Quyền năng thông linh cao và thấp (3)

Việc khai mở quyền năng thông linh (Phần 1)

Chúng tôi nghĩ bài sau đây là một trong những bài hay nhất viết về các quyền năng thông linh cao và thấp của đức DK. Ngài giải thích rất rõ về các hiện tượng thông linh, các luân xa liên hệ, các hạng người hay giống dân mà các quyền năng đó xuất hiện. Và quan trọng nhất là Ngài giải thích cho ta hiểu hiện tượng nhiều người tuyên bố “gặp gỡ” các Chân sư trong giấc ngủ, trong lúc “xuất vía”, và làm cách nào mà ta phân biệt được chân giả trong những trường hợp như thế, tránh được huyễn cảm. Mary Lutyens, trong quyển “The Years of Awakening” có nhắc đến bức thư Krishnamurti viết Ông đã khóc vì những điều thiêng liêng nhất [điểm đạo và điểm đạo đồ] , những điều mà Ông tin tưởng tuyệt đối, bị “lôi vào bùn nhơ”; đức DK cũng từng viết Ngài ước gì bà HPB đừng tiết lộ chi cả về các Chân sư và Thánh Đoàn, vì sau đó nhiều người đã phàm tục hoá và tầm thường hóa hình ảnh của các Ngài. Ngày nay, những gì mà đức DK và Krishnamurti nói có lẽ chúng ta cần lặp lại nhiều lần hơn nữa. Chúng tôi mong muốn các bạn học đạo nghiền ngẫm các bài viết của đức DK để tránh cho mình những lầm lạc và huyễn cảm tai hại.

Bài trích trong quyển Esoteric Psychology II khá dài, sẽ chia thành ba phần liên tiếp. Phần đầu tiên do Thùy Dương dịch.

Các điểm cần lưu ý trong bài này:

  1. Trong mỗi con người chúng ta đều tiềm ẩn hai loại quyền năng: quyền năng thông linh cao và quyền năng tâm linh thấp. Những quyền năng này “là những quyền năng, năng lực và khả năng của Linh Hồn Duy Nhất, nhưng trong thời gian và không gian, một số trong chúng là biểu hiện của tâm thức động vật hay linh hồn động vật, một số là biểu hiện của linh hồn con người, và một số là của linh hồn thiêng liêng.”
  2. Những quyền năng thông linh bậc thấp được chia sẻ với giới động vật và với tất cả các giống dân kém tiến hoá của nhân loại.”
  3. Những quyền năng thấp không biểu thị cho một tình trạng tâm linh tiến bộ hay là một sự sở hữu hiếm hoi và độc đáo, khiến những ai sở hữu những quyền năng đó tài năng hơn, thông thái hơn và có khả năng khuyên bảo và chỉ dẫn những người khác hơn là người bình thường. Ta thấy rõ thái độ này bởi lượng khán giả rộng lớn mà họ diễn thuyết và tụ họp xung quanh họ, và sự sẵn lòng của công chúng để lắng nghe và trả tiền cho đặc ân và lợi ích của sự trình diễn và lời khuyên đó.”
  4. Sự khác biệt [567] giữa quyền năng bậc cao và thấp là “sự chủ động điều khiển tâm trí và sự thấu hiểu hoàn toàn,” trong khi sử dụng các quyền năng. Trong trường hợp các “nhà ngoại cảm” “những quyền năng bậc thấp được sử dụng một cách tự động, không được kiểm soát, và bị chi phối bởi những vấn đề không có tầm quan trọng thực sự và không được thấu hiểu theo bất kỳ cách nào bởi người sử dụng chúng.”
  1. Những ai sử dụng quyền năng bậc thấp: Có ba hạng người sử dụng nó

a. Những người mà trình độ tiến hóa của họ đủ thấp cho phép việc sử dụng chúng một cách tự động.

b. Những người “mang khả năng nhìn và nghe ở các phân cảnh của cõi trung giới, hay là đã “thực hiện huyền thuật” từ một kiếp sống trước—từ thời đại Atlantean sang kiếp sống hiện tại. Những quyền năng này đối với họ là tự nhiên, nhưng họ thường không hiểu về những quyền năng này, cũng như kiểm soát chúng bằng sự hiểu biết [568], và chúng thường làm cho người sở hữu quyền năng thành một nạn nhân hay một kẻ lợi dụng những quyền năng này.

c. Nhà thần bí trên con đường nhãn pháp, người mà thông qua việc mang năng lượng từ linh hồn xuống thông qua thiền định và nguyện vọng kích thích các luân xa tùng thái dương hay luân xa cổ họng và vì thế mở một cánh cửa đi vào cõi trung giới.

  1. Trong quyền năng bậc thấp, cái được tiết lộ trong nhãn thông hay nhĩ thông là cõi trung giới trong những cấp độ khác nhau.
  2. Những tiết lộ của những nhà nhãn thông và nhĩ thông đều “chân thật” … “Người đồng tử thực sự và chính xác liên hệ những gì anh ta nhìn và nghe thấy, và như thế là chân thành và thành thực, nhưng bởi vì anh ta không được đào tạo thực sự về nghệ thuật diễn dịch và về kỹ thuật phân biệt ảo tưởng với thực tế, anh ta tất yếu không thể làm gì nhiều hơn là mô tả những hiện tượng được nhìn thấy và những từ ngữ được nghe thấy.”
  3. Trong một số trường hợp đối với nhà thần bí đã mở quyền năng tương tự thế này, các hiện tượng được thấy và các lời được nghe có thể có một cấp bậc rất cao. Tuy nhiên, chúng vẫn thuộc cõi trung giới, bởi vì chúng liên quan đến những sự việc và những hiện tượng thấy được trên những phân cảnh giới cao hơn của cõi trung giới. Tùy khuynh hướng tâm linh của mình mà nhà thần bí sẽ thấy chúa (Christ), Phật, Krishna, Chân sư… nhưng tất cả đều chỉ là những hình tư tưởng, phản ảnh của các vị, chứ không thật.

Sau đây là đoạn quan trọng mà đức DK giải thích hiện tượng nhiều người tuyên bố được gặp Chân sư và được Chân sư dạy bảo.

“Nếu anh là một môn sinh huyền môn, hay một người theo Thông Thiên Học hay phái Hồng Hoa Thập Tự (Rosicrucian), anh ta có thể nhìn thấy hình ảnh của một trong các vị Chân Sư hay toàn bộ Thánh Đoàn; anh ta có thể nghe thấy lời nói và vì thế cảm thấy chắc chắn, vượt qua tất cả mọi tranh cãi, rằng Những Đấng Cao Cả đã chọn anh cho một đặc ân đặc biệt và một công việc phụng sự đặc biệt. Và tuy vậy, tâm thức của anh ta chưa bao giờ rời khỏi cõi trung giới và những tiếp xúc của anh ta mới chỉ là một biểu hiện tuyệt vời và đầy hứng khởi của các hiện tượng của cõi giới đó, phóng vào nội nhãn và nội nhĩ của anh thông qua ước vọng của anh.”

Tất cả điều này xảy ra thông qua sự hoạt động thái quá của luân xa tùng thái dương, được kích thích bởi năng lượng tuôn chảy từ các cõi cao mà anh ta có được khi tham thiền với ước nguyện. Các kết quả về mặt bản chất thuộc cõi tình cảm, và những phản ứng được phát triển và việc phụng sự được thực hiện theo sau đó cũng ở cấp độ tình cảm. Phần lớn của điều này thấy được trong các vị thầy trên thế giới tại thời điểm hiện nay ở nhiều đất nước.  Những vị thầy như thế đã và đang là những người chí nguyện thực sự. Tâm thức của họ đã thức tỉnh ở các cấp độ cao của cõi trung giới. Họ đã nhìn thấy những hình tư tưởng mà nhân loại đã tạo ra về Thánh Đoàn và những phản ảnh của Thánh Đoàn đó trên các phân cảnh giới này (vẫn là một nhóm những hình tư tưởng tiềm năng hơn) và được nghe những lời lặp đi lặp lại của điều đã được nói và nghĩ bởi những người mộ đạo ở mọi thời đại trên thế giới—tất cả những gì Chân, Thiện, Mỹ nhất của nó. Rồi họ tiến hành giảng dạy và công bố cái mà họ đã nghe thấy, nhìn thấy và học được và thường làm được nhiều điều tốt—ở các cấp độ của cõi trung giới. Tuy nhiên, tất cả họ đều như nhau, nhầm lẫn phản ảnh với thực tại, bản sao với bản gốc, và cái do con người tạo ra với cái do thiêng liêng tạo ra.

  1. Đức DK dạy ta làm thế nào để tránh những sai lạc huyễn tưởng như thế. Có ba điều phải thực hiện

a. Nuôi dưỡng một tinh thần khiêm nhường thật sự. Đừng cho mình là người đặc biệt được Chân sư lựa chọn riêng, chỉ mình có… “nó khiến người ta xem mình như người phát ngôn của các Chân Sư hay của Đức Christ; nó có khuynh hướng khiến họ chia rẽ trong các thái độ của họ đối với các nhà lãnh đạo hay các vị huấn sư khác, từ chối nhìn nhận nhiều phương diện khác nhau của công việc chung và nhiều phương thức khác nhau mà TRÍ của Thượng Đế đã tạo ra để tới được đông đảo quần chúng.”

b. Từ chối chấp nhận bất kỳ sự tiếp xúc hay thông điệp nào có ngụ ý phàm ngã hay khiến người tiếp nhận nó tách biệt ra, do đó có khuynh hướng phát triển mặc cảm Đấng Cứu Thế. [573] Tất cả mặc khải phải hướng đến tính bao gồm (inclusiveness) cùng với tiếng gọi phụng sự nhân loại.

c. Thoát khỏi sức hút tình cảm. Người đệ tử và nhà thần bí thực sự luôn phân cực trí tuệ. Tầm nhìn của anh ta thoát khỏi những phản ứng đánh lừa của luân xa tùng thái dương. Nhãn quang của anh đánh thức luân xa tim và khêu gợi sự hồi đáp của năng lượng phàm ngã của anh ta (tập trung trong luân xa ajna) và cuối cùng tạo ra một “sự tập trung vào điểm của ánh sáng”. Điều này biểu thị hoạt động tăng trưởng của trung tâm vùng đầu. Anh ta có thể, sau đó, sử dụng sức hấp tình cảm có kiểm soát trong ứng phó với đám đông nhưng bản anh ta tìm cách duy trì tự do khỏi tất cả mọi sự kiểm soát tình cảm.

