Thái dương hệ – Phần 7: Đức Sanat Kumara

Đức Ngọc Đế (Sanat Kumara)

Trong truyền thuyết cổ xưa cũng như sách vở của Hội Thông Thiên Học có nhắc đến đức Chủ Quản Hành tinh của chúng ta, đức Sanat Kumara. Theo từ nguyên tiếng Phạn, Sanat Kumara có nghĩa là “Chàng Thanh niên mãi mãi thanh xuân”. Trong bộ Giáo Lý Bí truyền Bà Blavatsky nhắc đến Ngài trong đoạn văn tuyệt đẹp như sau:

“Đấng Cao Cả vừa được đề cập đến ở trên vốn không tên gọi, là cái Gốc từ đó phát sinh trong những thế hệ tương lai tất cả những bậc Thánh Triết nổi danh trong lịch sử như đức Kapila, Hermes, Enoch, Orpheus,v.v…

“Ngài là Nhân Vật Huyền Thoại (luôn luôn hiện hữu tuy mãi vô hình đối với những người thường), mà những giai thoại truyền thuyết khắp nơi ở các xứ sở phương Đông, nhất là trong giới Huyền Môn và những người học Đạo pháp Bí truyền. Ngài có thể thay đổi hình tướng, nhưng Ngài vẫn bất biến. Chính Ngài là vị Chủ Tể về phương diện tâm linh của tất cả các đấng Cao Cả đã được Điểm Đạo trên toàn thế gian. Như đã nói ở trên, Ngài là “Đấng Vô Danh”, nhưng lại có rất nhiều tên gọi, tuy nhiên không ai biết rõ về những tên gọi cùng bản chất thật của Ngài.

The “Being” just referred to, who has to remain nameless, is the Tree from which, in subsequent ages, all the great historically known Sages and Hierophants, such as the Rishi Kapila, Hermes, Enoch, Orpheus, etc., have branched off.

As objective man, he is the mysterious (to the profane—the ever invisible, yet ever present) Personage, about whom legends are rife in the East, especially among the Occultists and the students of the Sacred Science. It is he who changes form, yet remains ever the same. And it is he, again, who holds spiritual sway over the initiated Adepts throughout the whole world. He is, as said, the “Nameless One” who has so many names, and yet whose names and whose very nature are unknown.

“Ngài là đấng cầm quyền Điểm Đạo, được gọi là Đấng “Đại Hy Sinh”. Đó là bởi vì ngồi bên ngưỡng cửa Ánh Sáng, Ngài nhìn vào đó từ bên trong cái Vòng Vô Minh đen tối, mà Ngài sẽ không vượt qua; và Ngài cũng sẽ không rời khỏi nhiệm sở của Ngài cho đến giờ phút cuối cùng của Chu kỳ sinh hoạt hiện tại.

“Tại sao đấng Trông Nom Thầm Lặng ấy vẫn ở lại nhiệm sở do Ngài chọn lựa? Tại sao Ngài vẫn ngồi bên Giòng Suối Minh Triết, mà Ngài không còn uống nữa, vì không còn điều gì mà Ngài không biết và phải học nữa ở cõi Hạ Giới hay ở cõi Trời? Bởi vì những người Hành Hương lẽ bạn cô đơn với bàn chân rướm máu trên con đường thiên lý gian nan trở về Quê cũ, sẽ không bao giờ dám chắc cho đến giờ phút cùng cuối rằng họ sẽ không bị lạc đườngtrong bãi sa mạc mênh mông của Ảo tưởng và vật chất phù du mà người ta gọi là Cuộc sống trần gian;

“Bởi vì Ngài phải đưa đường chỉ lối cho những người nào đã giải thoát ra khỏi sự trói buộc của xác thân và ảo tưởng đến vùng đất của tự do và ánh sáng, nơi mà Ngài đã tự nguyện rời bỏ, lưu đày. Nói tóm lại, bởi vì Ngài đã tự hy sinh vì hạnh phúc của Nhân Loại, tuy chỉ có một thiểu số những người hữu phước được thừa hưởng ân huệ của cuộc Đại Hy Sinh ấy.

He is the “Initiator,” called the “Great Sacrifice”. For, sitting at the Threshold of Light, he looks into it from within the Circle of Darkness, which he will not cross; not will he quit his post till the last Day of this Life-Cycle. Why does the Solitary Watcher remain at his self-chosen post? Why does he sit by the Fountain of Primeval Wisdom, of which he drinks no longer, for he has naught to learn which he does not know—aye, neither on this Earth, nor in its Heaven? Because the lonely sore-footed Pilgrims, on their journey back to their Home, are never sure, to the last moment, of not losing their way, in this limitless desert of Illusion and Matter called Earth-Life. Because he would fain show the way to that region of freedom and light, from which he is a voluntary exile himself, to every prisoner who has succeeded in liberating himself from the bonds of flesh and illusion. Because, in short, he has sacrificed himself for the sake of Mankind, though but a few elect may profit by the Great Sacrifice.

“Chính nhờ sự dìu dắt trực tiếp và thầm lặng của Vị Đại Huấn Sư (Maha-Guru) ấy mà tất cả những vị Chân Sư, Chưởng Giáo của thế gian trở nên những vị hướng dẫn của nhân loại lúc sơ khai, kể từ thuở tâm thức con người mới bắt đầu khai mở. Chính nhờ những vị ấy mà Nhân Loại sơ khai học được những nguyên tắc đầu tiên của tất cả các ngành nghệ thuật, khoa học và triết học tâm linh. Chính các Ngài đã xây nền móng căn bản cho những nền văn minh cổ đã từng làm cho thế hệ học giả và sinh viên của thời nay phải lấy làm vô cùng ngạc nhiên”.

It is under the direct, silent guidance of this Maha-Guru that all the other less divine Teachers and Instructors of Mankind became, from the first awakening of human consciousness, the guides of early Humanity. It is through these “Sons of God” that infant Humanity learned its first notions of all the arts and sciences, as well as of spiritual knowledge; and it is they who laid the first foundation-stone of those ancient civilizations that so sorely puzzle our modern generation of students and scholars.[1]

 

Trong bộ sách Giáo Lý Bí truyền thỉnh thoảng ta vẫn thấy chen lẫn đó đây những áng văn tuyệt đẹp, bóng bẩy như vậy. Bà Blavatsky nói rằng tác phẩm The Secret Doctrine là tác phẩm chung của các vị Chân sư mà bà chỉ là người viết lại (writer). Đức DK thì nói rằng chính Ngài đã đọc cho bà viết nhiều đoạn trong bộ sách đó. Trong đoạn văn trên bà Blavatsky nói sơ lược về đức Sanat Kumara mà các nhà Thông Thiên Học Việt Nam dịch là đức Ngọc Đế. Bà gọi Ngài là Đấng Đại Hi sinh (Great Sacrifice), Đấng Điểm Đạo (The Initiator), Đấng Không Tên (Nameless One), Đấng Đại Huấn Sư (Maha-Guru), Chàng Thanh Niên mãi xuân xanh (Eternal Youth)

Ông Leadbeater trong quyển Chân sư Và Thánh Đạo có đoạn sau đây mô tả chi tiết hơn về đức Sanat Kumara (Các số trong ngoặc kép dùng để tham khảo trong phần chú giải của chúng tôi sau phần trích dẫn)

I. Về phương diện tâm linh, quả Địa cầu của chúng ta được đặt dưới sự cai quản của đức Ngọc Đế, là một trong những vị Hoả Chân Quân (Lords of the Flame) đến từ bầu Kim Tinh từ rất lâu (1a). Người Ấn Độ gọi Ngài là đức Sanat Kumara, chữ Kumara có nghĩa là Ông Hoàng hoặc đấng Chủ quản. Có chỗ gọi Ngài là Đấng Điểm Đạo Độc Tôn, đấng Độc Nhứt Vô Nhị, Chàng Thanh Niên Mười Sáu Xuân Xanh; và chúng ta thường gọi Ngài là đức Ngọc Đế. Ngài là đấng Chủ Tể tối cao, hào quang của Ngài bao trùm hết tất cả bầu hành tinh của chúng ta. Ngài đại diện cho Đức Thượng Đế trên thế gian, và chỉ huy toàn diện cuộc Tiến Hóa trên quả Địa Cầu, không những của nhân loại mà thôi, mà cũng gồm luôn sự tiến hóa của các Thiên Thần, các Tinh Linh Ngũ Hành, và tất cả mọi chúng sinh trên mặt đất. Lẽ tất nhiên, Ngài hoàn toàn khác hẳn với đấng Cao Cả gọi là Chân Linh của Trái Đất (The Spirit of the Earth), đấng này dùng quả Địa Cầu làm một thể xác hồng trần. (1b)

OUR WORLD is governed by a Spiritual King—one of the Lords of the Flame who came long ago from Venus. He is called by the Hindus Sanat Kumara, the last word being a title, meaning Prince or Ruler. Other names given to him are the One Initiator, the One without a Second, the Eternal Youth of Sixteen Summers; and often we speak of him as the Lord of the World. He is the Supreme Ruler; in his Hand and within his actual aura lies the whole of his planet. He represents the Logos, as far as this world is concerned, and directs the whole of its evolution—not that of humanity alone, but also the evolution of the Devas, the nature-spirits, and all other creatures connected with the earth. He is, of course, entirely distinct from the great Entity called the Spirit of the Earth, who uses our world as a physical body.

II. Đức Ngọc Đế gìn giữ trong Trí của Ngài toàn diện Cơ Tiến Hóa, ở một mực độ rất cao mà chúng ta không biết gì cả. Ngài là cái Động Lực thúc đẩy mọi sự tiến hóa trên mặt đất, là sự biểu hiện của Thiên Ý trên quả địa cầu. Tất cả những đức tính biểu lộ trong đời sống của người thế gian, như sức mạnh, sự can đảm, cương quyết, kiên nhẫn, cùng những đức tính khác, v,v… đều là phản ảnh của Ngài. Tâm thức của Ngài rộng rãi bao la, tâm hiểu biết của Ngài có thể thấu đáo trong khoảnh khắc tất cả mọi sự sinh hoạt trên mặt địa cầu. Ngài nắm giữ trong tay những quyền năng tiêu diệt các lục địa ở mỗi chu kỳ, vì Ngài sử dụng Điển Lực (Fohat) trên những mực độ rất cao và có thể trực tiếp sử dụng những mãnh lực Vũ Trụ ngoài dãy Hành Tinh của chúng ta. Công việc của Ngài thường là liên hệ đến toàn thể nhân loại hơn là liên hệ đến từng cá nhân, nhưng khi Ngài ảnh hưởng đến bất cứ một người nào, chúng tôi được biết rằng đó là ảnh hưởng trực tiếp xuyên qua Atma của người ấy, chớ không phải xuyên qua Chơn Nhơn.

In his mind he holds the whole plan of evolution at some high level of which we know nothing; he is the Force which drives the whole world-machine, the embodiment of the Divine Will on this planet, and strength, courage, decision, perseverance and all similar characteristics, when they show themselves down here in the lives of men, are reflections from him. His consciousness is of so extended a nature that it comprehends at once all the life on our globe. In his hands are the powers of cyclic destruction, for he wields Fohat in its higher forms and can deal directly with cosmic forces outside our chain. His work is probably usually connected with humanity en masse rather than with individuals, but when he does influence any single person we are told that it is through the atma, and not through the ego, that his influence is brought to bear.

III. Người thí sinh trên đường Đạo sẽ có lúc tiến đến một giai đoạn mà y được chánh thức trình diện với đức Ngọc Đế (2). Những người nào có diễm phúc gặp Ngài tận mặt đều nói rằng Ngài có cái hình dáng của một người thanh niên tuấn tú, nghiêm chỉnh, và từ bi khôn tả. Tuy nhiên, Ngài cũng có một phong độ oai nghi, biểu lộ một sự Toàn Năng không thể đo lường, và một uy quyền mãnh liệt đến nỗi có vài người không thể chịu đựng nổi cái nhìn của Ngài, và phải che mặt vì sợ hãi. Đó là trường hợp của bà Blavatsky, nhà Sáng Lập Hội Thông Thiên Học chúng ta. Người nào đã có cái kinh nghiệm đó rồi thì không thể nào quên, và cũng không bao giờ có thể nghi ngờ rằng, dầu cho thế gian có những tội lỗi và đau khổ lớn lao đến thế nào, rốt cuộc tất cả mọi sự đều đưa con người đến chỗ tốt lành, và nhân loại luôn luôn được dìu dắt, hướng dẫn đi đến mục đích cuối cùng.

At a certain point in the progress of an aspirant on the Path he is formally presented to the Lord of the World, and those who have thus met him face to face speak of him as in appearance a handsome youth, dignified, benignant beyond all description, yet with a mien of omniscient, inscrutable majesty, conveying such a sense of resistless power that some have found themselves unable to bear his gaze, and have veiled their faces in awe. Thus, for example, did our great Founder, Madame Blavatsky. One who has had this experience can never forget it, nor can he ever thereafter doubt that, however terrible the sin and sorrow on earth may be, all things are somehow working together for the eventual good of all, and humanity is being steadily guided towards its final goal.

IV. Chúng tôi được biết rằng trong mỗi thời kỳ của một bầu thế giới, có ba vị Ngọc Đế nối nghiệp lẫn nhau, và đức Ngọc Đế hiện thời giữ chức vụ đó là vị thứ ba (3). Ngài cùng với ba vị đệ tử hiện nay ở tại một nơi hẻo lánh trong vùng sa mạc Gobi, gọi là Shamballa thường được gọi là Đảo Thiêng, để nhắc lại hồi thuở xưa vùng này hãy còn là một hòn đảo ỡ giữa biển thuộc Trung Bộ Á Châu. Bốn đấng Cao Cả thường được gọi “Những Đứa Con của Hoả Mù” (Sons of the Fire-Mist) vì các Ngài thuộc hệ thống tiến hóa khác hẳn của chúng ta (4). Những Thể Xác của các Ngài, mặc dầu bề ngoài giống như hình người, nhưng khác hẳn với xác phàm của chúng ta về cách cấu tạo, vì đó là những Thể Xác được tạo ra, và những tế bào của nó không có thay đổi như xác phàm con người. Những Thể Xác đó không cần ăn uống vật thực, và trải qua hằng ngàn năm vẫn không hề thay đổi.

Ba vị đệ tử nói trên là ba vị Độc Giác Phật (Pratyeka Buddha) cấp đẳng ngang hàng với quả vị Phật, trợ giúp đức Ngọc Đế trong công việc của Ngài, và sẽ là ba vị Ngọc Đế tương lai khi nhân loại chuyển qua bầu Thủy Tinh (Mercury). (5)

During each world-period, we are told, there are three successive Lords of the World, and the present holder of the office is already the third. He resides with his three Pupils in an oasis in the Gobi desert called Shamballa, often spoken of as the Sacred Island, in remembrance of the time when it was an island in the Central Asian Sea. These four greatest of the Adepts are often called “The Children of the Fire-Mist,” since they belong to an evolution different from ours. Their bodies, though human in appearance, differ widely from ours in constitution, being rather garments assumed for convenience than bodies in the ordinary sense, since they are artificial and their particles do not change as do those of the human frame. They require no nourishment, and remain unchanged through thousands of years.

The three Pupils, who stand at the level of the Buddha, and are called Pratyeka or Pachcheka Buddhas, assist the Lord in his work, and are themselves destined to be our three Lords of the World when humanity is occupying the Planet Mercury.

V. Bảy năm một lần, đức Ngọc Đế cử hành tại Shamballa một cuộc lễ lớn cũng đại khái giống như Lễ Wesak, nhưng trên một quy mô rộng lớn hơn và thuộc loại khác hơn. Trong cuộc Lễ này tất cả các vị Chơn Sư và vài vị Đạo Đồ ở cấp đẳng thấp hơn đều được mời tham dự, và như thế các Ngài có dịp tiếp xúc với đấng Chủ Tể của Thánh đoàn. Trong những dịp khác, đức Ngọc Đế chỉ tiếp xúc với những vị Trưởng Thượng trong Thánh đoàn trừ khi nào vì những lý do đặc biệt, Ngài kêu gọi những vị khác đến trước mặt Ngài.

Once in every seven years, the Lord of the World conducts at Shamballa a great ceremony somewhat similar to the Wesak event, but on a still grander scale and of a different type, when all the Adepts and even some Initiates below that grade are invited, and have thus an opportunity to come into touch with their great Leader. At other times he deals only with the Heads of the Official Hierarchy, except when for special reasons he summons others to his presence.

VI. Địa vị cao cả của đức Ngọc Đế đã được diễn tả trong bộ sách “Giáo Lý Nhiệm Mầu”. Trong đó có nói rằng trải qua giòng thời gian, những quả vị lớn lao đưa đến mức Toàn Thiện vẫn sẽ không thay đổi, mặc dầu toàn thể chúng sinh đều tiến lên mãi. Như thế những điều sở đắc của người hành giả để đạt tới một quả vị nhứt định trong cái tương lai xa xăm về sau, sẽ đầy đủ viên mãn hơn là so với thời buổi bây giờ. Sách ấy nói: “Người Toàn Thiện của cuộc Tuần Hườn thứ Bảy của Dãy Hành Tinh hiện tại sẽ còn thấp hơn có một bực so với quả vị cao tột trên Địa Cầu hiện nay”. Nghĩa là: quả vị đức Ngọc Đế hiện thời ở trên một cấp đẳng cao hơn quả vị mà người Toàn Thiện của nhân loại chúng ta sẽ đạt tới trong Cuộc Tuần Hoàn thứ Bảy, tức là sau những thế hệ tiến hóa phải trải qua hằng triệu năm và đưa chúng ta đi xuyên qua hai Cuộc Tuần Hườn rưỡi gồm bao nhiêu kiếp sinh tử luân hồi với những kinh nghiệm đủ mọi thứ. Đấng Cao Cả nói trên xuất hiện trong thời kỳ Giống Dân thứ Ba để đảm nhiệm lấy cuộc Tiến Hóa trên quả Địa Cầu. (6) Điều này được diễn tả trong quyển “Con người, từ đâu đến và sẽ đi về đâu”.

The exalted position of this our spiritual King as been described in The Secret Doctrine. It is there stated that as the ages pass the great steps which we now recognize as leading to perfection will remain unchanged as to their relative positions, though the system of things as a whole is moving upwards, and thus the actual attainments which in the remote future will mark a particular step will be far fuller than they are at present. The Perfected Men of the Seventh Round [2] of our Chain will be, it is said, “but one remove from the Root-Base of their Hierarchy, the highest on Earth and our Terrestrial Chain.” That is to say, the King stands even now one stage beyond the point to which only ages of evolution will bring the perfected men of our humanity—ages that must run into millions of years, taking us through two and a half rounds of varied experience. This wondrous Being came during the third-race period to take charge of the Earth evolution. That coming of the World’s future King is thus described in Man: Whence, How and Whither:

VII. “Ngôi Bắc Đẩu lớn vẫn hoàn toàn chói rạng. Châu Lemuria nằm vắt ngang trái Đất dọc theo đường Xích Đạo, gồm luôn cả đảo Madagascar hiện nay. Vùng biển cả ngày nay đã biến thành sa mạc Gobi, hồi đó vẫn còn đập sóng vào những ghềnh đá ở sường núi phía Bắc dãy Hy Mã Lạp Sơn. Tất cả đều được chuẩn bị để chờ đón một sự kiện vĩ đại nhứt trong lịch sử quả Địa Cầu: đó tức là sự xuất hiện của những đấng Hỏa Chân Quân  từ bầu Kim Tinh đến.

“Những vị Thái Âm Tinh Quân và đức Bàn Cổ của Giống Dân thứ Ba đã làm đủ hết mọi cách để dìu dắt sự tiến hóa của con người đến một giai đoạn làm cho cái mầm Trí tuệ của họ được nảy nở mau chóng, và Chơn Nhơn có thể xuất hiện. Tất cả những kẻ chậm tiến đều được thúc đẩy cho mau tiến lên; trong hàng ngũ loài cầm thú, không còn con thú nào có thể tiến lên thành người nữa.

“Sự tiến hóa của loài thú thành loài người chỉ bị ngăn chận lại khi nào thấy không còn con thú nào có triển vọng tiến lên nữa. Hoặc không còn con thú nào có thể tiến lên thành người mà không có sự trợ giúp một cái đà mãnh liệt, chỉ được ban cho chúng có một lần ở vào khoảng giữa mỗi Hệ Thống Tiến Hóa.

The great Lemurian Polar Star was still perfect, and the huge Crescent still stretched along the equator, including Madagascar. The sea which occupied what is now the Gobi Desert still broke against the rocky barriers of the northern Himalayan slopes, and all was being prepared for the most dramatic moment in the history of the Earth—the Coming of the Lords of the Flame.

The Lords of the Moon and the Manu of the third Root Race had done all that was possible to bring men up to the point at which the germ of mind could be quickened, and the descent of the ego could be made. All the laggards had been pushed on; there were no more in the animal ranks capable of rising into man. The door against further immigrants into the human kingdom from the animal was shut only when no more were in sight, nor would be capable of reaching it without a repetition of the tremendous impulse given only once in the evolution of a Scheme, at its midmost point.

VIII. “Thời giờ được chọn cho sự việc quan trọng này là nhằm lúc mà ảnh hưởng của các vị tinh tú được đặc biệt tốt lành, và trạng thái từ điển của trái Đất được thuận tiện nhứt. Đó là vào khoảng độ sáu triệu rưỡi năm về trước. (7)

“Khi đó, với những tiếng gầm rung trời chuyển đất giáng xuống rất mau từ những đỉnh cao tột không thể đo lường, bao phủ chung quanh bằng những khối lửa khổng lồ với những lửa đỏ xẹt ra tràn khắp mọi nơi trên nền trời, chiếc xe của các đấng Hỏa Chân Quân từ bầu Kim Tinh vượt qua không gian giáng xuống Địa Cầu, và ngừng lại ở phía trên “Đảo Thiêng” nằm giữa Biển Gobi (8). Đảo ấy cây cỏ xanh tươi, và tràn đầy những khóm hoa thơm muôn màu tươi thắm, dường như là địa điểm tốt lành và đẹp đẽ nhứt của quả Địa Cầu để nghinh đón đức Ngọc Đế. Ngài đã xuất hiện, vị Thanh Niên Mười Sáu Xuân Xanh, đức Sanat Kumara, vị Chủ Tể mới của quả Địa Cầu, đã đến chỗ nhiệm sở mới của Ngài cùng với những vị Đệ Tử là ba vị Độc Giác Phật (Kumaras) , và những vị Phụ tá khác ở chung quanh Ngài. Tất cả có đến ba mươi đấng Cao Cả (9) đã xuất hiện, cao cả hơn những gì mà thế gian có thể hiểu biết, với nhiều đẳng cấp khác nhau. Các Ngài đều có những Thể tinh anh, do các Ngài tự tạo lấy bằng sức mạnh của Ý Chí (Kriya Shakti) .(10) Các Ngài gồm thành phần đầu tiên của nhóm Thánh đoàn, là Cơ quan đào tạo nên các vị Chân Sư tương lai, và trung tâm huyền bí của tất cả mọi sinh hoạt tâm linh trên thế gian. Hòn Đảo Thiêng này là một nơi Đất Lành bất diệt, trên đó luôn luôn chói rạng Ngôi Sao Sáng, biểu hiện của đức Ngọc Đế, Chủ tể quả Địa Cầu”

A great astrological event, when a very special collocation of planets occurred and the magnetic condition of the Earth was the most favourable possible, was chosen as the time. It was about six and a half million years ago. Nothing more remained to be done, save what only they could do.

Then, with the mighty roar of swift descent from incalculable heights, surrounded by blazing masses of fire which filled the sky with shooting tongues of flame, flashed through the aerial spaces the chariot of the Sons of the Fire, the Lords of the Flame from Venus; it halted, hovering over the “White Island,” which lay smiling in the bosom of the Gobi Sea; green was it, and radiant with masses of fragment manycoloured blossoms, Earth offering her best and fairest to welcome her coming King. There he stood, “the Youth of sixteen summers,” Sanat Kumara, the “Eternal Virgin-Youth,” the new Ruler of Earth, come to his kingdom, his Pupils, the three Kumaras, with him, his Helpers around him; thirty mighty Beings were there, great beyond Earth’s reckoning, though in graded order, clothed in the glorious bodies they had created by Kriyashakti, the first Occult Hierarchy, branches of the one spreading Banyan-Tree, the nursery of future Adepts, the centre of all occult life. Their dwelling-place was and is the Imperishable Sacred Land, on which ever shines down the Blazing Star, the symbol of Earth’s Monarch, the changeless Pole round which the life of our Earth is ever spinning.[3]

Trong đoạn văn dài trích ở trên có những chi tiết thực hư, đúng sai lẫn lộn, và đôi chỗ “duy vật hoá” (materialized) quá như lời như đức DK nói. Trong đoạn I, Ông C.W. Leadbeater nói rằng đức Sanat Kumara và ba vị Kumara khác đến từ Kim Tinh [Xem 1], thuộc Hệ hành tinh Kim Tinh, điều này theo đức DK chỉ là phân nửa sự thật. Trong A Treatise on Cosmic Fire đức DK giải thích như sau:

Câu nói cho rằng đức Sanat Kumara hay đấng Điểm Đạo độc tôn đến Địa cầu chúng ta từ Kim tinh chỉ đúng trong ý nghĩa nó thể hiện ý tưởng rằng Ngài đến bầu hành tinh thứ tư (trái đất) của Dãy thứ tư (Dãy Địa Cầu) từ Dãy Hành tinh trong Hệ hành tinh của chúng ta được gọi là Dãy “Kim Tinh” hay Dãy Hành tinh thứ hai. Ngài đến Trái đất chúng ta thông qua bầu thứ hai trong Dãy hành tinh của chúng ta. Làn rung động hiếm khi cảm nhận được của Ngài được cảm nhận một cách huyền bí trong cuộc tuần hoàn thứ hai, nhung chính trong giống dân chánh thứ ba của cuộc tuần hoàn thứ tư điều kiện mới cho phép Ngài giáng lâm trong thể xác hồng trần và xuất hiện như một Avatar (Hoá Thân). Môt cách cực kỳ tôn kính, chúng ta có thể nói rằng ba cuộc tuần hoàn đầu tiên và hai giống dân chánh của cuộc tuần hoàn thứ tư của Dãy Hành tinh này tương ứng với thời kỳ trước khi sinh; và sự xuất hiện của Ngài trong cuộc tuần hoàn thứ tư với hệ quả là sự thức tỉnh của trí tuệ trong nhân loại tương tự như sự thức tỉnh của sinh khí ở đứa trẻ tháng thứ tư trong bụng mẹ. [Cosmic Fire trang 371]

Third, the statement that the great Kumara or the One Initiator came to this planet from Venus is true in so far as it embodies the fact that He came to this dense planet (the fourth) in the fourth chain from that chain in our scheme which is called the “Venus” chain, and which is the second chain.  He came via the second globe in our chain; His scarcely felt vibration was sensed (occultly) in the second round, but only in the third root-race of the fourth round did conditions permit of His physical incarnation and of His coming as the Avatar.  Very reverently might it be said that the first three rounds and the two succeeding root-races in this chain correspond to the period prior to birth; and that His coming in the fourth round with the subsequent awakening of manas in the human units find their analogy in the awakening of the life principle in the unborn infant at the fourth month.

Trong đoạn văn trên, đức DK dạy rằng đức Sanat Kumara chính là đức Hành Tinh Thượng đế (Planetary Logos) của Hệ Hành tinh chúng ta giáng lâm vào thời kỳ của Giống dân chánh thứ ba trong cuộc tuần hoàn thứ tư trên Địa Cầu. Ngài có thể xem như một Hoá Thân (Avatar) của đức Hành Tinh Thượng Đế, và Ngài đến Điạ cầu từ Dãy hành tinh thứ hai còn được gọi là Dãy Kim Tinh. Chính vì cách sử dụng các tên gọi Kim Tinh, Hoả tinh … cùng lúc cho bầu hành tinh, dãy hành tinh, hệ hành tinh … đã khiến cho các đệ tử nhầm lẫn tai hại. Chính đức DK cũng cho rằng nên bỏ cách gọi tên như thế, mà thay vào đó nên gọi là bầu A, B, C … hay Dãy thứ nhất, thứ nhì …

Một điều chúng ta cũng nên lưu ý, mỗi khi nhắc đến đức Sanat Kumara đức DK cực kỳ tôn kính. Ngài hay dùng những từ như: very reverently (rất mực tôn kính)

Cũng trong đoạn I-1b trên, Ông C.W. Leadbeater nói rằng Ngài (đức Sanat Kumara) khác hẳn với đấng The Spirit of the Earth mà chúng tôi tạm dịch là Chân Linh của Địa Cầu. Đây chính là từ dùng để chỉ đức Hành Tinh Thượng đế (Planetary Logos) của Hệ hành tinh chúng ta. Vấn đề này vẫn là một huyền nhiệm của Huyền Linh học.

Đức DK nói rằng đức Sanat Kumara giáng lâm trên Địa cầu chúng ta đã hơn 18 triệu năm không như Ông Leadbeater nói là cách nay 6,5 triệu năm [Xem 7]. Ngài đến cùng với 3 vị Kumara khác là đệ tử của Ngài, các vị này được gọi là các vị Kumara ngoại môn (exoteric Kumaras). Ngoài ra còn có ba vị Kumara nội môn (esoteric) khác. Tổng số các vị Kumaras đến địa cầu lần đó là 108 vị (thay vì 30 vị như Ông Leadbeater nói) [Xem 9] vào thời kỳ giữa của giống dân chánh thứ ba trong cuộc tuần hoàn này.

Trong đoạn III-(2), Ông Leadbeater cho rằng trên đường đạo đến một thời kỳ nào đó người đệ tử sẽ được phép diện kiến đức Sanat Kumara [Xem 2]. Đức DK nói rõ hơn trong cuộc điểm đạo lần thứ ba người đạo đồ sẽ diện kiến đức Ngọc Đế bởi vì khi đó Ngài là vị chủ trì lễ Điểm đạo. Trong các cuộc Điểm đạo lần 1 và 2, đức Maitreya là đấng Điểm đạo và đức Sanat Kumara chuẩn y buổi lễ qua Ngôi Sao trên đầu người đạo đồ. Chúng ta nhớ lại  trong mantram Lời Cầu Nguyện Các Đấng Cao Cả, có câu “cho đến khi chúng con được đứng trước Đấng Điểm Đạo Độc tôn, cho đến khi chúng con thấy được Ngôi sao của Ngài chiếu rọi…”

Nếu các bạn cần một nhân chứng mà các bạn có thể yên tâm tin tưởng về sự hiện hữu của đức Sanat Kumara, “Chàng Thanh Niên 16 Xuân Xanh”, thì các bạn có thể đọc đoạn văn sau đây của Krishnamurti viết trong bức thư gởi bà Annie Besant vào năm 1910—lúc Ông 15 tuổi:

Đêm kế con được đưa đến gặp đức Ngọc đế (The King), và đó là kinh nghiệm kỳ diệu nhất cho tất cả mọi người, vì Ngài là một chàng trai không lớn hơn tuổi hơn con bao nhiêu, nhưng là con người tuấn tú nhất mà con từng gặp. Ngài chói lọi rạng ngời, và khi Ngài cười trông giống như những tia nắng mặt trời. Ngài mạnh mẽ như biển cả, khiến không chi có thể ngăn cản được Ngài dù chỉ trong phút chốc. Thế nhưng Ngài lại là lòng Bác Ái bao la khiến con không e sợ Ngài chút nào cả. Và Ngôi Sao bạc mà chúng ta thấy chỉ là một phần của Ngài—không phải nó được gởi đến buổi lễ, bởi vì Ngài ở đó và ở khắp mọi nơi, mọi lúc, chỉ bằng cách nào đó để chúng ta thấy nó. Nhưng khi chúng ta không thấy nó, Ngài vẫn ở đó, không gì khác. Ngài nói với con rằng con đã làm tốt trong quá khứ, và trong tương lai con nên làm tốt hơn nữa. Và nếu công việc con có khó khăn, con không được bao giờ quên sự hiện diện của Ngài, bởi vì sức mạnh của Ngài luôn ở đằng sau con, và Ngôi Sao của Ngài sẽ mãi chiếu trên đầu của con. Kế đến Ngài đưa tay lên ban ơn huệ cho con và chúng ta bước ra. Còn có ba đức Cao Cả khác đứng sau lưng Ngài, nhưng con không nhìn các vị ấy, bởi vì con không thể rời mắt khỏi Ngài. Trên đường đến đó và khi trở về, con thấy những cảnh hoang tàn và một cây cầu lớn, khác với tất cả những cây cầu mà con từng gặp. Nhưng vì con mãi nghĩ về Ngài mà con không đề ý đến nó lắm. [Trích trong Krishnamurti: The Years of Awakening của Mary Lutyens]

The next night I was taken to see the King, and that was the most wonderful experience of all for He is a boy not much older than I am, but the handsomest I have ever seen, all shining and glorious, and when He smiles it is like sunlight. He is strong like the sea, so that nothing could stand against Him for a moment, and yet He is nothing but love, so that I could not be in the least afraid of Him. And the Silver Star that we have seen is just part of Him—not sent there, for He is there and everywhere all the time, but just somehow made so that we can see it. But when we do not see it, He is there just the same. He told me that I had done well in the past, and in the future I should do still better; and if my work should be difficult I must never forget His presence, for His strength would be always behind me, and His Star would shine over me. Then He raised His hand in blessing and we came away. There were three other Shining Ones who stood behind Him, but I did not look at Them, for I could not take my eyes from Him. On the way there and back I saw enormous ruins and a great bridge, different from any other that I have ever seen; but I was thinking so much of Him, that I did not notice them very much.

Các chi tiết “… trong mỗi thời kỳ của một bầu thế giới, có ba vị Ngọc Đế nối nghiệp lẫn nhau, và đức Ngọc Đế hiện thời giữ chức vụ đó là vị thứ ba …” ([3] [4] [5]) trong phần IV trên chúng tôi không thấy nói đến trong giáo lý của đức DK, mà nếu đức Sanat Kumara chính là hiện thân của đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta thì các chi tiết sẽ không hợp lý chút nào. Chi tiết thứ [10]  được chính đức DK xác nhận: do đức Sanat Kumara quá cao cả nên thể xác của Ngài được cấu tạo bằng chất liệu dĩ thái tinh anh nhất, được Ngài tạo ra bằng quyền năng Ý chí (Kriyashakti). Ngay cả nơi Ngài cư ngụ là Shamballa cũng nằm trên các phân cảnh giới dĩ thái cao nhất của cõi trần, trong sa mạc Gobi. Đức DK nói rằng khi nhân loại đã phát triển nhãn quang dĩ thái thì sự hiện hữu của Shamballa sẽ được tiết lộ.

 

[1] Op. cit., 4th ed., Vol. I, p.256

[2] This is a silent correction of a mistake in The Secret Doctrine (4th ed., vol. I, p. 255, Line 17 from the top) where H. P. Blavatsky had written “Rootrace” instead of “Round.” A.A.

[3] Op. cit., p. 101.

3597 — Tổng số lần đọc 1 — Hôm nay

  2 comments for “Thái dương hệ – Phần 7: Đức Sanat Kumara

  1. jupiter nguyen
    September 5, 2015 at 5:16 am

    Giáo lý TTH và sách của chân sư D.K đã tiết lộ rất nhiều điều huyền bí và nhiều định luật huyền môn. Tôi nghĩ rằng việc việc học hỏi và nghiên cứu những định luật huyền môn ( và hiển nhiên là phải thực hành và sống theo định luật ) thì rất là quan trọng và có ý nghĩa ( vì đó là luật Trời ) . Ví dụ chân sư D.K đã tiết lộ cho chúng ta biết về một định luật huyền linh rất là quan trọng, rất hay và rất tuyệt diệu mà chúng ta có thể cảm nhận được ngay trong cuộc sống thường ngày , định luật đó là ” Ta Sẽ Nhận Lại Những Gì Mà Ta Đã Cho Ra ” ( We Get What We Give ).

  2. jupiter nguyen
    September 5, 2015 at 6:01 am

    Một số bậc Thánh cũng như một số nhân vật tiến hóa cao trên mặt địa cầu này đã có một phát biểu tương tự như sau “ngôn ngữ chỉ là ngôn ngữ , lời nói chỉ là lời nói , điều chúng ta cần Thứ Thiệt” . Tôi cảm thấy câu nói đó là đúng cho tất cả mọi giáo lý khác và đúng cho tất cả mọi lĩnh vực khác (văn chương , triết học , đạo đức học …) , do đó hầu như chẳng có ý nghĩa thiết thực bao nhiêu và không làm thay đổi được bản chất con người . Nhưng tôi cảm thấy câu nói đó sẽ sai trong trường hợp giáo lý đặc biệt của chân sư D.K vì lời nói của Ngài thì không phải là lời nói (bình thường) , ngôn ngữ của Ngài thì không phải là ngôn ngữ (bình thường) , giáo lý của chân sư D.K có một sức mạnh vô song có thể làm thay đổi bản chất và lối sống của người học (vì nó khoa học và thực tế), vì giáo lý của Ngài giúp chúng ta mở mang trí tuệ và nhìn thấy những điều vô minh trong chính mình và giúp ta xóa bỏ nó . Quả thật là tôi đã tìm thấy “Thứ Thiệt” trong lời nói , ngôn ngữ và giáo lý của chân sư D.K. Chân sư D.K muôn năm, tôi là một người say mê giáo lý của Ngài một cách điên cuồng.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *