That mechanism is triple in expression. There are first of all the nadis and the seven centers of force; then the nervous system in its three divisions: cerebro-spinal, sympathetic, and peripheral; and then there is the endocrine system, which might be regarded as the densest aspect or externalization of the other two.

An trụ ở tim, linh hồn là nguyên lý sự sống, cái nguyên lý phát sinh năng lực chủ động, giữ cho các nguyên tử ở vị trí đúng của nó và tuân phục ‘ý muốn sống’ của linh hồn. Cái nguyên lý sự sống này dùng hệ tuần hoàn làm phương cách biểu lộ và làm tác nhân kiểm soát, và do sự liên hệ chặt chẽ giữa mạch máu với các tuyến nội tiết, ta có hai khía cạnh của hoạt động linh hồn mang lại với nhau để làm con người thành một thực thể sống động có ý thức, linh hoạt, được quản trị bởi linh hồn và biểu lộ mục đích của linh hồn trong mọi hoạt động của sự sống hằng ngày.

The soul, seated in the heart, is the life principle, the principle of self-determination, the central nucleus of positive energy by means of which all the atoms of the body are held in their right place and subordinated to the “will-to-be” of the soul. This principle of life utilizes the blood stream as its mode of expression and as its controlling agency, and through the close relation of the endocrine system to the blood stream, we have the two aspects of soul activity brought together in order to make man a living, conscious, functioning entity, governed by the soul, and expressing the purpose of the soul in all the activities of daily living.

Do vậy, cái chết theo nghĩa đen là sự rút lui hai dòng năng lực từ đầu và tim, làm mất ý thức hoàn toàn và tan rã thể xác. Cái chết khác với giấc ngủ ở điểm cả hai sợi chỉ bị rút về, còn trong giấc ngủ, chỉ có sợi chỉ tâm thức ở não bị rút, khi có việc ấy xảy ra, con người trở nên mê man, có nghĩa ý thức hay tri giác của họ trụ ở một thể khác. Tâm trí họ không còn hướng đến vật có hình hài sờ mó được mà quay sang cõi cao, trụ vào thể thanh. Khi chết cả hai sợi chỉ sự sống và sợi chỉ tâm thức cùng rút, họp thành một sợi năng lực. Sinh lực không còn tuôn vào máu và quả tim ngưng làm việc, cũng như bộ óc ngưng ghi nhận. Căn nhà thành vô chủ. Bởi sợi chỉ tâm thức đứt, con người không thể quay trở vào thể xác, còn thể xác bị mất nguyên lý kết hợp (qua sợi chỉ trụ ở tim) sẽ bắt đầu tan rã.

Death, therefore, is literally the withdrawal from the heart and from the head of these two streams of energy, producing consequently, complete loss of consciousness and disintegration of the body. Death differs from sleep in that both streams of energy are withdrawn. In sleep only the thread of energy, which is anchored in the brain is withdrawn, and when this happens the man becomes unconscious. By this we mean that his consciousness or sense of awareness is focused elsewhere. His attention is no longer directed towards things tangible and physical but is turned upon another world of being and becomes centered in another apparatus or mechanism. In death, both the threads are withdrawn or unified in the life thread. Vitality ceases to penetrate through the medium of the blood stream and the heart fails to function [497] just as the brain fails to record, and thus silence settles down. The house is empty. Activity ceases except that amazing and immediate activity which is the prerogative of matter itself and which expresses itself in the process of decomposition.

Do đó, từ một vài khía cạnh nào đó, tiến trình đó chỉ rằng sự duy nhất của con người với vạn vật hữu hình; nó chỉ ra rằng là một phần của chính thiên nhiên, ở đây ta hiểu thiên nhiên là xác thể của đấng mà “nơi Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”. Trong ba từ này—sống, chuyển động, tồn tại—là toàn bộ câu chuyện.

From certain aspects, therefore, that process indicates man’s unity with everything that is material; it demonstrates that he is part of nature itself and by nature we mean the body of the one life in whom “we live and move and have our being”. In those three words—living, moving and being—we have the entire story.

  • Hiện hữu là ý thức, ngã thức, và tự biểu lộ. Đầu và bộ óc của con người là những biểu tượng ngoại môn của điều này.
  • Sống là năng lượng, dục vọng trong hình thể, sự gắn kết và bám chặt vào một ý tưởng. Tim và máu là những biểu tượng ngoại môn của điều này.
  • Chuyển động chỉ sự tích hợp và đáp ứng của thực thể đang hiện hữu, có ý thức, sống động vào hoạt động phổ quát, và điều này dạ dày, tuyến tụy và gan là những biểu tượng.
  • Being is awareness, self-consciousness and self-expression and of this man’s head and brain are the exoteric symbols.
  • Living is energy, desire in form, coherence and adhesion to an idea and of this the heart and the blood are the exoteric symbols.
  • Moving indicates the integration and response of the existing, aware, living entity into the universal activity, and of this the stomach, pancreas and liver are the symbols.

Có một điều cần chú ý mặc dù có lạc đề đôi chút, là trong trường họp khùng điên, ngây dại và ở tuổi già suy nhược thần kinh, sợi chỉ ở não bị rút về còn sợi chỉ chuyên về sự sống vẫn trụ ở quả tim. Thành ra sức sống tiếp tục mà không còn tri giác thông minh, có sự cử động mà không còn định hướng khôn ngoan. Ở tuổi già lú lẫn, thân xác sinh hoạt có vẻ như còn tri thức, nhưng đó chỉ là ảo tưởng do thói quen, do cái tiết điệu đã lập từ xưa mà không phải do mục đích xếp đặt rõ ràng.

It is interesting, though incidental to our subject, to bear in mind that in cases of imbecility and idiocy and in that stage of old age which we call senile decay, the thread which is anchored in the brain is withdrawn, whilst that which conveys the life impulse or urge remains still anchored in the heart. There is life but no intelligent awareness; there is movement but no intelligent direction; in the case of senile decay, when there has been a high grade apparatus utilized in life, there may be the appearance of intelligent functioning but that is an illusion due to old habit and to old established rhythm but not to coordinated coherent purpose.

Cũng cần phải lưu ý rằng cái chết xảy ra do hai sợi chỉ bị rút về theo ý muốn linh hồn, dù  con người không hay biết chút nào ý đó. Việc diễn tiến tự động với đa số người, vì khi linh hồn rút đi ý muốn biểu lộ của nó thì phản ứng không tránh được ở cõi trần là cái chết, hoặc là cả hai sợi chỉ của sự sống và năng lượng lý luận bị rút về, hoặc là chỉ một sợi chỉ tâm thức bị rút, để lại sợi chỉ của sự sống vẫn còn hoạt động qua tim mà không còn ý thức thông minh. Linh hồn đã tập trung ở nơi khác và bận rộn với công việc riêng của nó trên cõi giới riêng của nó.

It must be noted also that death is, therefore, undertaken at the direction of the ego, no matter how unaware a human being may be of that direction. The process works automatically with the majority, for when the soul withdraws its attention the inevitable reaction on the physical plane is death, either by the abstraction of the [498] dual threads of life and reason energy, or by the abstraction of the thread of energy which is qualified by mentality, leaving the life stream still functioning through the heart but no intelligent awareness. The soul is engaged elsewhere and occupied on its own plane with its own affairs.

Trong trường hợp người tiến hoá cao, họ thường có thể thấy trước khi nào mình qua đời, ấy là do sự tiếp xúc với linh hồn và biết được ý muốn của nó. Đôi khi người ta còn có thể biết luôn ngày chết, cộng thêm sự nhất định giữ cho mình thức tỉnh đến phút cuối. Ở các bậc điểm đạo đồ sự việc còn hơn thế nữa, họ có hiểu biết thông minh về luật hoàn hư (law of abstraction), nó cho phép họ bước ra khỏi thể xác với đầy đủ tri thức để sang hoạt động ở cõi trung giới. Làm như vậy họ có tâm thức liên tục và không có sự ngắt quãng nào xảy ra giữa tâm thức ở cõi trần và sau khi chết. Con người biết mình vẫn như trước, tuy không còn thể xác để sinh hoạt ở cõi trần. Y vẫn ý thức được tình cảm và tư tưởng của người mình thương, dù y không thể cảm nhận hay tiếp xúc với xác thân trọng trược. Họ có thể liên lạc với người thân ở cõi tình cảm hay bằng viễn cảm xuyên qua thể trí nếu cả hai đồng nhịp tương ứng với nhau, nhưng sự liên lạc bằng ngủ quan không thể được nữa. Dầu vậy, nên nhớ là tiếp xúc ở cõi tình cảm và cõi trí có thể chặt chẽ và gần gũi hơn trước kia, bởi vì nay y đã được tự do khỏi mọi trói buộc của xác thân.

In the case of highly developed human beings we often find a sense of prevision as to the death period; this is incident upon egoic contact and awareness of the wishes of the ego. It involves sometimes a knowledge of the very day of death, coupled to a preservation of self-determination up to the final moment of withdrawal. In the case of initiates there is much more than this. There is an intelligent understanding of the laws of abstraction and this enables the one who is making the transition to withdraw consciously and in full waking awareness out of the physical body and so to function on the astral plane. This involves the preservation of continuity of consciousness so that no hiatus occurs between the sense of awareness on the physical plane and that of the after death state. The man knows himself to be as he was before, though without an apparatus whereby he can contact the physical plane. He remains aware of the states of feeling and of the thoughts of those he loves, though he cannot perceive or contact the dense physical vehicle. He can communicate with them on the astral plane or telepathically through the mind if they and he are en rapport, but communication that involves the use of the five physical senses of perception lies necessarily out of his reach. It is useful to remember, however, that astrally and mentally the interplay can be closer and more sensitive than ever before for he is freed of the handicap of the physical body.

Tuy nhiên có hai chuyện gây bất lợi cho việc này: một là lòng đau khổ vò xé và cảm xúc bi thương quá độ nơi người còn ở lại, và ở người trung bình, cái thứ hai là sự thiếu hiểu biết cùng hoang mang của chính họ khi anh đối diện với trạng thái mới, tuy nó chỉ là cảnh cũ nếu chúng ta có thể nhận biết được. Một khi con người mất đi nỗi sợ chết và đã thiết lập một sự hiểu biết về thế giới sau khi chết mà không dựa trên ảo giác và điên loạn, hoặc dựa trên các kết luận (thường thì kém thông minh) của người đồng cốt trung bình đưa ra (thường thì y lấy chi tiết từ chính hình tư tưởng của y, do y và những người tham dự buổi lên đồng tạo ra), nhân loại sẽ kiểm soát được tiến trình cái chết một cách đúng đắn. Người thân còn ở lại sẽ được chăm sóc cẩn thận để không mất mối liên hệ và phí phạm năng lực.

Two things, however, militate against this interplay: one is the grief and violent emotional upset of those left behind and, in the case of the average human being, the other is the man’s own ignorance [499] and bewilderment as he stands faced by what are to him new conditions, though they are really old conditions, if he could but realize it. Once men have lost the fear of death and have established an understanding of the after death world which is not based on hallucination and hysteria or on the conclusions (oft unintelligent) of the average medium, who speaks under the control of his own thought-form (built by himself and the circle of sitters), we shall have the process of death properly controlled. The condition of those left behind will be carefully handled so that there is no loss of relationship and no false expenditure of energy.

Hiện nay có sự khác biệt to lớn giữa việc con người khi lọt lòng được chăm chút một cách khoa học, và cách thức hoàn toàn mù quáng, nhuộm nét sợ hãi, thiếu hiểu biết khi ta đưa họ ra khỏi kiếp sống này. Hôm nay tôi đang tìm cách để mở một cánh đến một phương pháp mới và khoa học hơn trong việc xử lý các quá trình của sự chết cửa trong thế giới phương Tây, và tôi muốn trình bày thật rõ ràng. Những gì tôi phải nói không có chút nào phủ nhận y học hiện đại với các kỹ năng của mình và các phương pháp để làm bớt đau đớn. Tất cả những gì tôi muốn là một cách tiếp cận lành mạnh về sự chết; tất cả những gì tôi muốn làm là nêu với các bạn một gợi ý rằng khi cơn đau đã giảm dần và sự suy nhược đã đến, người hấp hối được phép để chuẩn bị cho sự ra đi, ngay cả khi dường như khi đó họ vô thức.

There is a big difference now between the scientific method of bringing people into incarnation and the perfectly blind and oft frightened and surely ignorant way in which we usher them out of incarnation. I seek today to open the door in the occident to a newer and more scientific method of handling the process of dying, and let me make myself perfectly clear. What I have to say in no way abrogates modern medical science with its palliatives and skill. All I plead for is a sane approach to death; all I seek to make is a suggestion that when pain has worn itself out and weakness has supervened, the dying person be permitted to prepare himself, even if apparently unconscious, for the great transition.

Chớ quên rằng cần có sức mạnh và một sự kềm giữ mạnh trên bộ máy thần kinh để gây ra đau đớn. Phải chăng chúng ta không thể hình dung một thời điểm khi mà cái chết sẽ là một kết cục huy hoàng của cuộc sống? Phải chăng chúng ta không thể hình dung thời điểm khi những giờ khắc trên giường bệnh chờ chết được xem như khúc dạo đầu vinh quang cho sự rút lui có ý thức? Có chăng sự kiện một người phải loại bỏ các trở ngại của xác thân là một kết cục vui vẻ hằng mong đợi đối với anh và những người xung quanh anh? Bạn có thể hình dung thời điểm khi mà thay vì nước mắt và nỗi sợ hãi, cùng sự từ chối không chịu nhận cái không thể tránh khỏi, người sắp chết và bạn bè của mình sẽ cùng thỏa thuận về ngày giờ ra đi, và sự chết không gì khác hơn nỗi hân hoan mừng rỡ?  Người ở lại không có cảm giác buồn rầu mà cảnh qua đời sẽ được coi là cơ hội đáng vui, vui hơn cả việc sinh nở và cưới hỏi. Tôi muốn nói với bạn rằng điều này sẽ sớm xảy ra đối với những người khôn ngoan, và từng bước một sẽ xảy đến cho tất cả mọi người.

Forget not that it takes strength and a strong hold on the nervous apparatus to produce pain. Is it impossible to conceive of a time when the act of dying will be a triumphant finale of life? Is it impossible to vision the time when the hours spent on the death bed may be but a glorious prelude to a conscious exit? When the fact that the man is to discard the handicap of the physical sheath may be for him and those around him the long waited for and joyous consummation? Can you not visualize the time when instead of tears and fear and the refusal to recognize the inevitable, the dying person and [500] his friends would mutually agree on the hour and that nothing but happiness would characterize the passing? That in the minds of those left behind the thought of sorrow will not enter and death beds will be regarded as happier occasions than births and marriages? I tell you, that before so very long this will be deeply so for the intelligent of the race, and little by little for all.

Bạn nói rằng hiện giờ chỉ có niềm tin về sự bất tử và không có bằng chứng nào chắc chắn. Những chỉ dẫn về điều đó nằm trong sự tích luỹ của các lời chứng, trong các đảm bảo nội tại trong thâm tâm con người, trong thực tế của niềm tin vào sự tồn tại vĩnh cửu như là một ý tưởng trong tâm trí của nhân loại. Nhưng chỉ dẫn đó sẽ nhường chỗ cho sự xác tín và hiểu biết trong vòng một trăm năm nữa khi mà một sự kiện sẽ diễn ra mang đến sự mặc khải cho nhân loại. Đó là diễn biến sẽ biến hy vọng thành xác quyết và niềm tin thành sự hiểu biết. Trong khi chờ đợi, chúng ta hãy vun bồi một thái độ mới về cái chết và thiết lập một khoa học mới về cái chết. Hãy để nó không còn là một điều vượt ngoài sự thể kiểm soát của chúng ta và như thế khuất phục chúng ta, và hãy để chúng ta bắt đầu kiểm soát tiến trình bước qua bên kia cửa tử, và để hiểu phần nào những kỹ thuật của quá trình chuyển tiếp.

You say there are as yet only beliefs as to immortality and no sure evidences. In the accumulation of testimony, in the inner assurances of the human heart, in the fact of belief in eternal persistence as an idea in the minds of men lies sure indication. But indication will give place to conviction and knowledge before another hundred years has elapsed, for an event will take place and a revelation be given to the race which will turn hope into certainty and belief into knowledge. In the meantime, let a new attitude to death be cultivated and a new science of death be inaugurated. Let it cease to be the one thing we cannot control and which inevitably defeats us and let us begin to control our passing over to the other side, and to understand somewhat the technique of transition.

 

Lưới dĩ thái trong não bộ — Web in the brain

Before I take up this subject in greater detail I would like to make reference to the “web in the brain”, which is intact for the majority but is non-existent for the illumined seer.

In the human body, as you know, we have an underlying, interpenetrating vital body which is the counterpart of the physical, which is larger than the physical and which we call the etheric body or double. It is an energy body and is composed of force centers and nadis or force threads. These underlie or are the counterparts of the nervous apparatus—the nerves and the nerve ganglia. In two places in the human vital body there are orifices of exit for the life force. One opening is in the solar plexus and the other is in the brain at the top of the head. [501] Protecting both is a closely woven web of etheric matter, composed of interlacing strands of life energy.

Trước khi tiếp tục đi sâu hơn vào đề tài tôi muốn đề cập đến “lưới trong não bộ,” đối với đa phần nhân loại lưới đó vẫn nguyên vẹn, nhưng nó không tồn tại đối với những người đã được soi sáng.

Như các bạn đã biết, trong cơ thể con người có một thể sinh lực gắn bó chặt chẽ với thể xác, là đối phần của thể xác và lớn hơn nó, và chúng ta hay gọi là thể dĩ thái. Nó là một thể năng lượng và bao gồm những luân xa hay các trung tâm lực và hệ thống những đường từ lực (nadis). Những đường từ lực này nằm bên dưới hệ thần kinh (bao gồm các dây thần kinh và các hạch thần kinh). Ở trong thể sinh lực có hai cửa thoát cho sợi chỉ sự sống. Một cửa nằm ở tùng thái dương và cái kia ở đỉnh đầu. Hai cửa được bảo vệ chặt chẽ bởi một màng bằng chất dĩ thái gồm những đường sinh lực đan chéo vào nhau.

During the process of death, the pressure of the life energy beating against the web produces eventually a puncturing or opening. Out of this the life force pours as the potency of the abstracting influence of the soul increases. In the case of animals, of infants and of men and women who are polarized entirely in the physical and astral bodies, the door of exit is the solar plexus and it is that web which is punctured, thus permitting the passing out. In the case of mental types, of the more highly evolved human units, it is the web at the top of the head in the region of the fontanel which is ruptured, thus again permitting the exit of the thinking rational being.

Khi xảy ra cái chết, sức ép của sinh lực đè lên làm rách màng lưới và tạo ra cửa thoát. Sinh lực sẽ tuôn ra khỏi cửa này dưới ảnh hưởng lôi kéo tăng dần của linh hồn. Trong trường hợp thú vật hay trẻ con và người định tâm hoàn toàn vào thể xác và thể tình cảm, cửa rút lui là tùng thái dương và màng lưới ở đây bị chọc thủng cho phép sự sống đi ra. Đối với người tiến hóa cao hơn và người biết sử dụng lý trí, màng lưới ở đỉnh đầu bị rách thành lối thoát.

In psychics and in the case of mediums and lower seers (clairvoyant and clairaudient people) the solar plexus web is permanently ruptured early in life and easily therefore they pass in or out of the body, going into trance, as it is called, and functioning on the astral plane. But for these types there is no continuity of consciousness and there seems no relation between their physical plane existence and the happenings which they relate whilst in trance and of which they usually remain totally unaware in the waking consciousness. The whole performance is below the diaphragm and is related primarily to animal sentient life. In the case of conscious clairvoyance and in the work of the higher psychics and seers there is no trance, obsession or mediumship. It is the web in the brain which is punctured and the opening in that region permits the inflow of light, information and inspiration; it confers also the power to pass into the state of Samadhi which is the spiritual correspondence to the trance condition of the animal nature.

Với người đồng cốt và ai có thông nhãn thông nhĩ bậc thấp, màng lưới ở tùng thái dương đã bị rách sớm trong đời nên họ dễ dàng đi ra hay đi vào cơ thể, hóa mê man và sinh hoạt ở cõi tình cảm, nhưng họ không có tâm thức liên tục, và do đó không nối liền sự sống ở cõi trần với những gì họ chứng kiến trong lúc mê, lại thường tỏ ra không ý thức các việc ấy trong lúc tỉnh. Trọn công việc xảy ở dưới hoành cách mạc (diaphragm) và liên quan chính yếu đến sự sống hữu thức thú tính trong người. Trong trường hợp người có thông nhãn và sử dụng một cách ý thức, cũng như với người có quan năng thông linh bậc cao, không có việc mê man, bị ám hay thành đồng cốt. Màng luới ở não bị rách và cửa thoát ở đó cho phép hiểu biết, hứng khởi và giác ngộ đi vào; nó cũng cho khả năng đi vào trạng thái đại định (samadhi), là cái tương đương về mặt tinh thần so với tình trạng mê man của bản chất thú vật.

In the process of death these are, therefore, the two main exits: the solar plexus for the astrally polarized, [502] physically biased human being and therefore of the vast majority, and the head center for the mentally polarized and spiritually oriented human being. This is the first and most important fact to remember and it will easily be seen how the trend of a life tendency and the focus of the life attention determine the mode of exit at death. It can be seen also that an effort to control the astral life and the emotional nature and to orient one’s self to the mental world and to spiritual things has a momentous effect upon the phenomenal aspects of the death process.

Như vậy cái chết xảy ra qua hai cửa thoát: tùng thái dương cho người sống thiên về tình cảm, vật chất và do đó áp dụng cho đa số nhân loại; và cửa ở đầu cho người sống thiên về lý trí và người có khuynh hướng tinh thần. Đây là điểm đầu tiên và quan trọng nhất cần được lưu ý, và ta dễ dàng thấy rằng khuynh hướng sống trong đời và sự định tâm hàng ngày sẽ quyết định cách rút lui khi chết. Ta cũng có thể thấy nỗ lực kiểm soát tình cảm và bản chất cảm xúc, cùng sự định tâm về chuyện trí tuệ và tinh thần có ảnh hưởng lớn lao ra sao khi chết.

If the student is thinking clearly, it will be apparent to him that one exit concerns the spiritual and highly evolved man, whilst the other concerns the low grade human being who has scarcely advanced beyond the animal stage. What then of the average man? A third exit is now in temporary use; just below the apex of the heart another etheric web is found covering an orifice of exit. We have, therefore, the following situation:

Nếu người đạo sinh suy nghĩ kỹ y có thể thấy là có đường rút lui cho người thiên về tinh thần đã tiến hóa, và cho người còn thấp không hơn thú vật bao nhiêu, vậy còn người trung bình? Có một đường thứ ba đang được dùng tạm thời, nằm ngay dưới đỉnh quả tim. Do đó chúng ta thấy có các tình trạng sau đây:

  1. Cửa thoát ở trong đầu dành cho hạng trí thức, các đệ tử và các điểm đạo đồ.
  2. Cửa thoát trong tim dành cho người tốt bụng, tử tế, công dân tốt, người bạn khôn ngoan và người hoạt động nhân đạo.
  3. Cửa thoát thứ ba nằm trong vùng của tùng thái dương dành cho các người sống nặng về cảm tính, không khôn ngoan, thiếu suy nghĩ, và cho những ai mà thú tính còn mạnh.

Đây là điểm đầu tiên trong các thông tin mới sẽ từ từ sẽ trở thành kiến thức phổ biến ở phương Tây trong thế kỷ tới. Nhiều điều trong số đó đã được các nhà tư tưởng phương Đông biết đến và nằm trong bản chất của bước đầu tiên hướng tới một sự hiểu biết hợp lý của quá trình chết.

  1. The exit in the head, used by the intellectual type, by the disciples and initiates of the world.
  2. The exit in the heart, used by the kindly, well-meaning man or woman who is a good citizen, an intelligent friend and a philanthropic worker.
  3. The exit in the region of the solar plexus, used by the emotional, unintelligent, unthinking man and by those whose animal nature is strong.

This is the first point in the new information which will slowly become common knowledge in the West during the next century. Much of it is already known by thinkers in the East and is in the nature of a first step towards a rational understanding of the death process.

The second point to be grasped is that there can be a technique of dying and a training given during life which will lead up to the utilization of that technique.

Huấn luyện về kỹ thuật chuẩn bị cho cái chết — Training in the technique of death

Điểm thứ hai để cần phải nắm là có thể có một kỹ thuật chết và cách huấn luyện nhất định trong cuộc sống dẫn đến việc sử dụng kỹ thuật đó.

Liên quan đến việc đào tạo mà một người phải tự trải qua, tôi sẽ đưa ra một vài gợi ý sẽ truyền đạt một ý nghĩa mới cho nhiều công việc đang được thực hiện bởi tất cả những người tầm đạo. Các Huynh Trưởng của nhân loại đã dẫn dắt nhân loại qua nhiều thế kỷ dài, hiện đang bận rộn chuẩn bị cho nhân loại bước lên một bước tiến lớn tiếp theo. Điều này sẽ mang lại một sự liên tục của ý thức, nhờ đó sẽ loại bỏ tất cả nỗi sợ hãi về cái chết và liên kết các cõi giới hồng trần và cõi trung giới trong một mối quan hệ gần gũi đến mức chúng sẽ trong thực tế tạo thành một cảnh giới. Cũng như sự hợp nhất phải được thực hiện giữa các phương diện khác nhau của con người,  một sự hợp nhất tương tự cũng phải diễn ra trong các khía cạnh khác nhau của đời sống hành tinh. Các cảnh giới cũng phải hợp nhất giống như giữa linh hồn và thể xác. Điều này đã được thực hiện phần lớn giữa các cõi giới dĩ thái cõi hồng trần trọng trược. Hiện nay việc đó đang nhanh chóng xảy ra giữa cõi trần và cõi trung giới.

As regards the training to which a man can submit himself I will give a few hints which will be found to [503] convey a new meaning to much work now being done by all aspirants. The Elder Brothers of the race who have guided humanity through long centuries, are now busy preparing people for the next great step to be taken.

Trong các công việc đang được thực hiện bởi những người học hỏi trong tất cả các lãnh vực của tư tưởng và đời sống nhân loại, sự thống nhất này đang diễn tiến, và trong việc huấn luyện hiện đang được đề xuất cho các người tầm đạo, có những mục tiêu khác ngoài mục tiêu tạo ra sự hợp nhất giữa linh hồn và thể xác. Tuy nhiên, ta không đặt nặng việc này vì do có khả năng con người tập trung quá đáng cho các mục tiêu sai lầm. Các bạn cũng có thể hỏi liệu có thể đưa ra một tập hợp đơn giản các quy tắc mà tất cả những ai mong mỏi thiết lập một nhịp điệu sao cho chẳng những bản thân cuộc sống không chỉ thành trật tự và có tính xây dựng, nhưng khi thời điểm lìa bỏ xác thân đến , họ sẽ không gặp không khó khăn hoặc vấn đề. Do đó tôi sẽ cung cấp cho bạn bốn quy tắc đơn giản iên kết với nhiều điều mà tất cả các sinh viên hiện nay đang làm:

In the work being done by seekers in all departments of human thought and life, this unification is proceeding and in the training now suggested to earnest and sincere aspirants, there are other objectives than just the one of producing soul and body at-one-ment. No emphasis, however, is laid upon them, owing to the ability of man unduly to emphasize the wrong objectives. It might well be asked if it is possible to give a simple set of rules that could be followed now by all who seek to establish such a rhythm that life itself is not only organized and constructive, but when the moment for vacating the outer sheath arrives, there will be no problem nor difficulty. I will therefore, give you four simple rules that link up with much that all students are now doing:

Các qui luật đơn giản chuẩn bị cho sự ra đi — Simple rules to prepare for the great departure

  1. Learn to keep focused in the head through visualization and meditation and through the steady practice of concentration; develop the capacity to live increasingly as the king seated on the throne between the eyebrows. This is a rule that can be applied to the every day affairs of life. [504]

1. Học cách tập trung vào đầu thông qua việc hình dung và tham thiền, và qua việc tập trung tư tưởng. Phát triển khả năng để càng lúc sống như một vị vua ngự trên ngai giữa hai chân mày. Đây là một qui luật có thể áp dụng cho mọi sự việc trong đời sống hàng ngày.

  1. Learn to render heart service and not an emotional insistence on activity directed towards handling the affairs of others. This involves, prior to all such activity, the answering of two questions: —Am I rendering this service to an individual as an individual, or am I rendering it as a member of a group to a group? Is my motive an egoic impulse, or am I prompted by emotion, ambition to shine and love of being loved or admired? These two activities will result in the focusing of the life energies above the diaphragm and so negate the attractive power of the solar plexus. Hence, that center will become increasingly inactive and there will not be so much danger of puncturing the web in that locality.

2. Học cách làm việc bằng trái tim phụng sự thay vì bằng cảm tính trong những hoạt động liên quan đến người khác. Điều này đòi hỏi, trước mỗi hành động hãy trả lời hai câu hỏi:

Tôi làm công việc phụng sự này với tư cách một cá nhân cho cá nhân hay như là một thành viên của nhóm cho một nhóm? Tôi làm việc bởi sự thúc giục của linh hồn hay do sự thúc giục của tình cảm, tham vọng được nổi bật và ý muốn được thương yêu, ngưỡng mộ? Hai điều này sẽ tập trung năng lượng của cuộc sống vào trên tùng thái dương và do đó chống lại sức hút của tùng thái dương. Do đó luân xa đó sẽ từ từ trở nên yếu kém và màng luới nơi ấy sẽ mất dần cơ hội bị chọc thủng.

  1. Learn, as you go to sleep, to withdraw the consciousness to the head. This should be practiced as a definite exercise as one falls to sleep. One should not permit oneself to drift off to sleep, but should endeavor to preserve the consciousness intact until there is a conscious passing out onto the astral plane. Relaxation, close attention, and a steady drawing upwards to the center in the head should be attempted, for until the aspirant has learned to be steadily aware of all processes in going to sleep and to preserve at the same time his positivity, there is danger in this work. The first steps must be taken with intelligence and followed for many years until facility in the work of abstraction is achieved.

3. Mỗi khi ngủ hãy học cách rút tâm thức về đầu. Điều này có thể thực hành như một bài tập xác định một khi đi ngủ. Bạn không cho phép mình mơ màng trôi vào giấc ngủ, và giữ cho thức tỉnh luôn đến khi bước qua một cách có ý thức khỏi thể xác vào cõi tình cảm. Thư giãn, quan sát cẩn thận, và thử rút lui từ từ lên luân xa đỉnh đầu, bởi vì điều này tiềm ẩn nguy hiểm trừ phi khi người tầm đạo đã học cách giữ nhận thức ổn định trong suốt các tiến trình trong khi ngủ, và đồng thời vẫn duy trì tính tích cực. Những bước đầu tiên này cần thực hành với sự hiểu biết và cách đều đặn qua nhiều năm cho tới khi việc rút lui trở thành dễ dàng.

  1. Record and watch all phenomena connected with the withdrawing process, whether followed in the meditation work or in going to sleep. It will be found, for instance, that many people wake with an almost painful start just as they have dropped asleep. This is due to the slipping out of the consciousness through a web which is not adequately clear and through an orifice which is partially closed. Others may hear an intensely loud snap in the region of the head. This is caused by the vital airs in the head of which we are not usually aware and is [505] produced by an inner aural sensitivity which causes awareness of sounds always present but not usually registered. Others will see light as they fall asleep, or clouds of color, or banners and streamers of violet, all of which are etheric phenomena. These phenomena which are of no real moment, are all related to the vital body, to pranic emanations, and to the web of light.

4. Ghi lại và xem xét tất cả các hiện tượng gắn liền với quá trình rút lui, dù là sau lúc tham thiền hay khi ngủ. Các bạn sẽ thấy, cho ví dụ, nhiều người thức giấc với một khởi đầu gần như đau đớn giống như họ đã rơi xuống khi đang ngủ. Điều này là do tâm thức lướt qua một lưới dĩ thái không đủ trong suốt và qua một lỗ thoát bị bịt kín một phần. Những người khác có thể nghe thấy một âm thanh tách lớn trong vùng đầu. Điều này được gây ra bởi các luồng sinh lực trong đầu mà bình thường chúng ta không ý thức đến. Chúng được tạo ra bởi một sự nhạy cảm về âm thanh nội tại vốn khiến sự nhận thức về âm thanh luôn hiện hữu nhưng thường không được ghi nhận. Một số người khác sẽ nhìn thấy ánh sáng khi rơi vào giấc ngủ, hay những đám mây màu sắc, hoặc các ban nơ hoặc các biểu ngữ màu tím, tất cả đều là những hiện tượng dĩ thái. Những hiện tượng đó là không có ý quan trọng thực sự gì cả, tất cả đều liên quan đến thể sinh lực, đến các luồng bức xạ prana, và lưới ánh sáng.

 

The carrying on of this practice and the following of these four rules over a period of years will do much to facilitate the technique of the death bed, for the man who has learned to handle his body as he falls asleep, has an advantage over the man who never pays any attention to the process.

Các điểm cần xem xét để làm cho sự chết dễ dàng hơn — Points which will make for an easier passing over of the transient soul.

In relation to the technique of dying it is only possible for me at this time to make one or two suggestions. I deal not here with the attitude of the attendant watchers, I deal only with those points which will make for an easier passing over of the transient soul.

First, let there be silence in the chamber. This is, of course, frequently the case. It must be remembered that the dying person may usually be unconscious. This unconsciousness is apparent but not real. In nine hundred cases out of a thousand the brain awareness is there, with a full consciousness of happenings, but there is a complete paralysis of the will to express and complete inability to generate the energy which will indicate aliveness. When silence and understanding rule the sick room, the departing soul can hold possession of its instrument with clarity until the last minute and can make due preparation.

Việc thực hành và tuân theo bốn qui luật trong nhiều năm sẽ sẽ làm cho phút ly trần hóa dễ dàng, vì người nào biết cách rời bỏ xác thân lúc ngủ sẽ có ưu thế hơn người không để ý mảy may tới việc này.

Liên quan đến kỹ thuật chết vào lúc này tôi chỉ có thể gợi ý một hoặc hai điều. Tôi không đề cập ở đây đến thái độ của những người quan sát,mà tôi chỉ đề cập đến những điểm làm cho việc ra đi của linh hồn dễ dàng hơn.

Trước tiên, cần giữ yên lặng trong phòng. Đương nhiên điều này thường như thế. Cần nhớ rằng người sắp ra đi thường có thể vô ý thức. Họ có vẻ mê nhưng sự thực không hẳn vậy. Chín trong mười trường hợp não bộ vẫn còn tỉnh và cảm biết mọi chuyện đang xảy ra chung quanh, nhưng ý muốn biểu lộ bị tê liệt hoàn toàn, cũng như không còn khả năng để thể hiện sự sống động. Khi trong phòng yên tĩnh và có sự cảm thông, linh hồn ra đi có thể làm chủ thể xác đến phút chót và chuẩn bị mọi việc có thứ tự.

Later, when more anent color is known, only orange lights will be permitted in the sick room of a dying person, and these will only be installed with due ceremony when there is assuredly no possibility of recovery. Orange aids the focusing in the head, just as red [506] stimulates the solar plexus and green has a definite effect upon the heart and life streams.

Sau này khi chúng ta biết nhiều hơn về màu sắc, chỉ có đèn màu cam được phép dùng trong phòng, và các đèn này chỉ được sử dụng với nghi lễ thích ứng khi biết chắc người bệnh không thể phục hồi. Màu cam giúp cho tâm thức trụ ở đầu, cũng như màu đỏ kích thích tùng thái dương và màu lục tạo ảnh hưởng trên tim cùng hệ tuần hoàn

Certain types of music will be used when more in connection with sound is understood, but there is no music as yet which will facilitate the work of the soul in abstracting itself from the body, though certain notes on the organ will be found effective. At the exact moment of death, if a person’s own note is sounded, it will coordinate the two streams of energy and eventually rupture the life thread, but the knowledge of this is too dangerous to transmit yet and can only later be given. I would indicate the future and the lines along which future occult study will run.

Mai sau, khi con người hiếu biết nhiều hơn về âm thanh sẽ có thể dùng vài loại nhạc, nhưng hiện nay chưa có loại nhạc nào trợ giúp cho việc rút lui được dễ dàng, tuy rằng có vài note trên đàn organ có thể có tác dụng. Vào đúng lúc chết, nếu làm ngân vang cái nốt riêng của con người, nó sẽ hòa hợp hai đường năng lực và làm đứt sợi chỉ sống. Đây là hiểu biết quá nguy hiểm nên chưa được phổ biến sâu rộng mà phải chờ một thời gian nữa. Tôi chỉ nêu ra cho tương lai và chỉ đường hướng mà khoa huyền linh trong tương lai sẽ nghiên cứu.

It will be found also that pressure on certain nerve centers and on certain arteries will facilitate the work. (This science of dying is held in custody, as many students know, in Tibet.) Pressure on the jugular vein and on certain big nerves in the region of the head and on a particular spot in the medulla oblongata will be found helpful and effective. A definite science of death will inevitably later be elaborated, but only when the fact of the soul is recognized and its relation to the body has been scientifically demonstrated.

Ngoài ra, áp lực trên một số hạch thần kinh và động mạch cũng làm công việc thuận lợi hơn (như nhiều sinh viên biết, khoa học này được giữ gìn cẩn mật ở Tây Tạng). Đè lên tĩnh mạch cổ họng hay vài thần kinh lớn ở đầu cũng như ở điểm trên hành tủy (medulla oblongata) sẽ hữu ích và có hiệu quả. Rồi thì con người sẽ thiết lập một khoa học rõ ràng về cái chết, nhưng chỉ thực hiện được vậy khi công nhận có linh hồn và sự biểu lộ của nó qua thân xác được chứng minh một cách khoa học.

Mantric phrases will also be employed and definitely built into the consciousness of the dying person by those around him, or employed deliberately and mentally by himself. The Christ demonstrated their use when be cried aloud, “Father, into Thy hands I commend my spirit.” And we have another instance in the words, “Lord, now lettest Thou Thy servant depart in peace.” The steady use of the Sacred Word chanted in an undertone or on a particular key (to which the dying man will be found to respond) may later constitute also a part of the ritual of transition accompanied by the anointing with oil, as preserved in the Catholic Church. Extreme unction has an occult, scientific basis. The top of the [507] head of the dying man should also symbolically point towards the East and the feet and the hands should be crossed. Sandalwood only should be burned in the room and no incense of any other kind permitted, for sandalwood is the incense of the first or destroyer ray and the soul is in process of destroying its habitation.

Người trong phòng quanh giường bệnh có thể sử dụng một vài thánh ngữ để tác động vào tâm thức của người sắp ra đi, người sắp ra đi cũng nên tự mình đọc thánh ngữ trong đầu hay cố gắng niệm. Đức Christ đã thể hiện điều này khi Ngài kêu to trên thánh giá rằng: Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn trong tay Cha. Ngày sau, nghi lễ phút qua đời sử dụng thánh ngữ AUM, đọc nhẹ và đều đặn, theo một âm bậc thấp hoặc thích hợp với người hấp hối, nó có thể đi kèm với phép xức dầu như hiện nay được Công giáo áp dụng. Phép ấy có căn bản khoa học huyền bí. Đầu nằm quay về hướng đông, xếp hai tay tréo và chân cũng vậy. Chỉ nên đốt trầm mà không dùng hương nào khác, vì trầm thuộc cung một, mang đặc tính hủy diệt và linh hồn đang thực hiện việc làm tiêu tán hình hài nó tạm cư.

Đây là tất cả những gì tại thời điểm này tôi có thể truyền đạt cho công chúng về đề tài cái chết. Nhưng tôi mong các bạn thúc đẩy việc nghiên cứu về cái chết và kỹ thuật chết càng xa càng tốt và tiếp tục công việc khảo cứu huyền linh về đề tài.

This is all I can at this time communicate on the subject of death for the consideration of the general public. But I conjure all of you to push the study of death and its technique as far as possible and to carry forward occult investigation of this matter.

(Còn tiếp)

7088 — Tổng số lần đọc 4 — Hôm nay

  5 comments for “Sự chết – Phần I: Cứu rỗi từ sự chết

  1. jupiter nguyen
    May 20, 2015 at 7:09 am

    ” …, and find that we are capable of focusing our consciousness or sense of awareness in any form or on any plane at will … We shall no longer know Death ” . Tôi nghĩ rằng người nào đã đạt đến trình độ tâm thức mà có thể thức tỉnh ở bất cứ trong hình hài nào , trong bất cứ cơ thể nào và trong bất cứ cõi giới nào thì thật sự người đó đã trở nên bất tử và cái chết chỉ là một trò đùa đối với họ . Và tôi có thể hiểu câu nói ” We shall no longer know Death ” cũng có nghĩa rằng sự sống và sự chết chỉ là một.

  2. jupiter nguyen
    May 20, 2015 at 7:45 am

    ” … Just as long as our consciousness is identified with the form aspect . Death will hold for us its ancient terror ” . Tôi nghĩ rằng người nào mà còn bám víu vào Hình Hài Sắc Tướng thì nỗi kinh hải về cái chết đối với họ là điều hiển nhiên và không sao tránh khỏi. Nhưng đối với người nào mà không còn bám víu vào hình hài sắc tướng cũng như không còn bám víu vào bất cứ vật gì hay người nào khi còn sống thì sẽ không có nỗi kinh hải về cái chết đối với họ . Và đối với tôi nỗi sợ hải về cái chết là một sự điên rồ. Tôi cũng muốn nhắc lại lời dạy vàng ngọc của master D.K ” Bạn đừng bám víu vào ai cả và bạn cũng đừng để bất cứ ai bám víu vào bạn cả ” .

  3. Jupiter nguyen
    May 21, 2015 at 8:47 am

    Trong bài trích dịch trên có đoạn ” … trong trường hợp người tiến hoá cao họ thường thấy trước ngày chết … ấy là do sự tiếp xúc với linh hồn và biết được ý muốn của nó … sự nhất định giữ cho mình thức tỉnh đến phút cuối … nó cho phép họ bước ra khỏi thể xác với đầy đủ tri thức … ” . Tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng cái ý muốn mãnh liệt trước khi ngủ hoặc trước khi qua đời thật vô cùng linh nghiệm và kỳ lạ. Trước đây tôi đã làm thí nghiệm trên chính mình ( thực hành ) về Pháp môn Yoga về Giấc Mộng của Mật Tông Tây Tạng và một pháp môn của ông X ( một nhân vật mà tôi không muốn nêu tên ). Để kiểm chứng sức mạnh và sự linh nghiệm của Ý muốn cuối cùng của tâm thức ( linh hồn ) trước khi ngủ ông X đã chỉ dạy rằng trước khi ngủ bạn hãy có một ý muốn mãnh liệt là hãy thức dậy đúng vào một giờ nào đó mà bạn muốn và chỉ tập trung vào ý nghĩ đó thôi trước khi bạn chìm vào giấc ngủ. Và tôi đã thử làm như vậy để kiểm tra có đúng hay không ? Khi tôi bắt đầu ngủ tôi muốn rằng tôi sẽ thức dậy vào lúc 5 giờ sáng ( hay đúng hơn là ra lệnh cho tâm thức phải thức dậy vào lúc 5 giờ ) và quả thật khi tôi thức dậy và nhìn đồng hồ thì nó đúng 5 giờ và thực hành nhiều lần với những giờ chọn khác thì cũng đúng như vậy. Đó là điều kỳ lạ nó thể hiện cái ý muốn cuối cùng hay nguyện vọng cuối cùng của linh hồn trước khi ngủ hay qua đời thì rất là quan trọng và có linh nghiệm.

  4. jupiter nguyen
    May 22, 2015 at 9:02 am

    Bài trích dịch trên của Webmaster thật sự là một nguồn tài liệu Vô Cùng Hữu Ích và Hiếm Có. Trong cái gọi là ” Simple rules to prepare for the great departure ” . Tôi đặc biệt lưa ý đến quy luật 1 và quy luật 3 . Với sự hiểu biết và kinh nghiệm của tôi hiện nay thì tôi cho rằng quy luật 1 và 3 chính là ” bí mật ” của pháp môn ” Xuất Vía ” hay ” Xuất Hồn ” bởi vì khi ta thoát ra và bước vào cõi astral plane một cách có ý thức thì có nghĩa là ta đã Xuất Vía một cách có ý thức rồi. Nhưng tại sao master D.K chỉ nói đơn giản là ” Simples rules to prepare for the great departure ” , đó là một sự ” Che Giấu ” chăng ? và ” Che Giấu ” đối với ai ? Và do đó mà ở quy luật 3 master D.K đã khuyến cáo rằng nó có tiềm ẩn nguy hiểm và tôi cho rằng nó thật sự nguy hiểm cho những ai chưa Sẵn Sàng và chưa được chuẩn bị kỹ về Đạo hạnh cũng như về kiến thức ở cõi Astral plane. Khi đọc sách của master D.K tôi nhận thấy quả thật Ngài đã rất tinh vi và cẩn thận để Che Giấu những điều mà có thể nói là ” Những Bí Mật Chỉ Dành Cho Một Số Ít Đã Sẵn Sàng ” .

  5. Jupiter Nguyen
    October 8, 2017 at 12:27 pm

    Khi nói về nổi sợ chết thì tôi nhớ Krishnamurti đã nói rất hay và chính xác rằng người ta sợ chết là vì người ta ” sợ mất đi những gì mình đã biết ” .

    . Câu nói đó rất Minh Triết và chính xác , nếu chúng ra suy nghĩ kỹ thì chính việc ” mất đi những gì mình đã biết ” đó chính là sự cứu rỗi và là viên thuốc thần kỳ để xóa bỏ mọi đau khổ , phiền não và giúp cho tâm hồn trở nên tươi trẻ và hồn nhiên trở lại như trẻ thơ.

    . Tôi nghĩ câu nói đó cần phải hiểu cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng , người ta sợ mất đi mãi mãi những sự liên lạc , ràng buộc với gia đình, vợ con nhà cửa, bạn bè , sự nghiệp đã gầy dựng … Nhưng chính sự mất đi đó cũng sẽ làm mất đi những mối thù hằn của ta ( những kẻ đã hãm hại ta trong cuộc đời ) và cũng sẽ làm mất đi luôn những vết thương trong tâm hồn của ta .

    Do đó tôi nghĩ rằng chính việc ” mất đi những gì mình đã biết ” ( về phương diện tình cảm, tâm lý , hận thù , những mối liên hệ ràng buộc đối với gia đình , vợ con người thân …. ) chính là viên thuốc thần kỳ giúp chữa lành mọi vết thương và mọi sự phiền não trong tâm hồn.

    . Tôi nghĩ rằng chỉ có một điều không bao giờ mất đi đó chính là bản chất của linh hồn đó hay là sự khôn ngoan và minh triết của linh hồn.

    . Vì vậy tôi nghĩ rằng đối với ai mà không sợ ” mất đi những gì mình đã biết ” thì y thật sự sẽ không bao giờ sợ chết vì sợ chết tức là sợ mất đi những gì mình đã biết.

Leave a Reply