 *************

b. Khai mở Các Năng Lực Thông Linh – Unfoldment of the Psychic Powers

Có nhiều mãnh lực chịu trách nhiệm cho việc khai mở các luân xa. Mãnh lực cơ bản chính là bản thân của lực tiến hóa, cộng với sự thôi thúc nội tại hướng đến sự bao gồm (inclusiveness) rộng lớn hơn luôn luôn có trong mỗi cá thể. Phương diện thứ hai này của nguyên lý tiến hóa cần mô tả chi tiết cẩn thận. Chúng ta đã bận bịu quá lâu với nỗ lực phát triển phương diện hình tướng của thiên nhiên để cho nó sẽ trở nên ngày càng nhạy cảm với môi trường của mình và vì thế tạo nên một bộ máy liên tục cải tiến. Nhưng ý tưởng nhị phân (tôi có nên gọi đó là Sự Thực, vì nó thực sự là như thế?) về sự phát triển ngày càng tăng khả năng bao gồm và sự thực của sự hiện hữu của một nhân tố bên trong, Cái Ngã, cái đem đến sự phát triển ổn định, cần được nhấn mạnh. Từ quan điểm của sinh viên huyền môn, có ba ý tưởng nằm đằng sau niềm tin này:

The forces which are responsible for the awakening of the centers are many. The primary one is the force of evolution itself, plus the inherent or innate forward-pressing urge towards greater inclusiveness which is always found in every individual being. This secondary aspect of the evolutionary principle needs careful elaborating. We have for too long been occupied with the effort to develop the form side of nature so that it shall become increasingly sensitive to its environment and thus build an ever improving mechanism. But the twofold idea (should I say Fact, for such it is?) of the development of an increasing capacity to include and the fact of the existence of the one interior factor, the Self, which brings about this steady development, needs emphasizing. From the standpoint of the occult student, there are three ideas which lie behind this belief:

    1. Sự thật về Con người Nội tại, Thực Thể bên trong hình tướng đó, người ngắm nhìn cuộc sống khi nó khai mở, người phát triển nhận thức về môi trường xung quanh và trở nên bao gồm – để dần dần cuối cùng hướng đến điểm tổng hợp.
    2. Sự thật về khả năng nội tại (hiện diện trong tất cả các hình thể của sự sống [556] ở mọi giới của tự nhiên) tiến triển hướng đến sự bao gồm lớn hơn, đi từ giới này đến giới khác trong quá trình khai mở này.
    3. Sự thật rằng nhân loại cấu tạo bởi một điểm trung tâm mà từ đó sự bao hàm này có thể phát triển một cách có ý thức. Cho đến nay, sự phát triển mang tính tự nhiên, bình thường và là một phần của sự thúc đẩy tiến hóa. Điều này vẫn còn tiếp tục, nhưng quá trình có thể được đẩy nhanh hơn (và thường như thế) bởi vì con người làm chủ được các quá trình tâm trí của mình và bắt đầu rèn luyện (như Con người Nội tại có ý thức) hướng đến những mục đích cuối cùng đã được ấn định.
  • The fact of the Indweller, the Entity within the form who looks on at life as it unfolds, who develops awareness of the environment and who becomes inclusive—eventually to the point of synthesis.
  • The fact of the inherent ability (found in all forms of life [556] in all kingdoms) to progress towards this greater inclusiveness, passing from kingdom to kingdom in this unfolding process.
  • The fact that humanity constitutes a central point from which this inclusiveness can be consciously developed. Hitherto, the development has been natural, normal and part of the evolutionary urge. This it still remains, but the process can be hastened (and frequently is) as man gains control of his mental processes and begins to work (as the conscious Indweller) towards appointed ends.

Tôi muốn làm rõ ràng những điểm này bởi vì chúng có một ảnh hưởng nhất định lên chủ đề của chúng ta nói về những khó khăn tâm linh của con người hiện đại. Những khó khăn này ngày càng gia tăng nhanh chóng và gây nên nhiều phiền muộn trong những người tin rằng sự phát triển những quyền năng thông linh bậc thấp là một chướng ngại cho cho sự phát triển tâm linh chân chính. Tuy nhiên, một số nhà thần bí xem các quyền năng này như những biểu thị của ân sủng linh thiêng, và như những bảo chứng cho sự nỗ lực thực tế của họ. Những người khác xem chúng như biểu hiện của một “sự trượt xuống từ thiên đàng” (sa ngã). Vì thế, tôi thấy rằng, việc phân tích về những quyền năng này, vị trí đúng đắn của chúng trên con đường phát triển, và hiểu biết về sự khác biệt giữa những quyền năng thông linh bậc cao và bậc thấp sẽ thực sự quý giá và sẽ khiến môn sinh trong tương lai tiến bước với sự hiểu biết và vững chắc hơn. Vì thế họ sẽ biết chắc chắn một cách chính xác hơn về bản chất của những tiếp xúc mà họ nhận thức được và về những phương tiện mà nhờ đó tiếp cận và đạt được những tiếp xúc này.

I wanted to make these points adequately clear because they have a definite bearing on our theme which concerns the psychic difficulties of modern man. These difficulties are rapidly growing and are causing much distress among those who believe that the development of the lower psychic powers is a hindrance to true spiritual development. Certain mystics regard these powers as indications of divine grace, however, and as guarantees of the reality of their endeavor. Others regard them as signifying a definite “fall from grace”. It seems to me, therefore, that an analysis of these powers, their correct placing upon the path of development, and a comprehension of the distinction between the higher and the lower powers will be of real value and will enable students in the future to proceed with a greater surety and knowledge. They will thus be more accurately sure of the nature of the contacts of which they become aware and of the means whereby these contacts are approached and gained.

Ý chính mà tôi muốn bạn lưu tâm đó là sự phát triển của Tính Bao Gồm (Inclusiveness). Tính bao gồm này là một đặc trưng nổi bật của linh hồn, của chân ngã, cho dù đó là linh hồn của con người, bản chất nhạy cảm của Thiên Tính Vũ Trụ (the cosmic Christ), hay là “the anima mundi”, linh hồn của thế giới. Tính bao gồm này có khuynh hướng hướng về sự tổng hợp [557]. Ta có thể thấy nó đang hoạt động ở một điểm nhất định nào đó của sự thành tựu trong con người, bởi vì con người bao gồm trong bản chất của mình tất cả những thành tựu của những chu kỳ tiến hóa trong quá khứ (trong những giới tự nhiên khác và trong những kiếp sống trước đây), cộng với tiềm năng của một sự bao gồm lớn hơn trong tương lai. Con người là đại thiên địa của tiểu thiên địa; những thành tựu và những tính chất đặc thù của các giới tự nhiên khác là của anh, được biến thành các khả năng của tâm thức. Tuy nhiên, anh được bao bọc trong và là một phần của một đại thiên địa còn lớn hơn, và phải ngày càng phải trở nên nhận thức hơn về điều này. Hãy để từ này, Sự Bao Gồm, chi phối suy nghĩ của bạn khi bạn đọc huấn thị này mà tôi đưa ra cho bạn nói về các quyền năng thông linh và ảnh hưởng của chúng.

The major idea which I would have you bear in mind is the development of Inclusiveness. This inclusiveness is the outstanding characteristic of the soul, or self, whether it is the soul of man, the sensitive nature of the cosmic Christ, or the anima mundi, the soul of the world. This inclusiveness tends [557] to synthesis. It can already be seen functioning at a definite point of fulfilment in man, because man includes in his nature all the gains of past evolutionary cycles (in other kingdoms in nature and in previous human cycles), plus the potentiality of a greater future inclusiveness. Man is the macrocosm of the microcosm; the gains and peculiar properties of the other kingdoms in nature are his, having been resolved into capacities of consciousness. He is, however, enveloped in and part of a still greater macrocosm, and of this greater Whole he must become increasingly aware. Let this word, Inclusiveness, govern your thinking as you read this instruction which I am giving you upon the psychic powers and their effect.

Ý tiếp theo mà tôi muốn bạn lưu ý đó là con người có khả năng bao gồm theo nhiều chiều hướng, cũng giống như một đường có thể được vẽ từ một tâm điểm của vòng tròn đến bất kỳ điểm nào trên đường tròn ngoại vi. Bạn phải nhớ rằng đối với một phần lớn sự nghiệp của y và đối với phần quan trọng nhất trong kinh nghiệm con người của mình, y vẫn là một diễn viên kịch, chiếm vị trí trung tâm của sân khấu và trong mắt của riêng mình, đang đóng vai ngôi sao (diễn viên chính); anh ta luôn ý thức về diễn xuất của mình và những phản ứng đối với diễn xuất đó. Khi con người chỉ hơn con vật một chút, khi anh ta ở trong trạng thái mà trước đây chúng ta gọi là tâm thức Lemurian và tâm thức Atlantean giai đoạn đầu, anh ta sống không suy nghĩ; cuộc sống trải ra như một toàn cảnh rộng lớn trước mắt anh; anh ta đồng nhất bản thân mình với những phân đoạn được mô tả và không biết được sự khác biệt giữa bản thân mình và cái mà anh có vẻ như là trong bức tranh đang mở ra đó. Anh ta đơn giản nhìn vào, đóng vai trò nhỏ bé của mình, ăn, sinh sản, phản ứng với niềm vui và với nỗi đau, và ít khi—nếu có—suy nghĩ hay chiêm nghiệm.

The next idea to which I would call your attention is that the human being has the power to be inclusive in many directions, just as a line can be drawn from the point at the center of the circle to any point upon the periphery. You must remember that for a large part of his career and for the most important part of his human experience, he remains the dramatic actor, holding the center of the stage and in his own eyes playing the star part; he is always conscious of his acting and of the reactions to that acting. When man was little more than an animal, when he was in the state which we have earlier called the Lemurian consciousness and the early Atlantean consciousness, he lived unthinkingly; life unrolled like a panorama before his eyes; he identified himself with the episodes depicted and knew no difference between himself and that which he seemed to be in the unfolding picture. He simply looked on, played his little part, ate, reproduced, reacted to pleasure and to pain, and seldom, if ever, thought or reflected.

Rồi đến giai đoạn quen thuộc với tất cả chúng ta hiện nay, khi mà con người trở thành trung tâm kịch tính trong vũ trụ của anh ấy — sống, yêu, lên kế hoạch, hành động, ý thức về khán giả của mình và những gì xung quanh mình [558], và thể hiện đến mức cao nhất khả năng của mình những đặc tính Atlantean giai đoạn sau và Aryan hiện tại. Anh ta ý thức một cách thông minh về quyền năng của mình và về một vài trong số những quyền năng của mình; anh ta là một phàm ngã đang hoạt động và (bởi vì cái trí đang kiểm soát hay bắt đầu điều khiển) những quyền năng động vật bậc thấp và quyền năng tâm linh Atlantean đặc trưng cho anh bắt đầu mờ nhạt dần. Anh ta mất những quyền năng bậc thấp này trong khi vẫn chưa phát triển những quyền năng bậc cao. Vì thế ngày nay ta có thể thấy phản ứng ở khắp nơi đối với những quyền năng như nhãn thông, nhĩ thông, v.v…; do đó toàn bộ bị giới tri thức của thế giới kết án là gian lận.

Then comes the period, familiar to all of us, wherein the man becomes the dramatic center of his universe—living, loving, planning, acting, conscious of his audience and his [558] surroundings, and demonstrating to his fullest capacity the later Atlantean and present Aryan characteristics. He is intelligently aware of his power and of a few of his powers; he is a functioning personality and (because the mind is controlling or beginning to control) the lower animal powers and the Atlantean psychism which have distinguished him begin to fade out. He loses these lower powers and has not yet developed the higher ones. Hence the reaction to be seen on every hand today to such powers as clairvoyance, clairaudience, etc.; hence their wholesale condemnation as fraudulent by the intelligentsia of the world.

Kế đến là giai đoạn thần bí trong đó những người tiến hóa cao, người mộ đạo và người đệ tử dần trở nên ý thức về cõi giới khác của tự nhiên để chinh phục, cõi giới của Thượng đế, với đời sống và những hiện tượng của riêng nó; anh ta nhận thấy sự hiện hữu của các quyền năng khác mà anh có thể phát triển và sử dụng nếu anh muốn và sẵn sàng trả giá; anh ta nhận ra một phạm vi khác và rộng lớn hơn của hiện hữu mà anh ta có thể bao hàm trong tâm thức của riêng mình nếu anh ta cho phép nó chế ngự bản thân mình.

Vậy điều rút ra là có hai tập hợp quyền năng tiềm ẩn trong con người —  quyền năng bậc thấp có thể phục hồi được nếu anh ta thấy nó thực sự đáng mong muốn, quyền năng khác và bậc cao hơn phải được rèn luyện để phát triển. Hai dạng tập hợp quyền năng này là:

Next comes the mystical stage wherein the advanced human being, the aspirant and the disciple becomes steadily aware of another realm of nature to conquer, the realm of the Kingdom of God, with its own life and phenomena; he registers the existence of other powers which he can develop and use if he so desires and is willing to pay the price; he recognizes another and wider sphere of being which he can include in his own consciousness if he permits himself to be conquered by it.

The inference then is that there are two sets of powers latent in his human equipment—the lower one being recoverable if he deems it desirable, the other and higher one to be developed. These two sets of powers are:

  1. Những quyền năng và năng lực xa xưa mà con người đã phát triển và sở hữu trong những thời đại quá khứ mà anh ta đã đưa vào hậu trường tâm thức của mình và nằm dưới ngưỡng nhận thức hiện tại của anh ta, nhằm phát triển trí tuệ và vì thế tự bản thân mình trở thành người chủ và là một phàm ngã.
  2. Những quyền năng và năng lực bậc cao hơn là đặc quyền của linh hồn tỉnh thức. Đây là những quyền năng lớn hơn nhiều mà Đấng Christ đã nhắc đến khi Ngài hứa với các đệ tử [559] rằng một ngày nào đó họ sẽ làm những việc lớn hơn nhiều so với việc mà Ngài đã làm.
  1. The ancient powers and faculties which humanity developed and possessed in past ages which he drove into the background of his consciousness and below the threshold of his current awareness in order to develop the mind and thus become himself a conqueror and a personality.
  2. The higher powers and faculties which are the prerogative of the conscious soul. These are greater powers to which the Christ referred when He promised His [559] disciples that some day they would do greater things than He had done.

Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ rằng, tất cả các quyền năng thông linh là những quyền năng, năng lực và khả năng của Linh Hồn Duy Nhất, nhưng trong thời gian và không gian, một số trong chúng là biểu hiện của tâm thức động vật hay linh hồn động vật, một số là biểu hiện của linh hồn con người, và một số là của linh hồn thiêng liêng.

Bảng sau đây liệt kê sự phát triển của các quyền năng thông linh khi chúng hòa nhập vào tâm thức ba giới trong tự nhiên.  Nếu nghiên cứu cẩn thận về các mối quan hệ được suy diễn chúng có thể hữu ích ở điểm này:

It should be remembered, however, that all the psychic powers are the powers, faculties and capacities of the One Soul but that, in time and space, some of them are expressions of the animal consciousness or the animal soul, some of the human soul, and some of the divine soul.

The following tabulation of the developing psychic powers as they blend in consciousness three kingdoms in nature may be of service at this point if careful study is made of the inferred relationships:

 

Động vậtCon ngườiThần thánh
   
1. Bốn bản năng chính.Năm bản năng chính.Năm bản năng chuyển hóa.
a. Tự bảo tồn.Tự bảo tồn sáng tạo.Sự bất tử
b.Tình dục.Tình dục. Tình yêu con người.Sức hấp dẫn
c. Bản năng bầy đàn.Bản năng kết nhóm.Ý thức nhóm
d. Tính tò mò.Thẩm vấn. Phân tích cộng với tự khẳng định.Sự thôi thúc tiến hóa. Tự chủ.
2. Năm giác quan.Năm giác quan.Năm giác quan.
a. Xúc giácXúc giác. Tiếp xúc.Thấu hiểu.
b. Thính giácThính giác. Âm thanh.Đáp ứng với Ngôn Từ.
c. Thị giácThị giác. Viễn cảnh.Tầm nhìn huyền linh.
d. Vị giác (phôi thai).Vị giác. Phân biệt.Trực giác
e. Khứu giác (nhạy).Khứu giác, Chủ nghĩa duy tâm tình cảm.Phân biệt tâm linh
3. Những quyền năng linh thông bậc thấp.Sự tương ứng với con người.Những quyền năng thông linh bậc cao.
a. Nhãn thông.Mở rộng thông qua tầm nhìn.Tầm nhìn huyền linh.
b. Nhĩ thôngMở rộng thông qua nghe.Thần giao cách cảm. Sự truyền cảm hứng
c. Cầu hồn.Giao hợp. Năng lực nói.Sự điều phối.
d. Vật chất hóa.Sáng chếSự sáng tạo.
e. Thuật bói toán.Dự đoán. Lập kế hoạch.Sự thấy trước.
f. Chữa lành thông qua từ trường động vật.Chữa lành thông qua khoa học.Chữa lành thông qua phép màu tâm linh. [560]

 

 

AnimalHumanDivine
1. The four major instincts.The five major instincts.The five transmuted instincts.
a. Self-preservation.Creative self-preservation.Immortality.
b. Sex.Sex. Human love.Attraction.
c. Herd instinct.Gregariousness.Group consciousness.
d. Curiosity.Enquiry. Analysis plus

Self-assertion.

Evolutionary urge.

Self-control.

2. The five senses.The five senses.The five senses.
a. Touch.Touch. Contact.Understanding.
b. Hearing.Hearing. Sound.Response to the Word.
c. Sight.Seeing. Perspective.The mystical vision.
d. Taste (embryonic).Taste. Discrimination.Intuition.
e. Smell (acute).Smell, Emotinal

idealism.

Spiritual discernement.
3. Lower psychic powers.The human correspondences.Higher psychic powers.
a. Clairvoyance.Extension through vision.The mystical vision.
b. Clairaudience.Extension through

hearing.

Telepathy. Inspiration.
c. Mediumship.Intercourse. Speech.Mediatorship.
d. Materialization.Invention.Creativity.
e. Divination.Foresight. Planning.Prevision.
f. Healing through animal magnetism.Healing through science.Healing through

spiritual magic. [560]

 

Ảo tưởng về những quyền năng thông linh bậc thấp (psychic powers) – The illusion of lower psychic powers

Tôi muốn đưa ra hai điểm khác để bạn xem xét:

Điểm thứ nhất, một người nam hay nữ đang thể hiện hay quan tâm đến những quyền năng thông linh bậc thấp này (được gọi là siddhis bậc thấp theo triết học phương đông) đang thể hiện quyền năng thực sự. Tuy nhiên, chúng không phải là những quyền năng ở cấp độ cao nhất có thể của nó, cũng như chúng không phải là những quyền năng mà con người dự định để thể hiện trừ phi tại điểm thấp nhất trong quá trình tiến hóa, và vì thế, liên hệ mật thiết với giới động vật; hoặc tại điểm cao nhất, trong trường hợp đó, các quyền năng bậc cao tự động gồm cả những quyền năng thấp. Những quyền năng thông linh bậc thấp được chia sẻ với giới động vật và với tất cả các giống dân kém tiến hoá của nhân loại.

I would like to offer two other points to your consideration:

First, that the man or woman who is expressing and interested in these lower powers (which are called the lower siddhis by the oriental philosophy) is demonstrating true powers. They are not however the highest possible powers nor are they the powers which humanity is intended to express unless at the lowest point in evolution and, therefore, allied closely to the animal kingdom; or at the highest point, in which case the greater powers automatically include the lesser. The lower psychic powers are shared with the animal kingdom and with all those human races which are low down in the scale of the human evolution.

Đây là sự thật và là một phát biểu làm dấy lên nhiều phản đối trong những người phô diễn các quyền năng này ngày nay, cả bên trong và bên ngoài những phong trào giáng linh và huyền bí. Những người này có khuynh hướng xem những năng lực này như là biểu thị của một tình trạng tâm linh tiến bộ hay như một sự sở hữu hiếm hoi và độc đáo, khiến những ai sở hữu những quyền năng đó tài năng hơn, thông thái hơn và có khả năng khuyên bảo và chỉ dẫn những người khác hơn là người bình thường. Ta thấy rõ thái độ này bởi lượng khán giả rộng lớn mà họ diễn thuyết và tụ họp xung quanh họ, và sự sẵn lòng của công chúng để lắng nghe và trả tiền cho đặc ân và lợi ích của sự trình diễn và lời khuyên đó.

This is a fact and a statement which arouses much antagonism among the present day exponents of these powers, both in and out of the spiritualistic and occult movements. Such people are apt to consider these powers as indicative either of an advanced spiritual condition or as a rare and unique possession, setting their owner apart as more gifted, more wise and more able to advise and direct other human beings than is the ordinary man. This attitude is demonstrated by the immense audiences such people can address and gather around themselves, and the willingness of the public to listen to them and to pay money for the privilege and the benefit of the demonstration and the advice.

Điểm thứ hai, sự khó khăn của tình trạng này sẽ gia tăng, bởi vì khi quá trình tiến hóa diễn ra, những người tiến hóa ở cấp độ cao nhất định [565] sẽ khôi phục những thiên hướng và những khả năng động vật cổ xưa khi quyền năng bao gồm (power to become inclusive ) của họ gia tăng; họ bắt đầu mở rộng tâm thức của mình để cho quá khứ cũng như tương lai được đưa vào bên trong vùng ý thức của họ. Biết rằng họ đang mong muốn hướng đến những điều cao cả hơn và hướng đến thế giới của hiện thực huyền bí (tương phản với thế giới của hiện thực thông linh), họ diễn dịch một phân đoạn nào đó mà họ có thể thấy được bằng nhãn thông như thuộc về họ như là những cá nhân; họ xem vài huấn thị nhĩ thông hay việc xảy ra nào đó như là của họ, và thấy được một hình tư tưởng của Đức Christ hoặc của một trong những vị Chân Sư nào đó như là biểu thị của một cuộc phỏng vấn trực tiếp và riêng tư với những vị lãnh đạo cao cấp này. Và như thế, họ đi vào thế giới của sự huyễn cảm và ảo tưởng mà họ cuối cùng sẽ phải giải thoát bản thân mình ra khỏi nó với rất nhiều khó khăn.

Secondly, the difficulty of this situation is increased because, as evolution proceeds, certain more or less advanced [565] people recover these ancient animal propensities and capacities as their power to become inclusive goes forward; they begin to expand their consciousness so that the past as well as the future is brought within their range of awareness. Knowing that they are aspiring to the higher things and towards the world of mystical realization (in contradistinction to that of psychical realization), they interpret some episode, which they may have clairvoyantly apprehended, as appertaining to them as individuals; they regard some clairaudient injunction or happening as appropriately theirs, and some vision of a thought form of the Christ or of one of the Masters as indicative of a direct and personal interview with these advanced leaders. They thus enter into the world of glamor and of delusion from which they must, finally with great difficulty, extricate themselves.

Tôi có cần lưu ý các bạn sự thật rằng đường ranh giới giữa những trạng thái tâm thức của động vật, con người và thần thánh này không rõ ràng rạch ròi như trong bảng trên không? Việc nhận thức được điều này sẽ khiến chúng ta chú ý đến sự phức tạp của chủ đề và sự khó khăn của chuyên đề của chúng ta. Sự phức tạp này có thể, tôi nghĩ là, được minh họa tốt bằng một nghiên cứu về các cách sử dụng của từ thần giao cách cảm (telepathy). Theo cách được sử dụng rộng rãi ngày nay, nó biểu thị hai năng lực:

May I also call your attention to the fact that the lines of demarcation between these animal, human and divine states of consciousness are not clear cut as in our tabulation? A recognition of this will call attention to the complexity of the subject and the difficulty of our theme. This complexity can, I think, be well illustrated by a study of the uses of the word telepathy. As generally used today it indicates two powers:

 

Thần giao cách cảm là gì? – What is telepathy?

    1. Một sự ghi nhận bản năng của một tình trạng, một lời kêu gọi và một ấn tượng nào đó ảnh hưởng đến luân xa tùng thái dương. Quyền năng ấn tượng này Không được kiểm soát; không có nhận thức tinh thần chủ định giám sát một thông điệp trực tiếp; chỉ có một sự điều chỉnh vào trong một trạng thái tâm thức hoặc vào một điều kiện và trạng thái kết nối với người được xem là người gửi thông điệp. Chín trong mười trường hợp, thông điệp này là thông điệp của sự đau khổ, nó phát ra và tạo ra hiệu ứng của nó mà không cần người nhận nó có năng lực nào để tạo nên việc nhận [566] thông điệp. Một minh họa cho điều này là sự nhận thức của một người mẹ rằng đứa con yêu quý của mình đang bị nguy hiểm.
    2. Một dạng nhãn thông làm cho con người có khả năng thấy được cái bị ẩn giấu, ví dụ như một số biểu tượng trên một lá bài đang úp mặt xuống bàn.
  • An instinctual registering of some situation, some call and some impression which impinges upon the solar plexus center. This power of impression is Not controlled; there is no supervised intentional mental perception of a directed message; there is only a tuning in on a state of mind or on a condition and situation connected with the one who is regarded as sending the message. In nine cases out of ten, this message is one of distress and goes forward and produces its effect without any capacity on the part of the recipient to induce the reception of the [566] message. An illustration of this would be the recognition by a mother that a loved child is in danger.
  • A form of clairvoyance which enables the man to see that which is hidden, such as the number of symbols on a playing card which is laying face downwards upon the table.

Tuy nhiên, thần giao cách cảm thực sự, là một sự truyền thông trí tuệ trực tiếp từ thể trí đến thể trí và trong biểu thị cao cấp hơn của nó là một sự truyền thông từ linh hồn đến linh hồn, sử dụng thể trí sau đó như một công cụ của truyền thông, như trong trường hợp truyền cảm hứng. Điều thú vị (và cũng hữu ích nữa trong quan điểm về chủ đề của chúng ta) đó là trong ghi nhận thần giao cách cảm thực sự, những quyền năng cấp thấp hơn có thể được nâng lên và được sử dụng ở một mức độ ý thức cao. Về mặt nội môn người ta biết rõ rằng

True telepathy, however, is a direct mental communication from mind to mind and in its more advanced expression is a communication of soul to soul, using the mind later as a formulator of the communication, as in the case of inspiration. It is interesting to note (and instructive also in view of our subject) that in true telepathic registration, the lesser powers may be raised and used at a high level of awareness. It is well known esoterically that

  1. Một số người chỉ đơn giản ghi lại một cách cách cảm trong thể trí của mình thông tin đến từ thể trí khác. Sự ghi nhận cũng như sự truyền thông là vô ngôn và vô hình tướng. Người nhận đơn giản biết và kiến thức được truyền đạt hiện hình trong tâm thức mà không có bất kỳ những giai đoạn hay bước trung gian nào. Đây là dạng cách cảm vô hình sắc.
  2. Những người khác ngay lập tức biến kiến thức được truyền đạt thành hình thể; họ sẽ nhìn thấy thông điệp, ngôn từ hay thông tin xuất hiện trước mắt họ dưới dạng được viết hay in, như thể nó được đặt trên một màn hình chuyển động, được nhìn thấy trong đầu.
  3. Những người khác sẽ chuyển thông tin thành hình thể khi họ nghe thấy nó.
  1. Some people simply record telepathically in their minds the information coming from another mind. The registration as well as the communication is wordless and formless. The recipient simply knows and the imparted knowledge takes form in the consciousness without any intermediate stages or steps. This is formless telepathy.
  2. Other people instantaneously step down into form the knowledge which has been imparted; they will see the message, word or information appear before their eyes in written or printed form as if it were imposed upon a moving screen, seen within the head.
  3. Others will step the information down into form whereby they hear it.

Trong hai trường hợp sau, con người đang thực sự sử dụng những quyền năng bậc thấp tiềm ẩn của mình, nâng chúng lên ở một mức độ càng cao càng tốt và để chúng dưới sự sử dụng của tâm trí hay linh hồn. Sự khác biệt [567] giữa sự sử dụng này của quyền năng nhãn thông và biểu hiện nhĩ thông đó là trong trường hợp này có sự chủ động điều khiển tâm trí và sự thấu hiểu hoàn toàn, và trong những trường hợp khác, những quyền năng bậc thấp được sử dụng một cách tự động, không được kiểm soát, và bị chi phối bởi những vấn đề không có tầm quan trọng thực sự và không được thấu hiểu theo bất kỳ cách nào bởi người sử dụng chúng.

In these two latter cases, the true man is making use of his latent lower powers, raising them to as high a level as possible and subordinating them to mental or soul uses. The difference [567] between this usage of the power of clairvoyant and clairaudient demonstration is that in this case there is full mental control and understanding, and in the other cases the lower powers are automatically employed, are uncontrolled, are occupied with matters of no true importance and are not understood in any way by the one who is employing them.

 

Xúc gíác và thuật trắc tâm – Touch and Psychometry

Một giác quan cơ bản, như bạn đã biết rõ, đó là xúc giác. Đây là lý do tại sao tôi đã không đặt thuật trắc tâm trong bất kỳ phân loại đặc biệt nào trong bảng về các bản năng, giác quan và quyền năng. Thuật trắc tâm về cơ bản là khả năng làm việc với và kết nối với linh hồn của nhóm cao hơn mà đơn vị trong nhóm thấp hơn ước vọng hướng đến, và với linh hồn mà có thể ước vọng trong bất kỳ hình thể nào. Trong thực tế, nó liên quan đến “mức độ” của sự bao gồm. Mức độ này sẽ chi phối, ví dụ như, mối quan hệ giữa con chó hay một con vật nuôi khác với một người, của một người với những người khác, và của một người mộ đạo với linh hồn của anh ta, Chân sư của anh và nhóm của anh. Khi sự bao gồm mang tính trắc tâm này được hướng về thế giới của những vật hữu hình— ví dụ như khoáng vật, những của cải và những tài sản vật chất—chúng ta có khuynh hướng tạo ra một màn trình diễn thần thông từ nó, và lấy tiền cho sự trình diễn của năng lực trắc tâm. Rồi chúng ta gọi điều này là khoa học về thuật trắc tâm.  Nhưng thực ra nó vẫn cùng là một quyền năng, chuyển hướng về những giới thấp hơn khi được sử dụng để tạo tiếp xúc với vương quốc cao hơn. Có ba nhóm người sử dụng những quyền năng thông linh bậc thấp một cách ý thức hay vô ý thức:

The one basic sense, as you well know, is that of touch. This is the reason why I have not placed psychometry in any particular category in my tabulation of the instincts, senses and powers. Psychometry is essentially the capacity to work with and to get in touch with the soul of the higher grouping to which the unit in the lower grouping aspires, and with the soul that can thus aspire in any form. It concerns, in reality, the “measure” of inclusiveness. This measure will govern, for instance, the relation of the dog or other domesticated animal to a human being, of a man to other men, and of an aspirant to his soul, his master and his group. When this psychometrical inclusiveness is turned towards the world of tangible things—minerals, possessions and other material objects, for instance—we tend to make a magical performance out of it, and to charge money for the demonstration of psychometrical power. We then call this the science of psychometry. Yet it is the same power, turned towards the lower kingdoms as is employed in making contact with the higher. There are three groups of people who use the lower psychic powers, either consciously or unconsciously:

 

  1. Những người mà trình độ tiến hóa của họ đủ thấp cho phép việc sử dụng chúng một cách tự động.
  2. Những người mang khả năng nhìn và nghe ở các phân cảnh của cõi trung giới, hay là đã “thực hiện huyền thuật” từ một kiếp sống trước—từ thời đại Atlantean. Những quyền năng này đối với họ là tự nhiên, nhưng họ thường không hiểu về những quyền năng này, cũng như kiểm soát chúng bằng sự hiểu biết [568], và chúng thường làm cho người sở hữu quyền năng thành một nạn nhân hay một kẻ lợi dụng những quyền năng này.
  3. Nhà thần bí trên con đường nhãn pháp, người mà thông qua việc mang năng lượng từ linh hồn xuống thông qua thiền định và nguyện vọng kích thích các luân xa tùng thái dương hay luân xa cổ họng và vì thế mở một cánh cửa đi vào cõi trung giới.
  1. Those whose evolutionary stage is low enough to permit of their automatic use.
  2. Those who have brought over the capacity to see and hear on astral levels or to “work magic” from another life—from Atlantean times. These powers are natural to them, but are usually neither understood nor controlled by [568] knowledge and they usually make their owner a victim or an exploiter of these powers.
  3. The mystic upon the path of vision who (through the bringing in of energy from the soul through meditation and aspiration) stimulates the solar plexus or throat centers and thus opens a door on to the astral plane.

Trong tất cả các trường hợp, cái được tiết lộ là cõi trung giới. Ta có thể đưa ra một phát biểu ở đây rằng nơi nào có màu sắc, hình tướng và hiện tượng tương đồng với hoặc là một bản sao của cái được thấy ở cõi hồng trần thì sẽ có “những hiện tượng giống hệt” được thấy ở cõi trung giới. Nơi đâu có sự hiện hình của các hình thể trên cõi hồng trần bạn cũng sẽ thấy hoạt động chúng được kết nối ở cõi trung giới và cõi dĩ thái. Không có những hiện tượng này ở cấp độ trí tuệ hay linh hồn. Bạn hãy ghi nhớ điều này. Cõi trung giới là—trong thời gian và không gian và với tất cả những ý định và mục đích — một trạng thái của sự hiện hữu thực sự cộng với một thế giới của những hình thể ảo tưởng, do chính con người và trí tưởng tượng sáng tạo của y tạo ra. Một trong những bài học lớn được học trên Đường Đạo của Người Đệ Tử là học để phân biệt cái thật với ảo tưởng.

Vậy thì cái gì được nhìn thấy và nghe bởi đồng tử trong khi mê man hoặc khi trình diễn nhãn thông và nhĩ thông? Tôi có thể liệt kê một vài khả năng như dưới đây:

In all cases, it is the astral plane which stands revealed. The statement can here be made that where there is color, form and phenomena analogous to or a replica of that to be found upon the physical plane then there is to be seen the “duplicating phenomena” of the astral plane. Where there is materialization of forms upon the physical plane you see the joint activity of the astral and etheric planes. You do not have the phenomena of the mental or soul levels. Bear this definitely in mind. The astral plane is—in time and space and to all intents and purposes—a state of real being plus a world of illusory forms, created by man himself and by his imaginative creativity. One of the major lessons to be learnt upon the Path of Discipleship is to learn to distinguish that which is real from that which is illusion.

What then, is to be seen and heard by the medium when in trance or when giving an exhibition of clairvoyance and clairaudience? Several possibilities, which I might list as follows:

  1. Sự tiết lộ về “đời sống mơ ước” của một người hay một nhóm người mà bản thân đồng tử nhắm đến. Đời sống mơ ước này có hình thể tỉ lệ với năng lực của mong ước chưa thể hiện hay khả năng tâm trí của người hay những người có liên quan.

A revelation of the “wish life” of the person or the group to whom the medium is addressing himself. This wish life takes form in proportion to the power of the unexpressed wish or the mental ability of the person or persons concerned.

  1. Sự nhận thức bởi nhà ngoại cảm về những hình tư tưởng hay hình tư tưởng thấy được trong hào quang của một người trong khán giả hay trong nhóm hầu đồng. Những hình tư tưởng này đã được [569] tạo ra trong thời gian dài và thường là của người được yêu thương hay bị thù ghét sâu sắc. Về bề ngoài chúng thật đến nỗi người đó có thể nhận ra chúng khi đồng tử mô tả nó và đồng tử có thể cùng lúc đó bằng một quá trình thần giao cách cảm (thông qua luân xa tùng thái dương) trở nên nhận thức về những điều mà người khách đó mong muốn nghe, những điều đó sẽ trùng khớp với phong cách thông thường và cách nói, suy nghĩ của người quá cố hay người bạn đang sống. Điều này giải thích tính chất tầm thường của những phát biểu và lời thường nói ở một buổi gọi hồn. Một người bậc trung thường tham dự các buổi gọi hồn thì thường không phải là người có mức độ thông minh cao nhất, trừ phi anh ta chỉ đơn giản ở đó như một nhà nghiên cứu.

A recognition by the medium of the thought forms or thought form to be found in the aura of the person in the audience or circle. These thought forms have been [569] built over a space of time and are usually of some one deeply loved or as deeply disliked. They are often so real in appearance that the person can recognize them when described by the medium and the medium can at the same time by a process of telepathy (via the solar plexus center) become aware of the things which the sitter wishes to hear, which will be in line with the usual mannerisms and methods of speech and thought of the departed or living friend. This accounts for the mediocre caliber of the usual utterance and statement made at a seance. The average person who frequents a seance is not usually of the highest grade of intelligence, unless he is simply there as an investigator.

  1. Trong một số trường hợp hiếm hoi khi một linh hồn trên con đường trở lại tái sinh hay ngay sau khi chết bị thúc đẩy (vì một mục đích tốt và vừa đủ) để tạo nên một sự tiếp xúc với một người bạn hay người thân thông qua một đồng tử. Người ta biết đến những trường hợp như thế, và thường đòi hỏ nhiều trí thông minh hơn mức bình thường về phần của người dự đồng, người truyền thông và đồng tử. Tuy nhiên, đây là những trường hợp đặc biệt.

A few rare cases when a soul on the path of return to incarnation or immediately after death is impelled (for good and sufficient purpose) to make a contact with a friend or relative via a medium. Such cases are known and usually presuppose more than average intelligence on the part of the sitter, the communicator and the medium. They constitute however, the exceptional occurrence.

  1. Sự tiết lộ cho nhà nhãn thông và nhĩ thông về nhiều hiện tượng của cõi trung giới, song song với những hiện tượng của cõi vật chất và tùy thuộc vào chất lượng và năng lực của nhóm người tạo thành khán giả. Điều này, đồng tử diễn dịch cho họ và nó thường gợi lên sự nhận thức.

The revelation to the clairvoyant and clairaudient worker of much of the phenomena of the astral plane, which parallels that of the physical plane and which is conditioned by the quality and caliber of the circle of people who constitute the audience. This, the medium interprets to them and it usually evokes recognition.

Ở đây tôi không nghi ngờ gì về sự thành thực của việc trình diễn hay của những nhà ngoại cảm bẩm sinh với năng lực nhãn thông và nhĩ thông.  Tôi chỉ nêu ra rằng các hiện tượng mà họ đang tiếp xúc về bản chất là thuộc cõi trung giới (cõi tình cảm) và bất cứ ai nhìn vào vòng tròn khán giả từ một quan điểm [570] của những quyền năng thông linh bậc cao sẽ thấy rằng xung quanh mỗi người khách là một nhóm các hình thể tình cảm (được tự tạo ra) của những người đã rời bỏ đời sống hồng trần vì cái chết, của những người liên tục trong tâm tưởng của anh ta dù vẫn còn đang sống, và cũng là một quá trình như kính vạn hoa, thường xuyên biến đổi của những hình thể xuất hiện và biến mất (một số khá mờ ảo và một số khá rõ ràng, tùy theo năng lực của tư tưởng) liên quan đến đời sống mơ ước của người khách, những điều liên quan đến những công việc gia đình, việc kinh doanh, hoặc về sức khỏe của anh ta. Người nhạy cảm hòa nhập vào những điều này, kết nối chúng với hình tư tưởng của người khách và nhờ thế tạo ra buổi trình diễn thông thường trong các phòng gọi hồn hoặc với nhóm khán giả trung bình. Người đồng tử thực sự và chính xác liên hệ những gì anh ta nhìn và nghe thấy, và như thế là chân thành và thành thực, nhưng bởi vì anh ta không được đào tạo thực sự về nghệ thuật diễn dịch và về kỹ thuật phân biệt ảo tưởng với thực tế, anh ta tất yếu không thể làm gì nhiều hơn là mô tả những hiện tượng được nhìn thấy và những từ ngữ được nghe thấy.

I am here casting no doubt on the sincerity of the performance nor on those mediums who are born with these clairvoyant and clairaudient faculties. I am only pointing out that the phenomena which they are contacting is astral in nature and that anyone looking at a circle from the standpoint [570] of the higher psychic powers would note around each sitter a group of astral forms (self-created) of those who have departed physical life through death, of those who are constantly in his thoughts though still alive, and also a kaleidoscopic and changing process of appearing and disappearing forms (some quite nebulous and some quite substantial according to the power of thought) which concern the wish life of the sitter, which are concerned with his home affairs, his business or are built up around his health. The sensitive tunes in on these, connects them with the attendant thought forms and hence the production of the usual performance found in the seance room or with the average audience. The medium is truly and accurately relating just what he sees and hears and therefore is sincere and truthful, but because he receives no real training in the art of interpretation and in the technique of distinguishing the illusory from the real, he is, perforce, unable to do more than describe the phenomena seen and the words heard.

Tuy nhiên, đôi khi trong một số trường hợp khi nhà thần bí mở ra những quyền năng tương tự thế này, các hiện tượng được thấy và các lời được nghe có thể có một cấp bậc rất cao. Dù vậy, chúng vẫn thuộc cõi trung giới, bởi vì chúng liên quan đến những sự việc và những hiện tượng thấy được trên những phân cảnh giới cao hơn của cõi trung giới. Anh bước vào tiếp xúc với đời sống mơ ước tâm linh hay tôn giáo của nhân loại và tùy theo khuynh hướng cơ bản của ước nguyện cá nhân của mình tại thời điểm ấy sẽ ấn định người anh ta sẽ tiếp xúc. Nếu anh ta là một tín đồ Thiên Chúa giáo mộ đạo và tận tâm, anh ta sẽ nhìn thấy một trong những hình tư tưởng đẹp đẽ và sống động của Đấng Christ và trong sự kỳ diệu của sự hiển lộ đó, tình yêu của anh ta và sự tưởng tượng của anh ta và tất cả những gì tốt đẹp nhất trong anh ta sẽ được khơi dậy trong niềm kính yêu và sự huyền diệu. Nhờ đó mà có một số bài viết tràn đầy cảm hứng và những linh thị tỏ ngộ của nhà thần bí. Nếu anh ấy là một tín đồ Ấn Độ giáo, anh có thể thấy [571] với anh một cảnh tượng về vị Thần của Tình Yêu, Shri Krishna, hay, nếu là một Phật tử, anh ta có thể nhìn thấy vị Đấng Giác Ngộ, Đức Phật, trong tất cả hào quang rạng ngời của Ngài. Nếu anh là một môn sinh huyền môn, hay một người theo Thông Thiên Học hay phái Hồng Hoa Thập Tự (Rosicrucian), anh ta có thể nhìn thấy hình ảnh của một trong các vị Chân Sư hay toàn bộ Thánh Đoàn; anh ta có thể nghe thấy lời nói và vì thế cảm thấy chắc chắn, vượt qua tất cả mọi tranh cãi, rằng Những Đấng Cao Cả đã chọn anh cho một đặc ân đặc biệt và một công việc phụng sự đặc biệt. Và tuy vậy, tâm thức của anh ta chưa bao giờ rời khỏi cõi trung giới và những tiếp xúc của anh ta mới chỉ là một biểu hiện tuyệt vời và đầy hứng khởi của các hiện tượng của cõi giới đó, phóng vào nội nhãn và nội nhĩ của anh thông qua ước vọng của anh.

When, however, the mystic opens up these same powers as is sometimes the case, the phenomena seen and the words which are heard can be of a very high order. Nevertheless they are still astral, for they concern happenings and phenomena found upon the higher levels of the astral plane. He comes into contact with the spiritual or religious wish life of the race and according to the basic trend of his individual aspiration at the moment so will be his contacts. If he is an earnest and devoted Christian, he will see one of the beautiful and vital thought forms of the Christ there to be found and in the wonder of that revelation, his love and his imagination and all that is best in him will be evoked in adoration and mystery. Hence some of the inspired writings and illumined visions of the mystic. If he is a Hindu, there may come [571] to him a vision of the Lord of Love, Shri Krishna, or, if a Buddhist, he may see the Lord of Light, the Buddha, in all His radiance. If he is an occult student, or a Theosophist or Rosicrucian, he may see a vision of one of the Masters or of the entire Hierarchy of adepts; he may hear words spoken and thus feel assured, past all controversy, that the Great Ones have chosen him for special privilege and for unique service. And yet, his consciousness has never moved from off the astral plane and his contacts have only been a wonderful and inspiring expression of the phenomena of that plane, released to his inner sight and hearing through his aspiration.

Tất cả điều này xảy ra thông qua sự hoạt động thái quá của luân xa tùng thái dương, được kích thích bởi năng lượng tuôn chảy từ các cõi cao mà anh ta có được khi tham thiền với ước nguyện. Các kết quả về mặt bản chất thuộc cõi tình cảm, và những phản ứng được phát triển và việc phụng sự được thực hiện theo sau đó cũng ở cấp độ tình cảm. Phần lớn của điều này thấy được trong các vị thầy trên thế giới tại thời điểm hiện nay ở nhiều đất nước.  Những vị thầy như thế đã và đang là những người chí nguyện thực sự. Tâm thức của họ đã thức tỉnh ở các cấp độ cao của cõi trung giới. Họ đã nhìn thấy những hình tư tưởng mà nhân loại đã tạo ra về Thánh Đoàn và những phản ảnh của Thánh Đoàn đó trên các phân cảnh giới này (vẫn là một nhóm những hình tư tưởng tiềm năng hơn) và được nghe những lời lặp đi lặp lại của điều đã được nói và nghĩ bởi những người mộ đạo ở mọi thời đại trên thế giới—tất cả những gì Chân, Thiện, Mỹ nhất của nó. Rồi họ tiến hành giảng dạy và công bố cái mà họ đã nghe thấy, nhìn thấy và học được và thường làm được nhiều điều tốt—ở các cấp độ của cõi trung giới. Tuy nhiên, tất cả họ đều như nhau, nhầm lẫn phản ảnh với thực tại, bản sao với bản gốc, và cái do con người tạo ra với cái do thiêng liêng tạo ra.

All this is brought about through the over-activity of the solar plexus center, stimulated by the energy pouring in from the heights he has attained in aspirational meditation. The results are very emotional in their nature, and the reactions developed and the subsequent service rendered are on emotional levels. A great deal of this is to be seen among the teachers in the world at this time in many lands. Such teachers have been and are true aspirants. They have awakened in consciousness upon the higher levels of the astral plane. They have there seen the thought forms which humanity has created of the spiritual Hierarchy or the reflections on those levels of that Hierarchy (a still more potent group of thought forms) and have heard repetitions of that which has been said and thought by the world aspirants of all time—all of it most beautiful, good and true. They then proceed to teach and proclaim what they have thus heard, seen and learnt and frequently do much good—on astral levels. They are, all the same, confusing the reflection with the reality, the reproduction with the original, and the humanly constructed with the divinely created.

Đừng quên rằng, cõi trung giới là cõi mà ở đó con người phải [572] học hỏi để phân biệt chân lý từ sai lầm, và cái thật từ cái không thật. Vì thế những ai đang bị lừa gạt chỉ là đang học một bài học cần thiết. Sự thực về cõi trung giới đang được dần dần nhận ra, và như vậy là tốt. Sự thực về sự hiện hữu của Thánh Đoàn và các Chân Sư đang được quần chúng quan tâm ngay cả khi nó được thực hiện bởi những người đang nhầm lẫn giữa phản ảnh và hình tư tưởng với thực tế.

Forget not, that the astral plane is that whereon man has [572] to learn to distinguish truth from error, and the real from the unreal. Thus those who are deceived are only learning a needed lesson. The fact of the astral plane is being steadily recognized and that is good. The fact of the existence of the spiritual Hierarchy and of Masters is being brought to the attention of the masses even if it is being done by those who are confusing the reflection and the thought form with the reality.

Câu hỏi ở đây có thể được nêu ra một cách đúng đắn: Làm thế nào nhà thần bí có thể tránh được sai sót và nhầm lẫn này? Làm thế nào anh ta có thể phân biệt được thực tế với ảo tưởng? Điều này tạo thành vấn đề cá nhân cho mỗi nhà thần bí và không có một quy luật sâu sắc và khoa học mà anh ta có thể dùng để hướng dẫn các phản ứng của mình. Những quy luật duy nhất mà tôi có thể cho bạn thật đơn giản đến mức những ai ở thời điểm này đang bận rộn với việc giảng dạy và công bố về cái mà họ đã tiếp xúc qua thể tình cảm, có thể không muốn tuân theo chúng. Thái độ của tâm trí sẽ bảo vệ nhà thần bí khỏi ảo ảnh cõi trung giới và sai lầm là:

The question could here properly be asked: How can the mystic avoid this error and confusion? How can he distinguish the real from the illusory? This constitutes an individual problem for every mystic and there is no one profound and scientific rule whereby he can guide his reactions. The only rules which I can give you are so simple that those who are occupied at this time with teaching and proclaiming that which they have astrally contacted may not like to follow them. The attitude of mind which will guard the mystic from astral delusion and error is:

  1. Nuôi dưỡng một tinh thần khiêm nhường thật sự. Có một sự kiêu ngạo tâm linh ẩn nấp dưới lớp vỏ của sự khiêm tốn và đang rất thịnh hành lúc này. Nó khiến người ta xem mình như là người được Thánh Đoàn lựa chọn để bảo vệ thế gian; nó khiến người ta xem mình như người phát ngôn của các Chân Sư hay của Đức Christ; nó có khuynh hướng khiến họ chia rẽ trong các thái độ của họ đối với các nhà lãnh đạo hay các vị huấn sư khác, từ chối nhìn nhận nhiều phương diện khác nhau của công việc chung và nhiều phương thức khác nhau mà TRÍ của Thượng Đế đã tạo ra để tới được đông đảo quần chúng.

The cultivation of a spirit of true humility. There is a spiritual arrogance which masks itself behind a cloak of humbleness and which is very prevalent at this time. It leads people to regard themselves as the chosen of the Hierarchy to save the world; it leads them to look upon themselves as the mouthpieces of the Masters or of the Christ; it tends to make them separative in their attitudes to other leaders and teachers, refusing to recognize the many aspects of the one work and the many methods which the Mind of God has devised for reaching the masses.

  1. Từ chối chấp nhận bất kỳ sự tiếp xúc hay thông điệp nào có ngụ ý phàm ngã hay khiến người tiếp nhận nó tách biệt ra, do đó có khuynh hướng phát triển mặc cảm Đấng Cứu Thế. [573] Tôi thích cụm từ này. Nó đơn giản và súc tích và minh họa một cách đáng kể trạng thái của thể trí và mô tả bản chất chắc chắn tâm thức của nhiều vị thầy hiện nay của nhân loại. Một tiếp xúc thực sự với Thánh Đoàn và phần thưởng thực sự của việc phụng sự mang theo cùng với nó niềm tin về sự hiện hữu của nhiều người phụng sự trong Công Việc Phụng Sự chung, và của nhiều sứ giả mang một thông điệp, của nhiều vị thầy về nhiều phương diện khác nhau của một Chân Lý, và của nhiều con đường khác nhau trở về Trái Tim Thượng Đế. Khi sự mặc khải bao trùm tất cả này đồng hành với tiếng gọi phụng sự, thì tinh thần bao gồm (spirit of inclusiveness) được phát triển và anh có thể chắc chắn rằng anh thực sự được kêu gọi để hợp tác và có niềm tin chắc chắn về sự thực của linh thị của mình.

The refusal to accept any contact or message which has personality implications or which sets its recipient apart, thus tending to the development of a Messiah complex. [573] I like that phrase. It is simple and concise and illustrates dramatically the state of mind and describes the assured nature of the consciousness of many of the present teachers of humanity. A true contact with the Hierarchy and the true accolade[1] of service carries with it the conviction of the existence of the many servers in the one Service, of the many messengers carrying the one message, of the many teachers of the many aspects of the one Truth, and of the many and various ways back to the Heart of God. When this all-embracing revelation accompanies the call to service, then the spirit of inclusiveness is developed and the man can be sure that he is truly called to cooperate and convinced of the reality of his vision.

  1. Sự tự do khỏi sức hút tình cảm. Người đệ tử và nhà thần bí thực sự luôn phân cực trí tuệ. Tầm nhìn của anh ta thoát khỏi những phản ứng đánh lừa của luân xa tùng thái dương. Nhãn quang của anh đánh thức luân xa tim và khêu gợi sự hồi đáp của năng lượng phàm ngã của anh ta (tập trung trong luân xa ajna) và cuối cùng tạo ra một “sự tập trung vào điểm của ánh sáng”. Điều này biểu thị hoạt động tăng trưởng của trung tâm vùng đầu. Anh ta có thể, sau đó, sử dụng sức hấp tình cảm có kiểm soát trong ứng phó với đám đông nhưng bản anh ta tìm cách duy trì tự do khỏi tất cả mọi sự kiểm soát tình cảm.

The freedom from emotional appeal. The true disciple and mystic is ever mentally polarized. His vision is free from the deluding reactions of the solar plexus center. His vision awakens the heart center and evokes the response of his personality energy (focused in the ajna center) and produces eventually a “centering in the place of light”. This indicates the growing activity of the head center. He may, later, use controlled emotional appeal in dealing with the masses but he himself seeks to remain free from all emotional control.

Chúng ta đang xem xét sự khai mở của những quyền năng thông linh vốn tạo ra những điều kiện trong chủ thể mà các nhà nghiên cứu chính thống xem như có bản chất bệnh lý hoặc là biểu thị của rối loạn tâm lý ở một dạng nghiêm trọng. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang gần với thời điểm khi mà sự thật về những phương thức nhận thức khác với những giác quan vật lý thông thường sẽ được công nhận, và thái độ của y học và với các khoa học tâm lý và thần kinh sẽ trải qua [574] những thay đổi nhất định — phần lớn hướng đến việc trợ giúp và giúp đỡ cho nhân loại. Sự phát triển của những quyền năng thông linh về cơ bản đã đến lúc tại thời điểm này (bởi toàn bộ vấn đề chuyển vào các trường đang thay đổi khi sự tiến hóa diễn tiến) để nhà ngoại cảm trở nên nhận thức về một trường hoặc nhiều trường của các hiện tượng luôn hiện hữu nhưng thường vẫn chưa được công nhận bởi vì bộ máy bên trong để nhận thức vẫn còn tiềm ẩn hay yên ngủ. Trong những người chưa phát triển hay trong những nhóm người ở bậc thang thấp của thang tiến hóa, cũng như trong thú vật, có nhiều nhận thức ngoại cảm bởi vì luân xa xương cùng thúc đẩy đời sống cõi trần và luân xa tùng thái dương chế ngự bản chất thông linh đó. Trong tất cả những trường hợp này, tất cả các luân xa cao hơn đang ngủ yên và chưa phát triển. Luân xa tùng thái dương là cái mà đối với các thế giới của sự nhận thức thông linh bậc thấp cũng giống như bộ não trong các thế giới của sự hiểu biết thông linh bậc cao. Trong một trường hợp, ta có một trung tâm năng lượng mạnh mẽ đến nỗi nó đưa người ta vào một trạng thái tâm thức về cơ bản thuộc cõi tình cảm, vì thế chi phối đời sống tình dục từ góc độ của ý thức cảm tính; trong trường hợp kia, ta có một sự tương đồng rất mật thiết giữa luân xa đỉnh đầu trong chất dĩ thái và bộ não trong vật chất hồng trần đến nỗi một cơ quan nhất định là vật chất vận hành một cách đồng cảm, chính xác và đồng bộ với phần đối ứng chủ quan của nó, ghi nhận những ấn tượng từ trung tâm (luân xa) đầu và các thế giới mà với chúng trung tâm đó tiếp xúc với người đó. Hai cái này rồi thì như một.

We are considering the unfoldment of the psychic powers, producing conditions in the subject which are regarded by the orthodox investigator as pathological in nature or as indicating psychological trouble of a serious kind. However, we are today close to the time when the fact of there being modes of perception other than those of the physical senses will be recognized, and the attitude of medicine and of the psychiatric and neurological sciences will undergo definite [574] changes—much to the assistance and aid of humanity. The development of the psychic powers is basically due at this time (for the whole problem shifts into changing fields as evolution proceeds) to the psychic becoming aware of a field or fields of phenomena which are always present but which remain usually unrecognized because the inner mechanism of perception remains latent or quiescent. In the undeveloped human being or in groups of men who are low down in the racial scale, as also in animals, there is much psychic perception because the sacral center motivates the physical plane life and the solar plexus center governs the psychic nature. In these cases, all the higher centers are quiescent and undeveloped. The solar plexus is to the worlds of lower psychic perception what the brain is intended to be in the worlds of higher psychic understanding. In the one case, you have a center of energy which is so potent that it swings the man into a state of consciousness which is fundamentally astral, thus governing the sex life from the angle of the sentient consciousness; in the other case, you have so close an identification between the head center in etheric matter and the brain in physical substance that an organ which is definitely physical functions sympathetically, accurately and synchronously with its subjective counterpart, registering impressions from the head center and the worlds with which that center puts a man in touch. The two are then as one.

Giữa các giai đoạn của đời sống thông linh bậc thấp và tri giác tinh thần của vị điểm đạo đồ có thể tìm thấy mọi dạng có thể có của tâm thức hữu tình. Những dạng này có thể được chia thành ba phân loại chính:

In between these stages of low grade psychic life and the spiritual perception of the initiate there is to be found every possible type of sentient consciousness. These can be divided into three major categories:

  1. Sự khai mở và sử dụng các quyền năng thông linh, cả bậc cao và bậc thấp.

Đây là giai đoạn của Ngoại cảm (Psychism). [575]

  1. Sự phát triển của nhãn quang thần bí.

Đây là giai đoạn của Thần bí (Mysticism).

  1. Sự hiển lộ của ánh sáng và quyền năng.

Đây là giai đoạn của Huyền môn (Occultism).

  1. The unfoldment and use of the psychic powers, both higher and lower.

This is the stage of Psychism. [575]

  1. The evolution of the mystical vision.

This is the stage of Mysticism.

  1. The revelation of light and power.

This is the stage of Occultism.

Tất cả những thể hiện của tri thức linh thiêng này liên hệ với, và tùy thuộc vào sự phát triển của các trung tâm (luân xa). Trong con người bậc thấp, các trung tâm lực không là gì khác hơn những đĩa sáng lờ mờ run rẩy quay chậm chạp. Trong thời Lemurian, luân xa xương cùng hoạt động mạnh nhất và chói sáng nhất.  Trong thời Atlantean, luân xa tùng thái dương là cái có ý nghĩa nhất. Ngày nay, như bạn biết đó, những luân xa cấp cao tương ứng đang đi vào hoạt động và nhân loại bắt đầu gặt hái lợi ích lấy từ kinh nghiệm của ba giống dân – Lemurian, Atlantean và Aryan.

All these expressions of divine knowledge are connected with, and dependent upon, the development of the centers. In the low grade human being, the centers are nothing more than slowly revolving, palpitating disks of dim light. In Lemurian days, the sacral center was the most active and the brightest. In Atlantean days, the solar plexus center was by far the most significant. Today, as you know, the higher correspondences are coming into functioning activity and humanity is beginning to reap the benefits derived from experience in three races—the Lemurian, the Atlantean and the Aryan.

Trung tâm cổ họng giờ đây hoạt động mạnh nhất trong đa số các trường hợp và là Trung tâm lực  quan trọng nhất. Tuy nhiên, đang đến thời điểm khi mà nhân loại sẽ hoạt động trên một quy mô lớn và đông đảo thông qua trung tâm ajna; điều này sẽ xảy ra trong giống dân kế tiếp, trong chu kỳ kế tiếp của sự phát triển giống dân, ta sẽ không thấy người nào với tâm thức Lemurian ở bất kỳ đâu và “sức hút” hay hoạt động của trung tâm xương cùng sẽ giảm đi đáng kể và được kiểm soát. Điều này có thể được thấy đang xảy ra ngày nay trong giới tri thức của nhân loại.  Trạng thái tâm thức Atlantean (vận hành chủ yếu thông qua luân xa tùng thái dương) cũng sẽ giảm đi đáng kể khi trung tâm trái tim thức tỉnh. Nhân loại rồi sẽ vật lộn với những khó khăn và những rắc rối bệnh lý và tâm lý dựa trên những điều kiện và những ảnh hưởng của nhóm và không còn nhiều trên sự khai mở cá nhân của một người. Những khởi đầu của điều này đã có thể được thấy trong những pha thấp hơn trong sự khẩn cấp ngày nay của cái được gọi là “tâm lý đám đông”—một thứ mà cách đây vài trăm năm không được biết đến trên thực tế (ngoại trừ ở những trung tâm đô thị). [576] Giờ đây nó gần như có ảnh hưởng toàn cầu. Dư luận quần chúng, với ảnh hưởng xác định và tác động của nó, là một dạng khác của cùng một nhân tố đang nổi lên.

The throat center is now the most active in the majority of cases and the most significant. The time is, however, coming when humanity will function on a large scale and as a mass through the ajna center; this will take place in the next race for, in the next great cycle of racial development, there will be no people with a Lemurian consciousness to be found any where and the “pull” or the activity of the sacral center will be greatly lessened and controlled. This can be seen happening today among the intelligentsia of the race. The Atlantean state of awareness (which functions primarily through the solar plexus) will be also greatly lessened as the heart center awakens. Humanity will then be wrestling with difficulties and pathological and psychological troubles which will be based on group conditions and influences and not so much on a man’s individual unfoldment. The beginnings of this can already be seen in its lowest phase in the emergence today of what is called “mass psychology”—a thing practically unknown (except in urban centers) a few hundred years ago. [576] Now it is well nigh planetary in its radius of influence. Public opinion, with its determining and conditioning influence, is another phase of the same emerging factor.

Trạng thái tâm thức Aryan, với khả năng điều phối của nó và sự nhấn mạnh về trí tuệ của nó, sẽ kiểm soát đám đông con người, bởi vì trong giống dân sắp tới trạng thái tâm thức xúc cảm Atlantean sẽ đối với nhân loại giống như cái mà tâm thức Lemurian hay dạng cấp thấp đối với giống dân Aryan vào thời điểm hiện nay.  Quần chúng tất cả rồi sẽ thuộc về giới tri thức, trong khi đó giới tri thức của ngày hôm nay sẽ là giới trực giác của ngày mai. Trong ngôn ngữ của huyền bí học, đám đông sẽ trên con đường đệ tử tập sự và phần ưu tú của giống dân sẽ trên con đường của đệ tử. Số lượng của những vị điểm đạo đồ và các vị chân sư giáng sinh để thực hiện công việc hiển lộ Thánh Đoàn ra thế gian sẽ rất lớn. Thế giới lúc đó sẽ tràn đầy những con người đã hợp nhất phàm ngã hoàn toàn với tất cả những đức tính (và do đó cùng với tất cả những tật xấu), những tham vọng và vấn đề, xảy đến vào giai đoạn nhận thức đó.

The Aryan state of consciousness, with its coordinating capacity and its mental emphasis, will control the mass of the people, for in the coming race the Atlantean emotional state of consciousness will be to humanity what the Lemurian or low grade type is to the Aryan at this time. The masses will then all come under the category of the intelligentsia, whilst the intelligentsia of today will be the intuitive of tomorrow. In the language of mysticism, the masses will be on the probationary path and the cream of the race will be on the path of discipleship. The number also of the initiates and adepts, present in incarnation in order to carry forward the externalized work of the Hierarchy, will be great. The world will then be full of people who will be completely integrated personalities with all the virtues (and consequently all the vices), the ambitions and problems, incident to that stage of awareness.

Chính vì lý do này mà Thánh đoàn đang làm việc tại thời điểm này để gieo trồng trong nhân loại Nguyên lý Bác Ái Vũ trụ, để tình thương và trí tuệ có thể tiến hành song song và do đó cân bằng nhau. Chính vì lý do này mà sự thực về sự tồn tại của Huyền Giai tinh thần (Thánh đoàn) phải được ra cho quần chúng biết. Điều này phải được thực hiện để tăng cường sức mạnh từ tính của phương diện Bác ái của những nỗ lực của Thánh đoàn, chứ không phải để đánh thức sự sợ hãi hay kinh sợ, vì điều đó thuộc trật tự cũ và phải biến mất.

It is for this reason that the Hierarchy is working at this time to bring about the fecundation of the race by the cosmic principle of love, so that love and intellect can proceed hand in hand and thus balance each other. It is for this reason that the fact of the existence of the spiritual Hierarchy must be brought to the attention of the masses. This must be done in order to enhance the magnetic power of the love aspect of the hierarchical effort and not in order to awaken fear or awe, for that is of the old order and must disappear.

Phần 1, 2

3378 — Tổng số lần đọc 1 — Hôm nay

  2 comments for “Quyền năng thông linh cao và thấp (3)

  1. jupiter nguyen
    November 6, 2015 at 8:46 am

    ” Ý chính mà tôi muốn bạn lưu tâm đó là sự phát triển của Tính Bao Gồm (Inclusiveness). … bởi vì con người bao gồm trong bản chất của mình tất cả những thành tựu của những chu kỳ tiến hóa trong quá khứ (trong những giới tự nhiên khác và trong những kiếp sống trước đây), cộng với tiềm năng của một sự bao gồm lớn hơn trong tương lai. Con người là đại thiên địa của tiểu thiên địa; những thành tựu và những tính chất đặc thù của các giới tự nhiên khác là của anh, được biến thành các khả năng của tâm thức. Tuy nhiên, anh được bao bọc trong và là một phần của một đại thiên địa còn lớn hơn, và phải ngày càng phải trở nên nhận thức hơn về điều này. Hãy để từ này, Sự Bao Gồm, chi phối suy nghĩ của bạn khi bạn đọc huấn thị này mà tôi đưa ra cho bạn nói về các quyền năng thông linh và ảnh hưởng của chúng. ” . Ôi kỳ diệu ! . Theo tôi thì từ Inclusiveness nếu dịch là Tính Toàn Thể sẽ dễ hiểu hơn vì điều đó như là ” một giọt nước trong đại dương ” , và mỗi tâm thức linh hồn thì như giọt nước trong đại dương vậy , có nghĩa là trong đại dương có chứa đựng giọt nước đó và ngược lại thì giọt nước đó cũng chứa đựng toàn thể nước của đại dương ( vì giọt nước đó không thể tách rời khỏi đại dương được vì cái này ở trong cái kia và ngược lại ) , do đó cái này tồn tại vì cái kia tồn tại , do đó giọt nước đó sẽ không bao giờ biến mất trước khi đại dương khô cạn. Do đó mà cả chân sư D.K và Krishnamutri đã khẳng định rằng ” Bạn Là Một Phần Của Cái Toàn Thể Và Không Thể Tách Rời Được ” . Phải chăng đó là lý do Krishnamutri nói ” bạn ( tâm thức linh hồn ) chính là quá khứ , là hiện tại và tương lai ” .

    • webmaster
      November 6, 2015 at 9:04 am

      “Inclusiveness” là đặc điểm của Cung 2, là việc bao gồm những cái khác vào trong vòng ring-pass-not của mình. Khi con người càng tiến hoá thì vòng ring-pass-not ngày càng mở rộng lần ra… dịch là Tính Toàn Thể không thể hiện được ý nghĩa này. Thân ái

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *