Cấu Tạo Con Người – Phần 15 – Thể dĩ thái (2)

Trong bài này, chúng ta tiếp tục nghiên cứu về thể dĩ thái theo giảng dạy của đức DK. Trước hết chúng tôi xin tóm tắt lại những điểm đã nêu về thể dĩ thái:

1. Thể dĩ thái của con người được cấu tạo bởi vật chất của 4 cõi phụ dĩ thái. Đây là trường hợp đặc biệt, vì thể dĩ thái của các giới khác trong tự nhiên chỉ cấu tạo bởi vật chất của một cõi phụ dĩ thái mà thôi. Chỉ trong giới nhân loại thể dĩ thái được cấu tạo bởi 4 loại dĩ thái khác nhau. Các bạn xem đồ hình sau:

2016-11-11_9-33-00

 

Các bạn cũng lưu ý trong đồ hình các cõi phụ dĩ thái được đếm từ thấp lên (thông thường từ cao xuống thấp)

Loại chất dĩ thái “làm nền tảng” (“substanding”) cho bất cứ hình hài nào cũng đều tùy thuộc vào hai yếu tố:

a. Giới có bản chất liên hệ. Về mặt căn bản, mỗi một trong bốn giới đều rút sự sống prana của chúng từ cõi phụ này hoặc cõi phụ khác trong bốn cõi phụ của chất dĩ thái, từ cõi phụ thấp nhất tính lên:

1. Giới kim thạch được nuôi sống do cõi 1.

2. Giới thực vật được nuôi sống do cõi 2. [154]

3. Giới động vật được nuôi sống do cõi 3.

4. Giới nhân loại được nuôi sống do cõi 4.

Đó là tình trạng ban đầu; nhưng khi sự tiến hóa tiếp diễn và có một phân thân (emanation) do tác động hỗ tương được thiết lập giữa tất cả các giới, điều này tự động thay đổi. Chính “sự thay đổi phát xuất huyền bí” này mà cách đây nhiều thiên kỷ, đã tạo ra người thú. Tôi đưa ra sự kiện này làm minh họa và làm một chìa khóa cho một đại bí ẩn.

b/ Điều hơi kỳ lạ là trong giới nhân loại (và chỉ ở trong giới nhân loại thôi) thể dĩ thái ngày nay được tạo thành bằng bốn loại chất dĩ thái. Lý do của việc này là ở chỗ sau rốt (khi nhân loại đã phát triển về mặt tâm linh) mỗi một trong bốn cõi này tức loại chất dĩ thái sẽ được đáp ứng với bốn cõi phụ cao của cõi hồng trần vũ trụ – các phân cảnh dĩ thái, mà chúng ta gán cho các danh xưng là : phân cảnh Thượng Đế, phân cảnh Chân Thần, phân cảnh Niết Bàn và phân cảnh bồ đề. Điều này sẽ xảy ra như là kết quả của sự tăng trưởng hữu thức và sự điểm đạo.

8. The type of the etheric substance “substanding” any form is dependent upon two factors:

a. The kingdom of nature concerned. Basically the four kingdoms draw their pranic life each from one or other of the four levels of etheric substance, counting upwards from the lowest:

1. The mineral kingdom is sustained from plane 1.

2. The vegetable kingdom is sustained from plane 2.

3. The animal kingdom is sustained from plane 3.

4. The human kingdom is sustained from plane 4.

That was the original condition; but as evolution proceeded and there was an inter-acting emanation established between all the kingdoms, this automatically changed. It was this “esoteric emanating change” which, aeons ago, produced animal-man. I give this as an illustration and a key to a great mystery.

b. Curiously enough, in the human kingdom (and only in the human kingdom) the etheric body is now composed of all four types of etheric substance. The reason for this is that eventually (when mankind is spiritually developed) each of these four planes or types of etheric substance will be responsive to the [154] four higher levels of the cosmic physical plane—the etheric levels, to which we give the names: the logoic level, the monadic, the atmic level and the buddhic. This will happen as a result of conscious growth and initiation.

2. Về hình dạng, thể dĩ thái có hình dạng của thể hồng trần đậm đặc mà nó liên kết. Các đường từ đạo nadi hay lực tuyến của nó đan xen khắp các cơ thể, ở từng bộ phận, cơ quan. Các lực tuyến này truyền dẫn sinh lực đến từng bộ phận của cơ thể.

3. Ngoài ra, thể dĩ thái còn nối dài ra xung quanh cơ thể, độ vươn dài ra phụ thuộc vào trình độ tiến hóa của cá nhân, có thể từ vài inch (2,5cm) cho đến nhiều inch.

4. Bên trong thể dĩ thái luôn luôn có những trung tâm lực (force center), là nơi mà các lực tuyến (nadis) giao nhau. Trong con người có 7 Trung tâm lực chính, 21 Trung tâm lực phụ và hàng trăm Trung tâm lực tế vi. Các Trung tâm lực này là nơi tiếp nhận, chuyển hóa và chuyển di năng lượng đi khắp các cơ thể.

5. Một điểm quan trong cần nhớ mà đức DK lưu ý chúng ta là các Trung tâm lực chính hay phụ đều nằm bên ngoài cơ thể. Trong 7 Trung tâm lực hay luân xa chính, có 5 cái nằm dọc theo cột sống, cách cột sống từ 5 đến 10 cm, một cái bên trên đỉnh đầu, một cái đằng trước trán.

Phải luôn luôn nhớ rằng bảy trung tâm lực không nằm trong xác thân. Chúng chỉ tồn tại trong chất dĩ thái và trong cái được gọi là hào quang dĩ thái, bên ngoài thể xác. Chúng liên kết chặt chẽ với xác thân bằng mạng lưới nadis. Năm trong số các trung tâm lực được tìm thấy ở trong đối phần dĩ thái của cột sống, còn năng lượng đi qua (xuyên qua các nadis rộng lớn và dễ đáp ứng) qua cột xương sống và từ đó chạy vòng khắp thể dĩ thái khi nó linh hoạt phía trong thể xác. Có ba luân xa ở đầu, một ở ngay trên đỉnh đầu, một cái khác nằm ngay trước mắt và trán, còn cái thứ ba ở sau đầu, ngay trên chỗ mà cột sống kết thúc. Điều này tạo ra tám trung tâm lực, nhưng thực ra là bảy, vì trung tâm lực ở sau đầu không được kể tới trong tiến trình điểm đạo, cũng như trường hợp luân xa lá lách (spleen).

It must always be remembered that the seven centres are not within the dense physical body. They exist only in etheric matter and in the etheric so-called aura, outside the physical body. They are closely related to the dense physical body by the network of nadis. Five of the centres are to be found in the etheric counterpart of the spinal column, and the energy passes (through large and responsive nadis) through the vertebrae of the spine and circulates then throughout the etheric body as it is interiorly active within the physical vehicle. The three head centres exist, one just above the top of the head, another just in front of the eyes and forehead, and the third at the back of the head, just above where the spinal column ends. This makes eight centres but is in reality seven, as the centre at the back of the head is not counted in the initiation process, any more than is the spleen.

6. Các nadis truyền dẫn prana và năng lượng từ Tam nguyên tinh thần, từ linh hồn, thể trí, thể cảm xúc, thể dĩ thái đến thể xác. Thông qua thể dĩ thái mà năng lượng từ các cõi cao và từ các thể cao mới có thể đến thể xác được.

Các nadis này là các tác nhân chuyên chở (carrier) năng lượng. Thực ra, chúng chính là năng lượng và mang tính chất của năng lượng từ một vùng tâm thức nào đó mà trong đó “chủ thể (dweller) trong xác thân” có thể đang tập trung vào đó. Điều này có thể thuộc về cõi cảm dục hoặc các cõi của Tam nguyên Tinh Thần (Spiritual Triad), vì không một năng lượng nào có thể kiểm soát xác thân từ bất luận cõi nào, dù là cao đến đâu, trừ phi bằng cách này. Tùy theo điểm tập trung của tâm thức, trạng thái tâm linh của nhận thức, mãnh lực của nguyện vọng hay dục vọng, và trình độ tiến hóa hoặc là trạng thái tinh thần, mà loại năng lượng nào sẽ được các nadis chuyên chở, đi qua chúng, đến hệ thần kinh bên ngoài. Phát biểu tổng quát này phải được chấp nhận, vì, cho đến nay, toàn bộ vấn đề quá phức tạp, còn bộ máy quan sát của người đạo sinh quá kém phát triển, vì thế Tôi không thể đi vào chi tiết tỉ mỉ hơn. [Viễn cảm và thể dĩ thái trang 145]

These nadis are the carriers of energy. They are in fact the energy itself and carry the quality of energy from some area of consciousness in which the “dweller in the body” may happen to be focussed. This may be the astral plane or the planes of the Spiritual Triad, for none of the energies can control the physical body from any plane, no matter how high, except in this manner. According to the focus of the consciousness, the psychic state of awareness, the potency of aspiration or desire, and the point in evolution or the spiritual status, so will be the type of energy carried by the nadis, passing from them to the outer nervous system. This general proposition must be accepted, for the whole subject is as yet too intricate, and the mechanism of observation of the student too undeveloped, for me to enter into greater detail. This will suffice as an initial hypothesis upon which to work.

Cũng cần phải nhớ rằng chất liệu mà các vận hà dĩ thái hay các ống vận chuyển này cấu thành là prana hành tinh, tức năng lượng mang lại sự sống, đem lại sức khỏe của chính hành tinh. Tuy nhiên, các ống này có thể chuyên chở tất cả hoặc bất kỳ loại năng lượng nào có thể có –tình cảm, trí tuệ, Chân ngã, thượng trí, bồ đề hay thuộc niết bàn, tùy theo trình độ tiến hóa mà người có liên hệ đạt đến. Sự kiện này luôn có nghĩa rằng nhiều loại năng lượng lưu chuyển qua các ống này, trừ phi một người ở trình độ tiến hóa cực thấp hoặc một người phải đối phó với tình trạng chia rẽ (cleavage). Các năng lượng khác nhau này hòa lẫn và hợp chung lại, nhưng vẫn tìm ra các điểm tập chung riêng của chúng trong thể dĩ thái khi chúng đi vào trực tiếp bên trong chu vi [155] của xác thân. Giống như trong trường hợp linh hồn của Thượng Đế, ta cũng có thể nói câu sau đây cho thể năng lượng hoặc thể dĩ thái sinh động: “Dù đã thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh nhỏ của chính Ta, Ta vẫn tồn tại”.

It must also be remembered that the substance of which these etheric channels or channelling tubes are composed is planetary prana, the life-giving, health-giving energy of the planet itself. Through these tubes, however, may flow all or any of the possible energies—emotional, mental, egoic, manasic, buddhic or atmic, according to the point in evolution which the man concerned has reached. This always means that several energies are pouring through these tubes, unless the point in evolution is exceedingly low or unless one is dealing with a cleavage; these various energies are fused and blended together but find their own focal points in the etheric body when entering directly within the circumference of the dense physical body. Just as it can be said of the soul or of the Deity, so it can be said of the energetic or vital etheric body or entity: “Having pervaded this whole universe with a fragment of myself, I remain.”

7. Mỗi luân xa hay Trung tâm lực chi phối vùng cơ thể lân cận nó. Mỗi luân xa có một hoặc nhiều tuyến nội tiết liên kết, các tuyến nội tiết này thực ra là biểu hiện ngoại tại của luân xa trong thể xác. Năng lượng đi vào luân xa sẽ được phân phối đến khu vực xung quanh thông qua các nadis này. Khi sự truyền dẫn năng lượng thông suốt không trở ngại thì ta có sức khỏe. Ngược lại là bệnh tật tại vùng cơ thể mà năng lượng bị tắc nghẽn. Năng lượng đến luân xa có thể là năng lượng từ linh hồn, từ thể trí, từ thể cảm dục. Nó cũng có thể đến từ các cõi giới liên hệ đến các thể đó, như cõi Atma, cõi Bồ đề, Cõi Trí tuệ, Cõi Trung giới, phân cảnh dĩ thái. Chân sư DK nói rằng 90 phần trăm của bệnh tật xuất phát từ các nguyên nhân nội tại (chủ yếu là từ thể cảm xúc). Một số nhỏ là từ cõi trần.

Thể dĩ thái là tác nhân truyền tải tất cả năng lượng đến thể xác, và mọi loại mãnh lực đi qua nó đến các bộ phận khác nhau của thể xác, tạo ra các kết quả xấu và tốt, tiêu cực hoặc tích cực, tùy trường hợp. Đây là một sự thật mà chúng ta chấp nhận. Ở đây, tôi đang xét về bệnh tật, các vấn đề và các khó khăn thuộc thể xác xuất phát từ trong chính thể dĩ thái và thể hiện ra trong các mối liên hệ với xác thân. Những điều này rất phổ biến và thường thấy. Điều chính yếu là làm sao bạn phân biệt được hai đường lối hoạt động của mãnh lực này rõ ràng trong trí của bạn. [1] Cả hai đều đi qua và từ thể dĩ thái nhập vào thể xác, nhưng chỉ có một là bắt nguồn từ trong thể dĩ thái hay là liên quan tới các khó khăn có nguồn gốc dĩ thái.

Thể dĩ thái là một thể hoàn toàn được tạo thành bằng các tuyến lực và các điểm mà các tuyến lực này giao nhau, và (khi cắt ngang) như vậy, tạo thành các trung tâm năng lượng. Nơi nào có nhiều tuyến lực như thế giao nhau, ta có một trung tâm năng lượng lớn, và nơi mà các dòng năng lượng lớn gặp và giao nhau, như ở trong đầu và trên xương sống, thì ta có bảy luân xa chính. Các nhà huyền bí học biết được có bảy luân xa như thế, cộng với 21 luân xa nhỏ hơn và 49 cái còn nhỏ hơn nữa. Tuy nhiên, vào lúc này, chúng ta sẽ tự giới hạn vào thể dĩ thái nói chung và vào bảy trung tâm lực chính…

[1] Trong đoạn trên, đức DK nói đến bệnh tật do năng lượng đến thể dĩ thái từ 2 nguồn khác nhau: một từ chính thể dĩ thái, một đến từ các thể cao hơn (thể trí, thể cảm xúc, hoặc từ linh hồn)

The etheric body is a transmitter of all energies to the physical body, [72] and all types of force pass through it to different parts of the physical form, producing good and bad results, negative or positive results, as the case may be. This is a fact which we accept. I am here considering the diseases, problems and physical difficulties which arise in the etheric body itself and work out in its relations to the physical body. These are quite widespread and usual. It is essential that you keep these two lines of force-activity clearly differentiated in your mind. Both pass through and from the etheric body into the physical body, but only one of them originates in or is concerned with difficulties which have an etheric origin.

The etheric body is a body composed entirely of lines of force and of points where these lines of force cross each other and thus form (in crossing) centers of energy. Where many such lines of force cross each other, you have a larger center of energy, and where great streams of energy meet and cross, as they do in the head and up the spine, you have seven major centers. There are seven such, plus twenty-one lesser centers and forty-nine smaller centers known to the esotericists. However, we will confine ourselves at this time to the etheric body as a whole and to the seven major centers.

Dĩ nhiên, rõ ràng nơi nào dòng mãnh lực thông suốt đi qua dĩ thái thể nhập vào thể xác thì nơi đó có khả năng ít bị bệnh tật hay đau ốm. Tuy nhiên, có thể có khuynh hướng ngày càng gia tăng đối với các khó khăn phát sinh do sự kích thích quá độ, hậu quả là hệ thần kinh quá hoạt động, với mọi vấn đề kèm theo đó. Các mãnh lực này – đang tìm đường vào xác thân trọng trược – là các phóng xạ từ ba hướng (tôi xin tạm dùng một từ như thế):

1. Từ các thể của phàm ngã – thể cảm dục và thể hạ trí.

2. Từ linh hồn, nếu đã thiết lập lập được sự tiếp xúc, dù hữu thức hay vô thức.

3. Từ thế giới chung quanh mà các hiện thể của linh hồn và của phàm ngã đóng vai trò là “các cửa bước vào” thế giới đó…

It is of course apparent that where there is a free flow of force through the etheric body into the dense physical body there will be less likelihood of disease or sickness. There may, however, be increased tendency to difficulties arising from over-stimulation and its consequent results of over-activity of the nervous system, with all the attendant problems. These forces, seeking inlet into the dense vehicle, are emanations from three directions (if I may use such a term): [74]

1. From the personality vehicles—the astral and mental bodies.

2. From the soul, if contact, recognized or unrecognized, has been established.

3. From the environing world to which the vehicles of the soul and of the personality have acted as “doors of entrance.” Incidentally, in connection with this last phrase, I would call your attention to a possible relation between these “doors of entrance” and the phrase “door of initiation.”

Trong trường hợp các luân xa này – các luân xa mà dòng năng lượng đang tuôn vào từ các nguồn cung cấp nói trên – còn im lìm, chưa được khơi hoạt, hay chỉ hoạt động một phần, hoặc là quá chậm chạp (xét về nhịp rung động của chúng), thì bấy giờ, bạn sẽ gặp một tình trạng tắc nghẽn. Tình trạng này sẽ tạo nên sự tắc nghẽn trong thể dĩ thái, mà các hậu quả sau đó là hoạt động của thể xác gặp nhiều khó khăn. Một trong các khó khăn thông thường nhất là tắt nghẽn ở phổi, dù về mặt ngoại môn người ta có thể truy ra từ một số nguyên nhân thuộc về thể chất rõ rệt, nhưng thực ra là do các nguyên nhân nói trên cộng với tình trạng tắt nghẽn bên trong thể dĩ thái. Chính sự kết hợp lại của nguyên nhân hiện rõ bên ngoài và nguyên nhân thực sự bên trong làm cho bệnh tật bộc phát. Khi hai tình trạng này được liên kết với nhau, thì thể xác bị chướng ngại và thể dĩ thái lâm vào một tình trạng không thuận lợi, và bấy giờ sẽ có bệnh tật, đau ốm hay một loại suy nhược nào đó. Mọi sự tắc nghẽn bên ngoài đều có thể luôn luôn được truy đến từ hai nguyên nhân này – một nguyên nhân nội tại và một nguyên nhân bên ngoài. Trong các trường hợp này, điều đáng chú ý là nguyên nhân bên ngoài không phải là hậu quả của nguyên nhân bên trong của cá nhân ấy. Do đó, bạn nên lưu ý rằng không phải mọi bệnh tật của một cá nhân đều hoàn toàn có nguồn gốc từ bên trong hay thuộc về âm lý, mà đôi khi chúng bắt nguồn từ cả bên ngoài lẫn bên trong. Do đó vấn đề càng phức tạp.

In the case where these centers, through which the inflowing energy from these sources of supply flow, are quiescent, unawakened or only functioning partially or too slowly (as far as their vibratory rhythm is concerned), then you will have a condition of blocking. This will produce congestion in the etheric vehicle, and consequent and subsequent difficulties in the functioning of the physical body. One of the most common of these is congestion of the lungs which—though it may be exoterically traced to certain and definite physical causes—is in reality those causes, plus an inner condition of etheric congestion. It is the bringing together of the outer apparent cause and the inner true cause which is responsible for the outbreak of the trouble. When these two conditions are brought into conjunction with each other, and you have a physical handicap and an etheric situation which is undesirable, then you will have disease, illness, or weakness of some kind. Every outer congestion can always be traced to these two causes—an inner and an outer cause. In these cases, the outer cause is not an effect of the individual inner cause, which is interesting. You will note, therefore, that all ills are not purely subjective or psychological in origin as far as an individual is concerned, [75] but are sometimes both exoteric and esoteric. Hence the complication of the problem.

Thể dĩ thái và Prana:

Prana là gì?

Đây là lưu chất sinh lực và từ điển toả ra từ mặt trời và được truyền tới thể dĩ thái của con người, do tác động của một vài thiên thần thuộc một đẳng cấp rất cao và có màu hoàng kim. Lưu chất đó được truyền qua cơ thể của các thiên thần và được phát ra như các bức xạ mạnh, được áp trực tiếp thông qua một vài trung tâm ở phần trên cùng của thể dĩ thái, đầu và hai vai, và được truyền xuống phần tương ứng bằng chất dĩ thái của lá lách, và từ đó được truyền một cách mạnh mẽ vào chính lá lách. Các thiên thần prana màu hoàng kim này ở trong không khí bên trên chúng ta và đặc biệt linh hoạt ở những nơi trên thế giới như California, các xứ nhiệt đới nơi mà không khí trong sạch và khô ráo, các tia nắng được thừa nhận là đặc biệt có lợi. Liên hệ giữa con người với các nhóm thiên thần này rất chặt chẽ, nhưng cho đến nay đầy nguy hiểm cho con người. Các thiên thần này thuộc về một đẳng cấp rất mạnh mẽ và theo đường lối riêng của các Ngài, các Ngài tiến hoá hơn chính con người. Con người không được bảo vệ phải chịu dưới quyền điều khiển của họ. Thí dụ, việc thiếu sự che chở cũng như thiếu hiểu biết của con người đối với những định luật về sự đối kháng từ điển hay lực đẩy thái dương (solar repulsion) dẫn đến nguy cơ trúng nắng. Khi thể dĩ thái và các tiến trình đồng hoá của nó được hiểu một cách khoa học, lúc bấy giờ con người sẽ tránh khỏi các nguy cơ do bức xạ mặt trời gây ra. Con người sẽ tự bảo vệ mình bằng cách áp dụng các định luật chế ngự xung lực và thu hút từ điển; và không phải là bằng cách mặc y phục và tìm nơi trú ẩn. Đó chủ yếu là vấn đề phân cực. Một gợi ý được nêu ra ở đây: khi con người hiểu biết sự tiến hoá thiên thần khá chính xác hơn và nhận thức công việc của họ theo một vài đường lối liên quan đến Thái Dương và hiểu được rằng họ tiêu biểu cho cực âm trong khi chính họ đại diện cho phái nam (Huyền giai Sáng Tạo thứ tư là dương), họ sẽ hiểu sự liên quan hỗ tương và chế ngự sự liên quan đó bằng định luật.

Prana trong Thái dương hệ

This is that vital and magnetic fluid which radiates from the sun, and which is transmitted to man’s etheric body through the agency of certain deva entities of a very high order, and of a golden hue. It is passed through their bodies and emitted as powerful radiations, which are applied direct through certain plexi in the uppermost part of the etheric body, the head and shoulders, and passed down to the etheric correspondence of the physical organ, the spleen, and from thence forcibly transmitted into the spleen itself. These golden hued pranic entities are in the air above us, and are specially active in such parts of the world as California, in those tropical countries where the air is pure and dry, and the rays of the sun are recognized as being specially beneficial. Relations between man and this group of devas are very close, but fraught as yet with much danger to man. These devas are of a very powerful order, and, along their own line, are further evolved than man himself. Unprotected man lies at their mercy, and in this lack of protection, and man’s failure to understand the laws of magnetic resistance, or of solar repulsion comes, for instance, the menace of sunstroke. When the etheric body and its assimilative processes are comprehended scientifically, man will then be immune from dangers due to solar radiation. He will protect himself by the application of the laws [91] governing magnetic repulsion and attraction, and not so much by clothing and shelter. It is largely a question of polarization. One hint might here be given: When men understand the deva evolution somewhat more correctly and recognize their work along certain lines in connection with the Sun and realize that they represent the feminine pole as they themselves represent the masculine (the fourth Creative Hierarchy being male) 39 they will comprehend the mutual relationship, and govern that relationship by law.

Các Thái dương Thiên thần này nhận các tia bức xạ mặt trời từ trung tâm mặt trời đi tới vùng ngoại biên theo một trong ba vận hà tiếp cận, chuyển các tia bức xạ đó qua cơ thể của các Ngài và tập trung chúng ở đó. Các thiên thần này tác động gần giống như tấm kính thu nhiệt. Các tia này lúc bấy giờ được phản chiếu hay được truyền đến thể dĩ thái con người và được con người tiếp nhận và hấp thụ. Khi thể dĩ thái đang ở trong trật tự ổn định và đang vận hành đúng đắn, sinh lực này được hấp thụ đầy đủ để giữ cho hình hài được ổn định. Đây là toàn thể mục đích sự vận hành của thể dĩ thái và là điểm không thể được nhấn mạnh đầy đủ. Phần còn lại được loại ra dưới hình thức bức xạ động vật hay từ điển xác thân – mọi tên gọi đều diễn tả cùng một ý. Do đó, con người lặp lại ở một mức độ nhỏ hơn công việc của đại thái dương thiên thần, và đến phiên con người lại cộng thêm phần bức xạ đã được tái tập trung hay tái từ hoá vào toàn bộ hào quang của hành tinh.

These solar devas take the radiatory rays of the sun which reach from its center to the periphery along one of the three channels of approach, pass them through their organism and focalize them there. They act almost as a burning glass acts. These rays are then reflected or transmitted to man’s etheric body, and caught up by him and again assimilated. When the etheric body is in good order and functioning correctly, enough of this prana is absorbed to keep the form organized. This is the whole object of the etheric body’s functioning, and is a point which cannot be sufficiently emphasized. The remainder is cast off in the form of animal radiation, or physical magnetism—all terms expressing the same idea. Man therefore repeats on a lesser scale the work of the great solar devas, and in his turn adds his quota of repolarized or remagnetized emanation to the sumtotal of the planetary aura.

a. Tiếp nhận Prana

Thể dĩ thái cũng là nơi tiếp nhận, hấp thụ và phân phối sinh lực vũ trụ khắp các cơ thể. Trong thể dĩ thái có những Trung tâm lực chuyên biệt để tiếp nhận Prana từ mặt trời. Trong con người, có 3 Trung tâm lực chuyên biệt tiếp nhận Prana, đó là Trung tâm lực lá lách và 2 trung Trung tâm lực khác. Ba Trung tâm lực này hợp thành tam giác tiếp nhận prana. Tuy nhiên, mức độ linh hoạt của các luân xa trong tam giác này không đồng đều và giống nhau. Sau đây là trích dẫn từ giáo lý của đức DK:

Như đã nói ở trên, prana do mặt trời phóng ra được thể dĩ thái hấp thụ, thông qua vài trung tâm lực phần lớn nằm phía trên cơ thể, từ đó chúng được hướng xuống dưới đến trung tâm lực gọi là lá lách dĩ thái, vì lá lách này là phần tương ứng trong chất dĩ thái của cơ quan đó. Hiện nay, trung tâm lực chính để tiếp nhận prana là trung tâm lực giữa các xương vai. Một trung tâm lực khác đã trở nên yên nghỉ phần nào trong con người qua sự lạm dụng của cái gọi là văn minh, trung tâm lực này nằm ở trên luân xa tùng thái dương một chút. Trong căn chủng sắp tới và ngày càng nhiều trong giống dân này, người ta sẽ nhận thức được việc cần thiết đưa hai trung tâm lực này đến với ánh nắng, và khi đó sẽ có một sự cải thiện tương ứng về sinh lực cho xác thân và khả năng thích ứng của thể xác. Cả ba trung tâm lực này :

  1. Giữa các xương bã vai,
  2. Trên cách mô,
  3. Và lá lách,

hợp thành một tam giác dĩ thái sáng rực (nếu người ta có thể thấy được), tam giác này là nguồn thúc đẩy sự lưu thông sau đó của prana khắp toàn bộ hệ thống. Thể dĩ thái thực sự là một mạng lưới các đường vận chuyển nhỏ, chúng là các bộ phận cấu thành của một sợi dây mảnh mai bện vào nhau – mà một đoạn của dây này là khoen nối bằng từ điển, nối liền thể xác và thể cảm dục, nó bị cắt đứt hay gián đoạn sau khi thể dĩ thái rút ra khỏi xác thân vào lúc rời bỏ thể xác. Sợi dây bạc tuyến bị lỏng ra, như Thánh Kinh diễn tả (Thánh Kinh Ecc: XII, 6.), và đây là cơ sở của truyền thuyết về người chị định mệnh cắt đứt tuyến sinh lực bằng cái kéo khủng khiếp.

C:\Users\lamkiet\AppData\Local\Temp\SNAGHTML1176312.PNG

As stated earlier, the pranic emanations of the sun are absorbed by the etheric body, via certain centers which are found principally in the upper part of the body, from whence they are directed downwards to the center which is called the etheric spleen, as it is the counterpart in etheric matter of that organ. The main center for the reception of prana at present is a center between the shoulder blades. Another has been allowed to become partially dormant in man through the abuses of so-called civilization, and is situated slightly above the solar plexus. In the coming root-race, and increasingly in this, the necessity for the exposure of these two centers to the rays of the sun, will be appreciated, with a corresponding improvement in physical vitality and adaptability. These three centers,

  1. Between the shoulder blades,
  2. Above the diaphragm,
  3. And the spleen

make, if one could but see it, a radiant etheric triangle, which triangle is the originating impulse for the later pranic circulation throughout the entire system. The etheric body is really a network of fine channels, which are the component parts of one interlacing fine cord,—one portion of this cord being the magnetic link which unites the physical and the astral bodies and which is snapped or broken after the withdrawal of the etheric body from the dense physical body at the time of death. The silver cord is loosed, as the Bible expresses it,44 and this is the basis of the legend of the fateful sister who cuts the thread of life with the dreaded shears.

b. Hấp thụ và phân phát Prana (sinh lực)

Quá trình hấp thu xảy ra trong tam giác này, và prana đi vào bất kỳ trung tâm lực nào sẽ lưu chuyển ba lần xung quanh tam giác trước khi được truyền đến mọi phần của thể dĩ thái và từ đó đến thể xác.

Ba trung tâm lực này có hình dạng như tất cả các trung tâm lực khác, đó là hình dĩa trũng xuống, hơi giống hình các xoáy nước nhỏ thu hút vào trong phạm vi ảnh hưởng của chúng các dòng prana đang tiến tới.

Chúng ta nên hình dung các trung tâm lực này như các lốc xoáy cuốn tròn với đường vận hà tam phân đan chặt lại, đi từ trung tâm lực này đến trung tâm khác và tạo thành một hệ thống tuần hoàn hầu như tách biệt. Điểm thoát ra của sinh lực của toàn thể hệ thống nằm ở mặt bên kia của lá lách so với phía mà prana đi vào. Lưu chất sinh lực lưu chuyển qua và giữa ba trung tâm lực này ba lần, trước khi cuối cùng nó được chuyển ra tới ngoại biên của hệ thống bé nhỏ của nó. Sự lưu chuyển cuối cùng này mang prana xuyên qua các vận hà mảnh mai đan bện vào nhau, đến mọi bộ phận của cơ thể, có thể nói là chúng trở nên hoàn toàn thấm nhuần với các bức xạ này. Cuối cùng các bức xạ này thoát ra khỏi hệ thống dĩ thái bằng các bức xạ bề mặt. Tinh chất prana thoát ra khỏi chu vi của vòng giới hạn tạm thời của nó dưới hình thức prana phóng phát của con người, vốn là loại prana đã nhận được trước kia cộng thêm với tính chất đặc thù mà bất cứ một cá nhân nào cũng có thể truyền thụ cho nó trong khi quá trình lưu chuyển tạm thời. Tinh chất thoát ra, cộng với tính chất của cá nhân.

Ở đây, người ta có thể thấy sự tương đồng trong sự thoát ra của mọi tinh chất từ bên trong của bất cứ vòng giới hạn nào khi chu kỳ đã hoàn tất.

Vấn đề thể dĩ thái là một vấn đề đáng quan tâm về mặt thực tiễn, và khi con người nhận thức được tầm quan trọng của nó tốt hơn, con người sẽ dự vào việc phân phối prana trong cơ thể với sự chú ý chặt chẽ hơn, và sẽ thấy rằng sự tiếp sinh lực của cơ thể qua ba trung tâm lực sẽ diễn tiến thông suốt hơn.

The process of assimilation is carried on in this triangle, and the prana which enters into either center, circulates three times around the triangle before being transmitted to all parts of the etheric vehicle and from thence to the dense physical body. The main organ of assimilation is the spleen—the etheric center and the dense physical organ. The vital essence from the sun is passed into the etheric spleen, and is there subjected to a process of intensification or devitalization, according to the condition, healthy or not, of that organ. If the man is in a healthy state the emanation received will be augmented by his own individual vibration, and its rate of vibration will be keyed up before it is passed on into the physical spleen; or it will be slowed down and lowered if the man is in a poor condition of health.

These three centers are in the form that all centers take, of saucer-like depressions, resembling somewhat the appearance of small whirlpools, and which draw within their sphere of influence the currents that come their way.

The centers should be pictured as whirling vortices with a closely woven threefold channel passing from each center to the other, and forming an almost separate circulatory system. This finds its point of departure for [100] the entire system at the further side of the spleen to that at which the prana entered. The vital fluid circulates through and between these three centers three times, before it finally passes out from them to the periphery of its little system. This final circulation carries the prana, via the fine interlacing channels, to every part of the body, which becomes entirely impregnated by these emanations, if it might be so expressed. These emanations find their way finally out of the etheric system by means of surface radiation. The pranic essence escapes from the circumference of its temporary ring-pass-not as emanative human prana, which is the same prana as earlier received, plus the peculiar quality that any single individual may convey to it during its transitory circulation. The essence escapes, plus individual quality.

Here again can be seen the correspondence to the escape of all essences from within any ring-pass-not when the cycle has been completed.

This matter of the etheric body is of a very practical interest, and when its importance is better realized, men will attend to the distribution of prana within the body with closer attention, and will see that the vitalization of the body, via the three centers, proceeds unhindered.

Thái dương hệ nhận prana từ các nguồn vũ trụ xuyên qua ba trung tâm lực và tái phân phối nó đến tất cả các phần trong phạm vi ảnh hưởng mở rộng của nó, hay là đến các biên giới của mạng lưới dĩ thái thái dương. Prana vũ trụ này được nhuộm màu với tính chất thái dương và tiến đến ranh giới xa nhất của Thái dương hệ. Nhiệm vụ của nó có thể được mô tả như là ban sinh khí (vitalisation) cho hiện thể vốn là biểu lộ vật chất hồng trần của Thái Dương Thượng Đế.

Hành tinh nhận prana từ trung tâm thái dương và tái phân phối prana đó xuyên qua ba trung tâm tiếp nhận đi đến tất cả các phần thuộc phạm vi ảnh hưởng của nó. Prana thái dương này trở được nhuộm màu với tính chất hành tinh và được các luồng tiến hóa trong vòng giới hạn hành tinh hấp thụ. Nhiệm vụ của nó có thể được mô tả như là đem sinh khí cho hiện thể vốn là biểu lộ vật chất hồng trần của một trong bảy Hành Tinh Thượng Đế.

Tiểu thiên địa nhận prana từ thái dương sau khi prana đó đã thấm nhuần thể dĩ thái hành tinh, do đó nó là prana thái dương cộng thêm tính chất hành tinh. Mỗi hành tinh là biểu hiện (embodiment) của một trạng thái cung nào đó, và tính chất của hành tinh đó được ghi nhận rõ rệt trong toàn cuộc tiến hoá của nó.

The System receives prana from cosmic sources via three centers, and redistributes it to all parts of its extended influence, or to the bounds of the solar etheric web. This cosmic prana becomes colored by solar quality and reaches the furthest confines of the system. Its mission might be described as the vitalization of the vehicle which is the physical material expression of the solar Logos.

The Planet receives prana from the solar center, and redistributes it via the three receiving centers to all parts of its sphere of influence. This solar prana becomes colored by the planetary quality and is absorbed by all evolutions found within the planetary ring-pass-not. Its mission might be described as the vitalization of the vehicle which is the physical material expression of one or other of the seven Heavenly Men. [102]

The Microcosm receives prana from the sun after it has permeated the planetary etheric vehicle, so that it is solar prana, plus planetary quality. Each planet the embodiment of some one ray aspect, and its quality marked predominantly on all its evolution.

Do đó, prana chính là nhiệt bức xạ linh hoạt, thay đổi mức rung động và tính chất của nó tuỳ theo Thực thể tiếp nhận. Con người, để cho prana đi qua thể dĩ thái của mình, nhuộm màu nó với tính chất đặc thù của mình, và như thế truyền nó lại cho những sinh linh kém cỏi hơn đang hợp thành hệ thống nhỏ của con người. Thế nên, tác động hỗ tương lớn lao tiếp tục và tất cả các phần đều phối hợp, trộn lẫn, tuỳ thuộc lẫn nhau; và tất cả các phần tiếp nhận, nhuộm màu, ban cho phẩm chất và truyền đi. Một sự lưu chuyển không ngừng tiếp tục, vốn không có khởi đầu có thể hiểu được, mà cũng không có kết thúc khả dĩ theo quan điểm của con người hữu hạn, vì khởi nguyên và tận cùng của nó đều ẩn giấu trong cội nguồn vũ trụ không thể hiểu được. Nếu ở khắp nơi các điều kiện đều hoàn hảo thì sự lưu chuyển này sẽ diễn tiến không bị cản trở và có thể đưa đến một tình trạng hầu như kéo dài vô tận, nhưng giới hạn và sự kết thúc xảy ra như là hậu quả của sự không hoàn thiện sẽ nhường chỗ cho một sự hoàn thiện dần dần. Mọi chu kỳ đều khởi đầu từ một chu kỳ khác với một sự tương đối đầy đủ hơn, và bao giờ cũng sẽ nhường chỗ cho một vòng xoắn ốc cao hơn; như vậy đưa tới các giai đoạn tương đối hoàn hảo bên ngoài, dẫn đến những gì còn vĩ đại hơn nữa.

Prana, therefore, which is active radiatory heat, varies in vibration and quality according to the receiving Entity. Man passes the prana through his etheric vehicle, colors it with his own peculiar quality, and so transmits it to the lesser lives that make up his little system. Thus, the great interaction goes on, and all parts blend, merge and are interdependent; and all parts receive, color, qualify and transmit. An endless circulation goes on that has neither a conceivable beginning nor possible end from the point of view of finite man, for its source and end are hid in the unknown cosmic fount. Were conditions everywhere perfected this circulation would proceed unimpeded and might result in a condition of almost endless duration, but limitation and termination result as the effects of imperfection giving place to a gradual perfection. Every cycle originates from another cycle of a relative completeness, and will give place ever to a higher spiral; thus eventuate periods of apparent relative perfection leading to those which are still greater.

c. Những rối loạn của thể dĩ thái:

Liên quan đến hoạt động tiếp nhận, hấp thụ và truyền dẫn Prana của thể dĩ thái, có những rối loạn hay bệnh tật của thể dĩ thai gây ảnh hưởng đến hoạt động này. Các rối loạn và bệnh này không chỉ xảy ra trong con người mà còn xảy ra ở mọi cấp độ hình thể, hành tinh, thai dương hệ… Sau đây là trích dẫn từ A Treatise on Cosmic Fire:

Bây giờ chúng ta sẽ khảo sát thể dĩ thái cùng các bệnh tật của nó cũng như là tình trạng sau khi chết của nó. Vấn đề này chỉ có thể được đề cập đến một cách vắn tắt. Tất cả những gì hiện giờ có thể được nêu ra là một ý tưởng tổng quát về những ốm đau căn bản mà thể dĩ thái có thể phải chịu và khuynh hướng mà y học ứng dụng sau này có thể chọn lựa khi các định luật huyền linh được hiểu rõ hơn. Một sự việc cần phải được nêu ra ở đây – sự kiện mà ít người hiểu rõ. Đây là sự kiện có ý nghĩa: các bệnh tật của thể dĩ thái trong trường hợp tiểu thiên địa cũng có thể được tìm thấy trong đại thiên địa. Nơi đây tàng ẩn sự hiểu biết vốn thường dùng để giải thích những sự thống khổ bề ngoài của thiên nhiên. Một số trong các tệ hại lớn trên thế gian có nguồn gốc từ các bệnh tật ở thể dĩ thái, khi mở rộng các ý tưởng về chất dĩ thái tới các điều kiện của hành tinh và ngay cả tới thái dương hệ. Khi chúng ta đề cập đến nguyên nhân của các khổ đau ở thể dĩ thái trong con người, có lẽ cũng nên hiểu rõ các tương đồng và các phản ứng ở cấp hành tinh và thái dương. Chúng ta cần ghi nhớ cẩn thận rằng khi khảo cứu về chất dĩ thái này, rằng tất cả các bệnh tật của thể dĩ thái liên quan với ba mục đích của nó và hoặc là:

a. Thuộc chức năng (functional), và do đó ảnh hưởng đến sự tiếp nhận prana của nó,

b. Về cơ quan (organic), do đó ảnh hưởng đến sự phân phối prana của nó,

c. Về tĩnh tại (static), do đó ảnh hưởng đến mạng lưới, khi chỉ nhìn từ giác độ cung cấp một vòng giới hạn bằng chất hồng trần và tác động như là vật tách biệt giữa thể xác với thể cảm dục.

We will now study the etheric body, and its ills and also its after death condition. This matter can be only briefly touched upon. All that may now be indicated is a general idea of the fundamental ailments to which the etheric may be subject, and the trend which applied medicine may later take when occult laws are better understood. One fact must here be brought out—a fact but little comprehended or even apprehended. This is the significant fact that the ills of the etheric vehicle, in the case of the microcosm, will be found likewise in the Macrocosm. Herein lies the knowledge that oft-times explains the apparent miseries of nature. Some of the great world evils have their source in etheric ills, extending the idea of the etheric to planetary conditions and even to solar. As we touch upon the causes of etheric distress in man, their planetary and solar correspondences and reactions may perhaps be realized. We will need to bear carefully in mind when studying this matter, that all the diseases of the etheric body will appertain to its threefold purpose and be either:

  1. Functional, and thereby affecting its apprehension of prana,
  2. Organic, and thereby affecting its distribution of prana,
  3. Static, and thereby affecting the web, when viewed solely from the angle of providing a physical ring-pass-not, and acting as a separator between the physical and the astral.

a. Microcosmic Functional Disorders.

a. Các rối loạn về chức năng tiểu thiên địa. Các rối loạn này có liên quan với sự tiếp nhận các lưu chất prana của con người, xuyên qua các trung tâm lực cần thiết. Chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ và như thế phân biệt rõ ràng rằng các bức xạ prana này có liên quan với nhiệt tiềm tàng trong vật chất; khi được tiếp nhận và vận hành xuyên qua thể dĩ thái một cách đúng đắn, chúng hợp tác với hơi ấm tiềm tàng tự nhiên trong cơ thể, và (phối hợp với nó) giữ cho cơ thể ở trong tình trạng đầy sinh lực, áp đặt lên trên vật chất của cơ thể một mức độ rung động nào đó, để đưa đến hoạt động cần thiết của thể xác và vận hành đúng đắn các cơ quan của thể xác đó. Do đó, rõ ràng là nền tảng của sức khoẻ xác thân nằm trong việc tiếp nhận prana đúng cách, và một trong các thay đổi cơ bản phải được thực hiện trong cuộc sống của xác thể con người (là khía cạnh mà hiện giờ chúng ta đang bàn đến) sẽ là các điều kiện sống thông thường.

These have to do with the reception by man, via the necessary centers, of the pranic fluids. We must always bear in mind, and thus keep the distinction clear, that these emanations of prana have to do with the heat latent in matter; when received and functioning through the etheric body correctly, they cooperate with the natural latent bodily [106] warmth, and (merging therewith) hold the body in a vitalized condition, imposing upon the matter of the body a certain rate of vibratory action that leads to the necessary activity of the physical vehicle, and the right functioning of its organs. It will, therefore, be apparent that the A. B. C. of bodily health is wrapped up in the right reception of prana, and that one of the basic changes that must be made in the life of the human animal (which is the aspect we are dealing with now) will be in the ordinary conditions of living.

Ba trung tâm lực căn bản tiếp nhận prana phải được phép vận hành một cách tự do hơn và ít hạn chế hơn. Hiện giờ, do bởi nhiều thế kỷ sống sai lầm và do các lầm lẫn căn bản (xuất phát từ thời Lemuria), ba trung tâm lực tiếp nhận prana của con người không hoạt động hữu hiệu. Trung tâm lực ở bả vai đang ở tình trạng tiếp nhận hữu hiệu nhất, mặc dù do tình trạng kém cỏi của cột xương sống (trong rất nhiều người nó không được chỉnh hợp chính xác) vị trí của nó ở sau lưng thường không nằm đúng chỗ. Trung tâm lực lá lách ở gần cách mô có kích thước dưới mức bình thường và rung động của nó không đúng cách. Trong trường hợp các thổ dân ở các địa phương như vùng Nam Hải, họ có thể dĩ thái ở tình trạng hoàn hảo hơn; cách sống của họ bình thường hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới (từ quan điểm động vật).

The three fundamental centers whereby reception is brought about must be allowed to function with greater freedom, and with less restriction. Now, owing to centuries of wrong living, and to basic mistakes (originating in Lemurian days) man’s three pranic centers are not in good working order. The center between the shoulder blades is in the best receptive condition, though owing to the poor condition of the spinal column (which in so many is out of accurate alignment), its position in the back is apt to be misplaced. The splenic center near the diaphragm is subnormal in size and its vibration is not correct. In the case of the aboriginal dwellers in such localities as the South Seas, better etheric conditions will be found; the life they lead is more normal (from the animal standpoint) than in any other portion of the world.

Nhân loại phải chịu một vài sự thiếu năng lực có thể được mô tả như sau:

Thứ nhất: Không thể tiếp nhận luồng prana, do biết bao nhiêu người sống không lành mạnh. Điều này liên quan tới việc cắt đứt nguồn cung cấp, và hậu quả là các trung tâm lực tiếp nhận bị suy nhược và co rút lại. Điều này được nhận thấy trong hình thức thái quá ở trẻ con trong các khu chật chội của bất kỳ thành phố lớn nào, và ở những cư dân bị kém sức khoẻ vì thiếu máu, sống ở các khu nhà ổ chuột. Cách chữa trị rất rõ ràng, đó là mang lại các điều kiện sống tốt đẹp hơn, mặc quần áo thích hợp hơn, cũng như chấp nhận và theo một cách sống tốt lành và phóng khoáng hơn. Khi các tia prana có thể tự do lưu chuyển tới vai và cách mô, thì tình trạng kém bình thường của lá lách của người thường sẽ tự động được điều chỉnh.

The race suffers from certain incapacities, which may be described as follows:

First. Inability to tap pranic currents, owing to the unhealthy lives passed by so many. This involves the cutting off of the source of supply, and the consequent atrophying and shrinkage of the receptive centers. This is seen in an exaggerated form in the children of the congested quarters of any great city, and in the vitiated anemic dwellers of the slums. The cure is apparent—the bringing about of better living conditions, the [107] employment of more appropriate clothing, and the adoption of a freer and more salubrious mode of living. When the pranic rays can find free access to the shoulders, and to the diaphragm, the subnormal state of the average spleen will adjust itself automatically.

Thứ hai. Quá khả năng tiếp nhận các luồng sinh khí. Kiểu mẫu đầu tiên của sự hỗn loạn chức năng rất thông thường và phổ quát. Điều ngược lại của nó có thể được nhận thấy nơi mà các điều kiện sống làm cho các trung tâm lực (qua việc hứng chịu bức xạ mặt trời quá trực tiếp và kéo dài) trở nên quá mức chịu đựng, rung động quá nhanh và tiếp nhận prana quá nhiều. Điều này hiếm khi xảy ra, nhưng có ở một số nước nhiệt đới và chịu trách nhiệm cho tình trạng suy nhược mà dân chúng ở các xứ này phải chịu. Thể dĩ thái tiếp nhận prana hay tia nắng quá nhanh, chuyển prana đi qua và ra ngoài hệ thống một cách quá mạnh. Điều này làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng trì trệ (inertia) và mất sinh lực. Nói cách khác, thể dĩ thái trở nên lười biếng, giống như một tấm lưới bị chùng xuống, hay là (dùng một hình ảnh rất mộc mạc) nó giống như cái vợt đánh quần vợt đã quá dãn và mất tính đàn hồi. Tam giác nội tại truyền các bức xạ prana quá nhanh chóng, không có đủ thì giờ để hấp thụ thêm và do đó toàn hệ thống bị mất mát. Sau nữa, cần nhận ra rằng nhiều bệnh mà người Âu Châu sống ở Ấn Độ, ngay từ đầu đã hứng chịu, phát sinh theo cách này; và do đó bằng việc chú trọng tới lá lách và bằng việc kiểm soát khôn ngoan các điều kiện sinh sống, một số phiền toái có thể tránh được.

Second. Over-ability to tap pranic currents. The first type of functional disorder is common and widespread. Its reverse can be found where conditions of life are such that the centers (through too direct and prolonged submittal to solar emanation) become over-developed, vibrate too rapidly, and receive prana in too great an amount. This is rarer, but is found in some tropical countries, and is responsible for much of the troublesome debility that attacks dwellers in these lands. The etheric body receives prana or solar rays too rapidly, passes it through and out of the system with too much force, and this leaves the victim a prey to inertia and devitalization. Putting it otherwise, the etheric body becomes lazy, is like an unstrung web, or (to use a very homely illustration) it resembles a tennis racket which has become too soft, and has lost its resilience. The inner triangle transmits the pranic emanations with too great rapidity, giving no time for the subsidiary absorption, and the whole system is thereby the loser. Later it will be found that many of the ills that Europeans, living in India, fall heir to, originate in this way; and by attention, therefore, to the spleen, and by wise control of living conditions, some of the trouble may be obviated.

b. Sự xáo trộn về cơ cấu của tiểu thiên địa. Có hai xáo trộn căn bản.

– Xáo trộn do sự tắt nghẽn.

– Sự huỷ hoại mô do bởi việc quá hấp thụ prana, hay là sự phối hợp quá nhanh của prana với lửa vật chất tiềm tàng.

Chúng ta có một hình ảnh lý thú của cả hai hình thức xáo trộn này ở việc trúng nắng (sun stroke) và trúng nhiệt (heat stroke). Mặc dù giả thiết là các y sĩ đã hiểu, tất cả các hiện tượng này thật ra chỉ là các rối loạn dĩ thái. Khi bản chất của thể dĩ thái được hiểu rõ hơn và khi nó được chăm sóc một cách khôn ngoan, người ta có thể phòng ngừa được cả hai loại xáo trộn này. Chúng do bởi bức xạ prana của thái dương; trong một trường hợp, hậu quả của bức xạ này là gây ra cái chết hoặc bệnh nặng do sự tắt nghẽn của một vận hà dĩ thái, trong khi ở trường hợp khác, cùng một kết quả xảy ra do sự phá huỷ chất dĩ thái.

b. Microcosmic Organic Disorders. These are basically two in number:

  • Troubles due to congestion.
  • Destruction of tissue due to over-absorption of prana, or its too rapid blending with latent physical fire.

We have a curious illustration of both of these forms of trouble in sun stroke and in heat stroke. Though supposedly understood by physicians, they are nevertheless altogether etheric disorders. When the nature of the etheric body is better understood, and its wise care followed, both these types of disease will be prevented. They are due to solar pranic emanation; in one case the effect of the emanation is to bring about death or serious illness through the congestion of an etheric channel, while in the other the same result is brought about by destruction of etheric matter.

Minh hoạ nêu trên được đưa ra với mục đích rõ rệt, nhưng cần chỉ rõ rằng sự tắt nghẽn dĩ thái có thể đưa đến nhiều hình thức bệnh tật và kém khả năng trí tuệ. Sự tắt nghẽn dĩ thái đưa đến việc lưới dĩ thái bị dày lên một cách bất thường, và việc dày lên này có thể cản trở chẳng hạn việc tiếp xúc với Chân ngã hay các nguyên khí cao, dẫn đến hậu quả là sự đần độn và mất quân bình trí tuệ. Nó có thể đưa đến việc phát triển da thịt một cách bất thường, việc dày lên của một số cơ quan nội tại, và do đó áp suất tăng quá mức; một phần của thể dĩ thái bị tắt nghẽn có thể đưa đến tình trạng toàn bộ thể xác bị đảo lộn, hậu quả là sinh ra nhiều bệnh khác nhau.

The above illustration has been used with definite intent, [109] but it should be pointed out that etheric congestion may lead to many forms of disease and of mental incompetence. Etheric congestion leads to the thickening of the web to an abnormal extent, and this thickening may prevent, for instance, contact with the higher Self or principles and its resultants, idiocy and mental unbalance. It may lead to abnormal fleshy development, to the thickening of some internal organ, and consequent undue pressure; one portion of the etheric body being congested may lead to the entire physical condition being upset, resulting in diverse complaints.

Sự huỷ hoại mô có thể dẫn đến nhiều loại điên cuồng, nhất là những loại bị coi là không thể chữa được. Việc đốt cháy lưới dĩ thái có thể để cho nhiều luồng cảm dục bên ngoài đi vào mà con người không chống lại được; mô não, có thể bị huỷ hoại, theo nghĩa đen, bởi áp lực này và sự rối loạn trầm trọng có thể xảy ra do vòng giới hạn dĩ thái đã bị huỷ hoại ở một chỗ nào đó.

Destruction of tissue may lead to insanity of many kinds, especially those kinds deemed incurable. The burning of the web may let in extraneous astral currents against which man is helpless; the brain tissue may be literally destroyed by this pressure, and serious trouble be caused through the etheric ring-pass-not having been destroyed in some one place.

Một tình trạng tương tự như thế có thể thấy xảy ra với hành tinh. Sau này, chi tiết có thể được đưa ra, điều mà hiện nay còn được che giấu; việc đó cho thấy rằng toàn thể nhân loại sẽ bị ảnh hưởng và một vài giới trong thiên nhiên bị rối loạn do việc tắt nghẽn dĩ thái hay là sự tiêu huỷ mô dĩ thái hành tinh.

In connection with the planet a similar state of affairs may be found. Later information may be forthcoming, which is at present withheld; this will show that whole races have been influenced, and certain kingdoms of nature troubled by planetary etheric congestion, or the destruction of planetary etheric tissue.

Chúng ta đã bàn đến các bệnh liên quan đến chức năng và cấu tạo của thể dĩ thái, nêu ra một số chỉ dẫn để mở rộng quan niệm đến các lãnh vực khác hơn là lãnh vực thuần tuý nhân loại. Chìa khoá nằm trong giới nhân loại, nhưng xoay chìa khoá đó để mở cánh cửa hầu có được hiểu biết rộng rãi hơn về các bí nhiệm của thiên nhiên. Dù chìa khoá đó phải được xoay bảy lần, tuy nhiên, chỉ một lần thôi cũng đủ tiết lộ các con đường chưa được nói đến về sự hiểu biết tối hậu.

We have dealt with the functional and organic ills of the etheric, giving certain indications for the extension of the concept to other realms than the purely human. In the human kingdom lies the key, but the turning of that key opens up a door to a wider interpretation as it admits one into the mysteries of nature. Though that key has to be turned seven times, yet even one turn reveals untold avenues of eventual comprehension. 47, 48 [110]

Chúng ta đã xem xét về sự tiếp nhận và phân phối bức xạ prana trong con người, trong hành tinh và trong Thái dương hệ và đã thấy được những gì gây ra sự rối loạn tạm thời và sự mất sinh lực hay quá đầy sinh lực (over-vitalisation) của các hình thể cơ quan. Bấy giờ chúng ta có thể xem xét vấn đề ở khía cạnh thứ ba và do đó khảo sát:

We have considered the reception and distribution of pranic emanations in man, the planet, and the system and have seen what produces temporary disorders, and the devitalization or the over-vitalization of the organic form. Now we can look at the subject from a third angle and therefore study:

c. Các rối loạn về tĩnh tại của tiểu thiên địa, hay là việc xem xét thể dĩ thái liên quan với việc cung ứng một vòng giới hạn từ chất hồng trần thuần tuý đến chất đẩu tinh. Như đã nói, trong sách này lẫn trong các sách của H.P.B., vòng giới hạn là bức tường hạn chế vốn tác động như một tác nhân cách biệt hay một sự phân chia giữa một hệ thống và những gì ở ngoài hệ thống đó. Điều này, như được thấy ở trên, có sự liên quan thú vị khi chủ đề được xem xét đến (khi chúng ta phải nỗ lực một cách bền bĩ để xem xét nó) theo quan điểm của một con người, một hành tinh và một hệ thống, luôn luôn nhớ rằng những gì mà chúng ta đang bàn đến về thể dĩ thái đều có liên quan đến vật chất hồng trần. Điều này phải được thận trọng ghi nhớ. Do đó, một yếu tố tối thượng sẽ được tìm thấy trong mọi nhóm và mọi cơ cấu, và đây là sự kiện mà vòng giới hạn tác động chỉ như là một chướng ngại vật đối với những thành đạt nho nhỏ trong sự tiến hoá, nhưng không tạo thành chướng ngại đối với các tiến bộ lớn hơn. Toàn thể vấn đề tuỳ thuộc vào hai sự việc, đó là nghiệp quả của con người, Hành Tinh Thượng Đế, và Thái Dương Thượng Đế, cùng là sự ưu thắng (dominance) của thực thể tinh thần nội tại trên hiện thể của nó.

c. Microcosmic Static Disorders

or a consideration of the etheric body in connection with its work of providing a ring-pass-not from the purely physical to the astral. As has been said, both here and in the books of H. P. B., the ring-pass-not 48a is that confining barrier which acts as a separator or a division between a system and that which is external to that system. This, as may well be seen, has its interesting correlations when the subject is viewed (as we must consistently endeavor to view it) from the point of view of a human being, a planet and a system, remembering always that in dealing with the [111] etheric body we are dealing with physical matter. This must ever be borne carefully in mind. Therefore, one paramount factor will be found in all groups and formations, and this is the fact that the ring-pass-not acts only as a hindrance to that which is of small attainment in evolution, but forms no barrier to the more progressed. The whole question depends upon two things, which are the karma of the man, the planetary Logos, and the solar Logos, and the dominance of the spiritual indwelling entity over its vehicle.

3 Comments

  1. Jupiter Nguyen

    – ” Phải luôn luôn nhớ rằng bảy trung tâm lực không nằm trong xác thân. Chúng chỉ tồn tại trong chất dĩ thái và trong cái được gọi là hào quang dĩ thái, bên ngoài thể xác. Chúng liên kết chặt chẽ với xác thân bằng mạng lưới nadis. ”

    . Đoạn trên rất quan trong và tôi cảm thấy đều đáng lưu ý là câu cuối trong đoạn trên ” Chúng liên kết chặt chẽ với xác thân bằng mạng lưới nadis. “

  2. Jupiter Nguyen

    – ” Do đó, prana chính là nhiệt bức xạ linh hoạt, thay đổi mức rung động và tính chất của nó tuỳ theo Thực thể tiếp nhận. Con người, để cho prana đi qua thể dĩ thái của mình, nhuộm màu nó với tính chất đặc thù của mình, và như thế truyền nó lại cho những sinh linh kém cỏi hơn đang hợp thành hệ thống nhỏ của con người. ”

    . Đoạn trên đã tiết lộ một trong những điều huyền bí nhất và quan trọng nhất khi nghiên cứu về thể dĩ thái và tôi đặc biệt ghi nhớ câu nói :

    ” Con người, để cho prana đi qua thể dĩ thái của mình, nhuộm màu nó với tính chất đặc thù của mình ” .

    . Từ ” nhuộm màu nó – colors it ” trong trường hợp này thì tôi hiểu là làm thay đổi tính chất của nó, không phải là thay đổi hoàn toàn tính chất của nó mà chỉ đơn giản và hiển nhiên là đã có sự thay đổi xảy ra sau khi ” để cho prana đi qua thể dĩ thái của mình ” .

  3. Jupiter Nguyen

    – ” Thế nên, tác động hỗ tương lớn lao tiếp tục và tất cả các phần đều phối hợp, trộn lẫn, tuỳ thuộc lẫn nhau; và tất cả các phần tiếp nhận, nhuộm màu, ban cho phẩm chất và truyền đi. Một sự lưu chuyển không ngừng tiếp tục, vốn không có khởi đầu có thể hiểu được, mà cũng không có kết thúc khả dĩ theo quan điểm của con người hữu hạn, vì khởi nguyên và tận cùng của nó đều ẩn giấu trong cội nguồn vũ trụ không thể hiểu được. ”

    . Đoạn trên có một ý nghĩa thật thâm sâu , kỳ diệu và trên cả tuyệt vời . Tôi lưu ý câu nói :

    ” Một sự lưu chuyển không ngừng tiếp tục, vốn không có khởi đầu có thể hiểu được, mà cũng không có kết thúc khả dĩ theo quan điểm của con người hữu hạn ” .

    . Phải chăng vì nếu nó có bắt đầu thì hiển nhiên là với tâm trí hữu hạn của mình thì chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được là nó sẽ có lúc kết thúc ? Nhưng vì nó không có bắt đầu [ khởi đầu ] nên phải chăng là nó sẽ không bao giờ kết thúc ?

    . Tôi cảm thấy rằng prana chính là sinh lực làm linh hoạt mọi sự sống trong vũ trụ , không có nó thì sẽ không có sự sống .

    . Câu cuối trong đoạn trên viết rằng : ” Vì khởi nguyên và tận cùng của nó đều ẩn giấu trong cội nguồn vũ trụ không thể hiểu được. ” . Phải chăng trong một ý nghĩa rất cao siêu vượt xa tâm trí hữu hạn của con người thì cái khởi nguyên và tận cùng của nó chỉ là một ? Cũng như trong một ý nghĩa khác rất cao siêu khi mà con người loại bỏ [ diệt trừ ] được bản ngã [ cái Tôi , cái Ta ảo tưởng ] của mình thì đối với y sống và chết chỉ là một và đồng thời [ cùng lúc ] ?

Leave Comment