Nhận biết và Khắc phục Ảo cảm nơi Người chí nguyện – Đệ tử

TIỂU LUẬN DHY KHÓA QU1

NHẬN BIẾT VÀ KHẮC PHỤC ẢO CẢM Ở NGƯỜI CHÍ NGUYỆN ĐỆ TỬ

Trường Morya Federation – Tháng 12/2023

HỌC VIÊN: ĐOÀN THU NGUYỆT
MENTOR HƯỚNG DẪN: LÂM VĂN KIỆT

Các bạn xem file pdf ở đây.

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 3

CHƯƠNG 2: TỔNG KẾT CHUNG VỀ ẢO CẢM 7

CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN GÂY ẢO CẢM 15

1. Nguyên nhân thuộc hành tinh 15

2. Nguyên nhân gây ra bởi nhân loại nói chung 18

3. Nguyên nhân đến từ cá nhân mỗi người 20

CHƯƠNG 4: CÁC LOẠI ẢO CẢM VÀ GỢI Ý VỀ CÁCH GIẢI QUYẾT 21

1. Ảo cảm đến từ các cung năng lượng 21

ẢO CẢM CUNG 1 23

ẢO CẢM CUNG 2 28

ẢO CẢM CUNG 3 32

ẢO CẢM CUNG 4 37

ẢO CẢM CUNG 5 41

ẢO CẢM CUNG 6 46

ẢO CẢM CUNG 7 52

2. Các ảo cảm phổ biến đang tác động tới nhân loại hiện nay 56

3. Các ảo cảm tập hợp từ thư Chân sư DK gửi đệ tử thuộc nhóm hạt giống số 2 – nhóm giúp xua tan ảo cảm thế gian 66

Thư gửi D.I.J 67

Thư gửi D.H.B 70

Thư gửi D.L.R 72

Thư gửi L.T.S.K 74

Thư gửi D.P.R 81

Thư gửi L.U.T 82

Thư gửi I.B.S 84

Thư gửi D.A.O 86

Thư gửi W.D.B 87

Thư gửi J.S.P 88

4. Các ảo cảm tự vấn của người viết nghiên cứu 88

CHƯƠNG 5: CÁCH GIẢI QUYẾT TRIỆT ĐỂ CÁC ẢO CẢM – KỸ THUẬT ÁNH SÁNG 92

1. Nhận biết ảo cảm đang chi phối bản thân 92

2. Kỹ thuật giải quyết ảo cảm của Kỷ nguyên mới – “Kỹ thuật ánh sáng” 93

Giai đoạn 1: Nỗ lực tập trung ánh sáng trí tuệ và ánh sáng vật chất vào thể trí. 94

Giai đoạn 2: Tập trung nhờ nỗ lực thiền định 95

Giai đoạn 3: Ánh sáng trí vật chất, ánh sáng trí tuệ và ánh sáng linh hồn được pha trộn, hòa lẫn và tập trung một cách hữu thức 96

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Một người chí nguyện đệ tử, khi đã chọn bước đi trên con đường tinh thần, chắc chắn sẽ phải đối mặt với muôn vàn thử thách. Con đường này khó khăn và chông gai tới mức Chân sư DK thường ví nó nhỏ và hẹp như lưỡi dao cạo. Đặc biệt, một trong những chướng ngại lớn nhất mà người chí nguyện đệ tử phải đối phó là những vấn đề liên quan tới thể cảm dục – thể mà chỉ có thể trở nên thực sự ổn định sau lần điểm đạo thứ 2 và cũng là cấp độ tâm thức mà rất ít người trong chúng ta đã đạt được. Những vấn đề liên quan tới thể cảm dục thường xuyên xảy tới, ngăn cản chúng ta hoà hợp với ý nguyện của linh hồn. Do vậy, thông qua bài luận này, tôi muốn đào sâu nghiên cứu một chủ đề rất thiết thực đối với người chí nguyện đệ tử và liên quan trực tiếp tới nhiệm vụ chinh phục thể cảm dục. Đó là chủ đề về ảo cảm.

Tại sao ảo cảm lại là một chủ đề hữu ích, xứng đáng để những người chí nguyện đệ tử chúng ta đào sâu nghiên cứu? Chân sư DK cho ta biết rằng chiến trường đầu tiên (cụ thể là đối với người gần đến con đường đệ tử hay đang ở trên con đường đệ tử) là chiến trường của ảo cảm. Vấn đề này thực sự quan trọng và việc giải quyết nó là rất cấp bách (Bailey, GWP – 81). Ngài cũng nhấn mạnh rằng một trong những điều khó khăn mà người tầm đạo gặp phải là nhận biết rằng mình đang có ảo cảm và đó là thứ ngăn mình tới với ánh sáng của chân lý. Đa số nhân loại không hề biết sự hiện hữu của ảo cảm. Thậm chí, nhiều người dù lương thiện nhưng lại tôn thờ các ảo cảm của mình, xem chúng như những tài sản mà họ thu hoạch được một cách khó nhọc và đáng giá (Bailey, GWP – 45).

Việc người đệ tử tập trung vào việc luyện tập để phá tan ảo cảm cá nhân còn đem lại một số lợi ích nhất định như:

  1. Chúng ta diệt trừ ảo cảm để có thể đạt được sự tự do và bước sâu vào cánh cổng của các cuộc điểm đạo cao hơn. Ta biết rằng, để đạt được cuộc điểm đạo thứ 2 khi phần lớn các vấn đề về cảm xúc được chế ngự, thì gần như các ảo cảm cá nhân hay ảo cảm phổ biến của nhân loại nói chung đều phải được người đệ tử loại bỏ trước đó.

Như chúng ta đã thấy, ảo cảm có từ lâu đời và sớm hơn ảo tưởng. Ảo cảm có ít tính chất trí tuệ và là nhân tố chính đang chi phối đa số con người. Mục đích của mọi luyện tập được đưa ra trên Con Đường Đệ Tử và đến tận lần điểm đạo thứ ba là đem lại sự suy tưởng rõ ràng, nó sẽ làm cho vị đệ tử thoát khỏi ảo tưởng và mang lại cho y sự ổn định và thăng bằng về tình cảm để không còn chỗ trống nào cho bất cứ ảo cảm nào của thế gian đi vào. Sự tự do này chỉ có được khi nơi người tìm đạo không còn ảo cảm cá nhân nào và không có sự đáp ứng tự dẫn dụ một cách cố ý đối với các nhân tố quyết định vốn đã tạo ra ảo cảm suốt bao thời đại (Bailey, GWP – 33).

  1. Diệt trừ được ảo cảm cũng là một dấu hiệu cho thấy người đệ tử sẵn sàng được điểm đạo.

Sau cùng việc chinh phục được một phần ảo cảm và hoàn toàn thoát khỏi sự giam cầm của ảo tưởng là các chỉ dẫn cho Thánh Đoàn đang quan sát thấy rõ rằng người đó đang sẵn sàng được điểm đạo. Chỉ khi nào y hoàn toàn không còn bị lừa phỉnh và chỉ khi nào y có phần nào tự do về mặt trí tuệ, thì y mới có thể đối diện với vị Thiên Thần đang chờ đợi và vượt qua cửa điểm đạo. (Bailey, GWP – 125).

  1. Mỗi ảo cảm được xua đi sẽ làm cho con đường Đạo trở nên thông suốt hơn, hỗ trợ cho những huynh đệ của y sau này.

Vị đệ tử cũng phải ghi nhớ (để củng cố và cổ vũ cho mình) rằng mỗi mảnh nhỏ của ảo cảm bị làm tan biến và mỗi ảo tưởng được nhận biết và vượt qua đều “làm thông suốt con đường” cho kẻ đi sau và làm cho con đường đệ tử của huynh đệ y trở nên dễ dàng hơn. Công việc Phụng Sự Cao Cả này thật tuyệt diệu, và tôi kêu gọi các bạn chú ý đến khía cạnh này (Bailey, GWP – 44).

Tầm quan trọng và cấp thiết của vấn đề tiêu diệt ảo cảm không chỉ dừng lại ở cá nhân, mà còn mở rộng ra cấp độ toàn nhân loại. Với mỗi người, việc trước tiên là giải quyết các ảo cảm cá nhân và ảo cảm nhóm người đó thuộc về, sau đó mới có thể giúp xua tan ảo cảm thế giới. Người đệ tử và nhóm y thuộc về chỉ có thể trở nên hữu hiệu với Chân sư khi chăm chỉ luyện tập, chế ngự và kiểm soát được ảo cảm của phàm ngã mình.

Hiện nay, ảo cảm là vấn đề của bạn cũng như là vấn đề của thế giới. Một số các bạn có thể trí đang ở trong tiến trình tổ chức, nên có thể chịu đau khổ phần nào do ảo tưởng, nhưng vấn đề chính của bạn – với tư cách một nhóm và với tư cách các cá nhân – là vấn đề ảo cảm. Lãnh vực kinh nghiệm sống của bạn ở trên các cõi phụ cao của cõi cảm dục. Nhiệm vụ của bạn là vượt qua ảo cảm, mỗi một trong các kiếp sống riêng của bạn và với tư cách một nhóm, sau đó tiến tới nhiệm vụ khó khăn đó là giúp xua tan ảo cảm thế giới. Sau này bạn có thể làm được điều này, nếu bạn chịu khó luyện tập và với tư cách cá nhân, am hiểu và chế ngự được các ảo cảm riêng của bạn. Ngay khi bạn bắt đầu làm được điều này, tôi mới có thể bắt đầu sử dụng bạn với tư cách một nhóm. Nhưng trước khi bạn có thể tham dự vào việc xua tan ảo cảm thế giới, bạn phải hiểu biết rõ ràng hơn và dứt khoát chế ngự cho được các ảo cảm và ảo tưởng của phàm ngã bạn. (Bailey, GWP – 68).

Một lần nữa, việc xua tan ảo cảm còn là nhiệm vụ chung của tất cả chúng ta khi thời kỳ Bảo bình đang tới và Đức Christ sắp sửa tái lâm. Khi đó, ảo cảm của toàn nhân loại sẽ bị tấn công mạnh mẽ. Tất cả chúng ta được kêu gọi phải chuẩn bị cho sự kiện này bằng cách dấn thân vào công việc xua tan ảo cảm cá nhân mình. Đây được Chân sư DK coi như một hình thức phụng sự.

Khi Đức Phật còn tại thế và đạt được sự giác ngộ, Ngài “tuôn đổ” ánh sáng vào nỗi khó khăn của thế gian qua việc Ngài đưa ra Tứ Diệu Đế. Nhóm các đệ tử và chín trăm vị La Hán của Ngài đã trình bày rành rẽ bốn chân lý vĩ đại này thành một cấu trúc của giáo lý và học thuyết mà – bằng sức mạnh của tư tưởng tổng hợp – đã trợ giúp phần lớn trong việc tấn công vào ảo tưởng thế gian. Hiện nay Đức Christ đang xúc tiến cùng một nhiệm vụ vĩ đại này với ý nghĩa tâm linh về sự Tái Lâm sắp đến của Ngài (và bằng ngôn ngữ của biểu tượng học) Đức Christ và chín ngàn vị La Hán sẽ tấn công lần thứ hai vào ảo cảm thế gian. Chúng ta đang chuẩn bị cho việc này. Chỉ có trực giác mới có thể xua được ảo tưởng và do đó cần phải luyện để có trực giác. Do đó việc phụng sự mà bạn có thể mang lại cho lý do chung này là chính bạn dấn thân vào việc luyện tập. Nếu bạn có thể vượt qua ảo cảm trong các kiếp sống riêng của bạn và do đó, nếu bạn có thể hiểu được bản chất của ảo tưởng thì bạn sẽ giúp vào việc

  • Hủy diệt kẻ chận ngõ,
  • Làm mất sinh khí của ảo lực chung,
  • Xua tan ảo cảm,
  • Trục xuất ảo tưởng.

Bạn phải làm điều này trong các kiếp sống riêng của bạn và trong mối liên hệ với nhóm. Thêm vào đó sự đóng góp chung của bạn sẽ giúp vào các vấn đề rộng lớn hơn của nhân loại. Sự nhạy bén của trí tuệ, sự giác ngộ của tâm trí, cộng với lòng bác ái sẽ giúp thành tựu được nhiều điều. Tôi lặp lại việc kêu gọi của tôi về việc phụng sự này (Bailey, GWP – 24).

Những lý do kể trên chắc đã đủ để chứng minh rằng người chí nguyện đệ tử nên nghiên cứu về chủ đề này để nhận diện ảo cảm bên trong và tìm cách xua tan chúng như một công việc giúp đỡ mình cũng như phụng sự cho công việc xóa tan ảo cảm chung của nhân loại. Chân sư DK cho biết rằng ảo cảm thực sự phức tạp và đó là lý do tại sao Ngài viết một cuốn sách riêng về các vấn đề liên quan mang tên “Ảo cảm một vấn đề của thế giới”. Trong cuốn sách này, từ “ảo cảm” được Ngài dùng để chỉ chung các khái niệm khác là ảo lực (nhận thức sai về thực tại trên cõi hồng trần – dĩ thái), ảo cảm (nhận thức sai về thực tại trên cõi cảm dục) và ảo tưởng (nhận thức sai về thực tại trên cõi trí). Đa số nhân loại hiện nay vẫn trụ ở thể tình cảm trong khi trí tuệ chưa đủ phát triển để đối mặt với ảo tưởng (Bailey, GWP – 36). Do vậy, phạm vi của bài luận này chỉ tập trung phân tích các khía cạnh liên quan tới ảo cảm như là những nhận thức sai về thực tại trên cõi cảm dục, và bỏ qua vấn đề của ảo lực và ảo tưởng. Hơn nữa, để đảm bảo nội dung bài viết nằm trong khuôn khổ thích hợp của một bài luận tốt nghiệp khóa QU1, tôi xin phép chỉ tập trung vào những điều liên quan tới ảo cảm cá nhân người chí nguyện đệ tử, và tạm thời bỏ qua những ảo cảm liên quan tới nhóm, đất nước hay rộng hơn là thế giới.

Nội dung của bài nghiên cứu sẽ bao gồm những đề mục chính như sau:

  • Tổng kết chung về ảo cảm, so sánh giữa các khái niệm ảo cảm, ảo lực và ảo tưởng.
  • Nguyên nhân gây ra ảo cảm (đến từ hành tinh, nhân loại và mỗi cá nhân con người).
  • Các loại ảo cảm bao gồm ảo cảm đến từ các cung, 5 ảo cảm chính của nhân loại, các ảo cảm tổng hợp từ thư Chân sư DK gửi đệ tử trong nhóm hạt giống số 2, và ảo cảm cá nhân người viết bài nghiên cứu.
  • Cách giải quyết triệt để ảo cảm bằng việc sử dụng “kỹ thuật ánh sáng”.

CHƯƠNG 2: TỔNG KẾT CHUNG VỀ ẢO CẢM

Ảo cảm là một vấn đề rất rộng và khó để làm rõ khái niệm này trong một vài câu chữ. Tuy nhiên, có một định nghĩa cơ bản về ảo cảm được Chân sư DK đề cập trong sách Bailey (GWP, 32) như sau:

Ảo cảm được ví như là đám sương mù mà người tìm đạo đang đi lạc trong đó và sương mù ấy làm lệch lạc tất cả những gì mà y trông thấy và tiếp xúc, lúc nào cũng không cho y thấy được cuộc sống một cách đích thực hay rõ rệt hoặc các tình huống chung quanh người tìm đạo theo đúng bản chất của chúng. Khi người tìm đạo tiến hóa được ít nhiều, y sẽ biết được ảo cảm và đôi khi trong một thoáng chốc, thấy được phương hướng mà y đi theo, có thể ẩn tàng chân lý. Nhưng lúc đó ảo cảm lại chụp xuống y và y mất hết sức mạnh để tự giải thoát hay để làm bất cứ điều gì có tính cách xây dựng. Vấn đề của y trở nên phức tạp hơn do kết quả của đau khổ và sự kinh tởm sâu xa với chính mình. Bao giờ y cũng bước đi trong đám sương mù và không thấy được gì thật đúng cả. Y bị phỉnh gạt bởi cái bề ngoài và quên đi những gì mà cái bề ngoài đó đang che giấu. Các phản ứng phát xuất từ cõi cảm dục mà mỗi con người tạo ra bao giờ cũng vây quanh người ấy và y nhìn vào một thế giới đã bị biến dạng do bởi đám sương mù này. Các phản ứng này và hào quang vây quanh mà chúng tạo ra, đang pha trộn và hòa lẫn với ảo cảm thế gian và sương mù, tạo thành một phần khí độc và các bức xạ (emanations) không lành mạnh mà đa số con người trong hàng triệu năm qua phải chịu trách nhiệm.

Tức là, trong hàng triệu năm qua, hầu hết nhân loại đều đang đi trong một đám sương mù của ảo cảm xuất phát từ cõi cảm dục, tạo ra bởi chính bản thân và từ những người xung quanh. Ta hãy thử tưởng tượng: khi mình bước đi trong một làn sương, liệu ta có thể nhìn rõ được mọi thứ? Chắc chắn là không. Chính vì lớp sương ảo cảm này, sự thật bị che giấu, bóp méo, lệch lạc. Con người dĩ nhiên không thể tiếp nhận mọi thứ như bản chất thiêng liêng thực sự của chúng.

Để giúp bản thân và người đọc hiểu sâu hơn nữa, các định nghĩa khác về ảo cảm (tham khảo từ 20 điều tổng kết về Ảo cảm của Chân sư DK kèm phần bình giảng của thầy Michael Robbins trong loạt bài dịch về ảo cảm của thầy Lâm Kiệt) được tổng hợp ngắn gọn như sau:

  • Ảo cảm là việc không quan sát được thực tại. Thường thì người bị ảo cảm thấy mình quan sát và cảm nhận được đúng thật, nhưng quan điểm của họ lại có một sự lệch lạc, phiến diện nào đó (do cảm xúc, thành kiến cá nhân…).
  • Ảo cảm là sự đồng hoá sai lạc. Ta không biết mình là linh hồn, mà luôn tự đồng hoá mình với phàm ngã. Cụ thể, ta tự cho mình là trung tâm của đời sống và suy nghĩ mọi điều từ khía cạnh phục vụ quyền lợi của chính ta. Do vậy, các động lực và quyết định trong đời sống thường bị méo mó và sai lệch.
  • Ảo cảm là việc nhìn nhận mọi thứ không đúng với tỷ lệ thực của nó. Điều không quan trọng thì bị phóng đại, còn điều quan trọng lại bị coi nhẹ.
  • Ảo cảm là việc coi trọng giá trị của thành phần thay vì toàn thể. Khi đó, chắc chắn quan điểm của ta sẽ bị phiến diện và sai lệch. Ta cần quan điểm hoàn thiện và mang tính tổng thể. Ví dụ: trong thời kỳ Thế chiến thứ 2, Đức chỉ lờ mờ biết về chủng tộc Aryan (một mảnh nhỏ của chân lý) nhưng thổi phồng ý tưởng đó lên và tự cho mình là giống dân thượng đẳng nhất.
  • Ảo cảm luôn gắn liền với yếu tố vị kỷ. Vị kỷ tức là luôn để ý đến cái tôi nhỏ bé. Để tránh ảo cảm, ta hãy rời xa cái tôi đó (dù là tự hạ thấp hay nâng cao mình thì vẫn là tập trung vào cái tôi nhỏ bé).
  • Ảo cảm chắc chắn sẽ tồn tại ở nơi có sự chỉ trích, than thân trách phận và nghi ngờ. Chỉ trích và nghi ngờ tức là có tầm nhìn phiến diện, không coi người khác là linh hồn mà chị nhìn họ khi họ bị chệch hướng khỏi mong đợi của ta ở họ. Than thân trách phận là biểu hiện của việc quá chú trọng vào cái tôi nhỏ bé.

Tuy nhiên, việc định nghĩa sơ lược về ảo cảm là chưa đủ. Để đào sâu thêm về khái niệm này, trong một cuộc huấn luyện của Chân sư DK đối với các đệ tử về vấn đề ảo cảm, Ngài có đưa ra yêu cầu muốn các đệ tử phân biệt được kỹ càng ba khái niệm: ảo lực (maya), ảo cảm (glamour) và ảo tưởng (illusion). Do vậy, bảng bên dưới được xây dựng để so sánh và phân biệt các khái niệm. Từ đó, khái niệm về ảo cảm chắc chắn sẽ trở nên rõ ràng hơn.

 

Ảo lực (Maya)

Ảo cảm (Glamour)

Ảo tưởng (Illusion)

Cõi giới tồn tại

Nhận thức sai về thực tại trên cõi hồng trần – dĩ thái.

Nhận thức sai về thực tại trên cõi cảm dục.

Nhận thức sai về thực tại trên cõi trí.

Định nghĩa

Ảo lực là các lực không được kiểm soát, không được hướng dẫn, phát ra từ thế giới của prana vũ trụ và từ mãnh lực tiềm tàng của chính vật chất (Bailey, GWP – 85). Các xung lực này theo thầy Michael Robbins thì chính là lửa tiềm ẩn (latent fire) – lực vật chất dày đặc và lửa phát xạ (radiatory fire) – lực dĩ thái phát ra từ thế giới prana (Robbins, GWP – webinar 147).

Ảo lực cũng được Chân sư DK ví như là “mớ cảm xúc hỗn độn thiếu suy nghĩ” (unthinking emotional mess). Biểu hiện của chúng là các thói quen tiêu cực và các ham muốn thấp kém (Bailey, GWP – 21). Nó tự động tạo ra trạng thái hỗn loạn trong con người. Con người chưa tiến hóa đồng hóa với nó và không muốn làm gì để sửa chữa hay thay đổi những thói quen và ham muốn của mình.

Theo sách Bailey (GWP, 32), Chân sư DK ví ảo cảm giống như một lớp sương mù dày đặc mà con người thiên về tình cảm đang đi lạc trong đó. Đám sương mù của ảo cảm này làm lệch lạc những gì mà con người trông thấy hay tiếp xúc, ngăn trở họ không nhìn thấy bản chất đích thực của mọi việc. Nguyên văn những gì Ngài mô tả về ảo cảm là: “Bao giờ y cũng bước đi trong sương mù và không thấy gì thật đúng cả. Y bị phỉnh lừa bởi cái bề ngoài và quên đi những gì mà cái bề ngoài đó đang che giấu”.

Ảo tưởng là việc nhận thức sai, giải thích sai, chiếm hữu sai (nghĩ rằng ý tưởng thuộc về mình), định hướng sai (thể trí hạn hẹp, thiếu bao quát), hội nhập sai (vì nghĩ rằng mình có đủ vận cụ để thực hiện mọi ý tưởng), thể hiện sai, hay áp dụng sai một ý tưởng nào đó (Bailey, GWP 58-66).

Tư tưởng thuần túy xuất phát từ cõi dĩ thái vũ trụ (từ cõi bồ đề trở lên). Chúng là những nguyên mẫu cấu thành nên tất cả tư tưởng của 21 cõi phụ ở dưới (7 cõi phụ cõi trần, 7 cõi phụ cõi cảm dục và 7 cõi phụ cõi trí). Nếu như vận cụ tiếp cận tư tưởng của chúng ta tốt (cầu antahkarana được xây dựng chính xác, ổn định), tư tưởng ta tiếp nhận được sẽ càng tinh khiết và thuần túy. Và ảo tưởng hình thành khi vận cụ tiếp nhận tư tưởng của ta chưa hoàn hảo (Robbins, GWP – webinar 89).

Được tạo ra khi nào và như thế nào?

Ảo lực xuất hiện khi vật chất hình thành vì chúng là lực phát ra từ chính vật chất.

Những lực này đã tồn tại và tác động đến con người trong rất nhiều kiếp sống trong quá khứ. Con người không hề nhận biết được sự tồn tại của chúng. Một đoạn thơ trong Cổ Luận mô tả các lực này: “Tôi đứng bối rối giữa các mãnh lực xoay tít. Tôi không biết chúng, vì trong cả quá khứ của tôi, chúng đã cuốn tôi lên và xuống vùng đất nơi tôi đã hoạt động, mù loà và không hay biết. Từ nơi này đến nơi khác, và điểm này đến điểm khác, chúng đẩy tôi lên và xuống vùng đất đó, không ngừng lại nơi nào cả.” (Robbins, GWP – webinar 147).

Ảo cảm đầu tiên được cho biết là hình thành ở những người tìm đạo thuộc giống dân Lemuria, với bậc tiến hóa cao nhất là điểm đạo bậc 1. Lúc đó, họ phải đối mặt với ảo cảm về ham muốn tính dục (Bailey, GWP – 107).

Ảo cảm trở nên phổ biến từ thời Atlantean và kéo dài tới bây giờ khi tâm thức con người bắt đầu thiên nhiều hơn về tình cảm (Bailey, GWP – 32). Các nguyên nhân gây ảo cảm sẽ được phân tích kỹ ở chương 3 (đến từ hành tinh, nhân loại và cá nhân mỗi người).

Chân sư DK cho biết rằng trong thời kỳ của giống dân Aryan, ảo tưởng đang từ từ gom sức mạnh và xuất hiện nhiều thành nhận thức trong nhân loại (Bailey, GWP – 32).

Theo Bailey (GWP, 55), khi con người bắt đầu tập trung vào thể trí của y, y tự nhiên được tiếp cận với những ý tưởng cao siêu và kỳ diệu. Vì vận cụ của y còn kém hay sự tiếp xúc với linh hồn còn yếu ớt, các tư tưởng thuần túy được tiếp nhận một cách lờ mờ. Người môn sinh thêm vào ý tưởng những kinh nghiệm riêng của mình, làm cho ý tưởng thuần túy đó bị nhuốm màu ảo tưởng. Chân sư có ghi rõ: “Một hay nhiều ý tưởng mà y đã giao tiếp được, nếu y có thể hiểu rõ, chỉ là một mảnh nhỏ của một Tổng Thể lớn hơn nhiều”.

Quy trình một tư tưởng nguyên mẫu bị nhuốm ảo tưởng:

  • Ý tưởng thuần túy đi qua một trực giác mới khai mở một phần.
  • Ý tưởng đã lệch lạc này còn đi xuống não bộ theo một vài cách (bị biến dạng bởi các cung phàm ngã và linh hồn, mức độ tiến hóa, mức độ tích hợp phàm ngã…)
  • Ý tưởng còn phải được biến thành một kế hoạch hành động thực tiễn.

Ta dễ thấy là một ý tưởng thuần túy phải đi qua rất nhiều lớp lọc, bị xuyên tạc và lệch lạc đi so với bản gốc của nó. Do vậy chúng chắc chắn chứa đầy ảo tưởng (Robbins, GWP – webinar 89).

Khi nào có thể nhận biết được tác động?

Bắt đầu được nhận biết khi người môn sinh bước trên con đường dự bị hay thanh lọc. Chỉ khi đó, y mới nhận ra mình bị ảnh hưởng bởi những mãnh lực y không thể kiểm soát. Các mãnh lực này tuôn đổ vào một số hoặc tất cả bảy luân xa chính trong thể dĩ thái của y, tạo ra những phản ứng hay hệ quả đó. Những hệ quả này có thể tích cực hoặc tiêu cực (Bailey, GWP – 85).

Thầy Michael Robbins cũng bổ sung thêm: đó là thời điểm đang khai mở cánh hoa thứ 5 của Hoa sen chân ngã (Robbins, GWP – webinar 147).

Ảo cảm xuất hiện khi con người bắt đầu sống thiên về tình cảm. Tuy nhiên, theo tôi người môn sinh chỉ bắt đầu nhận biết được ảo cảm của mình và cố gắng thay đổi chúng khi bắt đầu bước đi trên đường đạo. Ảo cảm hầu hết sẽ được xua tan khi đạt bậc điểm đạo 2.

Trong sách Bailey (RI, 600), Chân sư DK có đề cập đến việc môn sinh sẽ chiến đấu chủ yếu với ảo tưởng (giống như cách mà y phải chiến thắng ảo cảm trước đó) ở giữa cuộc điểm đạo thứ 2 và thứ 3. Chỉ sau cuộc điểm đạo thứ 6, ảo tưởng cuối cùng mới thực sự biến mất.

Ví dụ về biểu hiện lên con người

Con người thấy mình bị cuốn vào việc thực hiện các hành động nào đó một cách vô thức, theo thói quen. Họ thậm chí không hiểu vì sao bản thân lại hành động như vậy.

Động từ hay được sử dụng với ảo lực là “quét, cuốn”. Ảo lực (như một cơn lũ lớn, một trận tuyết lở) quét qua và cuốn con người vào những hoạt động sai lầm. Hậu quả là những tình huống khiến con người bất lực, không làm gì được. Giống như khi ta bị cuốn vào một xoáy nước, ta cũng không thể làm gì được (Robbins, GWP – webinar 147).

Ví dụ: maya của đám đông – biểu tình trên đường phố. Đám đông đột nhiên phá rào, đột nhiên bỏ chạy, đột nhiên hô hào,vv…Bạn bị cuốn vào hoạt động của đám đông mà không thực sự nhận thức được.

Hay việc mà rất nhiều người hiện nay vẫn bị cuốn theo các mãnh lực vô hình thôi thúc họ chạy theo sự phóng túng, không kiểm soát trong đời sống tính dục. Tôi cho rằng đó cũng là một dạng của ảo lực.

Ta có thể ví ảo cảm giống như khi ta chơi trò chơi nhà gương trong các công viên giải trí. Thầy Michael Robbins đã đưa ra ví dụ này trong GWP – webinar 9 của mình. Trong trò chơi nhà gương, mỗi chiếc gương sẽ làm cho hình ảnh của ta bị biến dạng một cách kỳ dị. Khi thì đầu to bằng cả cơ thể còn lại, khi thì phần chân dài gấp nhiều lần tỉ lệ thật. Đây chính là hình ảnh mô tả cách ảo cảm hoạt động. Sự việc bị ảo cảm bóp méo, khiến ta không thể nhìn và hiểu tỉ lệ thật của sự việc.

Phần dưới của bài luận này cũng sẽ đưa ra rất nhiều biểu hiện của ảo cảm lên con người. Đó có thể là các loại ảo cảm đến từ các cung năng lượng, hay các ảo cảm chung đang chi phối nhân loại bao gồm: ảo cảm vật chất, ảo cảm sùng tín, ảo cảm về các cặp đối lập, ảo cảm tình cảm và ảo cảm trên đường Đạo.

Ta có thể liên hệ ảo tưởng với con mắt của loài châu chấu. Đó là một con mắt kép, hình thành từ nhiều phần nhỏ ghép lại. Con mắt này làm cho các hình ảnh thu được bị phân mảnh và chia cắt. Con người bị ảo tưởng cũng giống vậy. Họ nhìn sự vật và thế giới với một con mắt tách biệt, phân mảnh thay vì một con mắt thống nhất và tổng hợp. Khi con người phát sinh những tư tưởng cuồng tín, cứng nhắc và ích kỷ, thì chắc chắn những tư tưởng này chứa ảo tưởng (Robbins, GWP – Webinar 128).

Giải pháp

Kỹ thuật Điềm Nhiên (The Technique of Indifference): Chân sư DK nhấn mạnh rằng nhờ áp dụng kỹ thuật này mà ảo lực sẽ thực sự chấm dứt, giúp cho thể dĩ thái thoát khỏi sự kiểm soát của vật chất. “Nơi nào có sự điềm nhiên thiêng liêng đối với tiếng gọi hay sự lôi cuốn của vật chất, thì nơi đó mới có thể có được nguồn cảm hứng”. Tức là, kỹ thuật này giúp ta đạt được sự vô ngã hoàn toàn trong việc sử dụng vật chất, và con người từ đó có thể sống hướng theo các mục tiêu tinh thần (Robbins, GWP – webinar 3).

Lưu ý: sử dụng vật chất ở đây không phải chỉ là những thứ hữu hình liên quan đến của cải, tiền bạc. Nghĩa rộng hơn của nó chính là các bản năng vật lý. Điềm nhiên tức là ta vô kỷ, không ham muốn gì cho bản thân mình và sử dụng những gì ta có cho mục đích cao cả của Thiên cơ.

Thầy Michael Robbins trong GWP – webinar 147 có nói thêm rằng: con người vẫn bị chi phối bởi các lực vật lý dưới sự kiểm soát của Maya. Để khống chế được những lực này, chúng ta phải chứng minh rằng mình có thể vượt qua được những sự lôi kéo vật lý đến từ luân xa xương cùng liên quan tới tính dục, sự thu thập tiền bạc (chủ nghĩa duy vật).

Kỹ thuật của Ánh Sáng (The Technique of Light): giúp soi sáng thể trí, từ đó có thể kiềm chế thể cảm dục và xua tan ảo cảm. Kỹ thuật này có liên quan mật thiết tới Raja Yoga. Chi tiết về kỹ thuật này sẽ được nói kỹ ở chương 5 của bài nghiên cứu này.

Trong webinar 3 của mình, thầy Michael Robbins có nhắc rằng: việc chiến đấu với ảo cảm sẽ thông qua cung 5 và qua Sao Thủy. Ánh sáng từ một trí tuệ thông suốt sẽ làm tan đi ảo cảm.

Kỹ thuật của Đấng Hằng Hữu (The Technique of Presence): kiềm chế phàm ngã tích hợp, tăng cường việc khai mở trực giác để xua tan ảo tưởng. Kỹ thuật này liên quan nhiều tới môn Agni Yoga (Robbins, GWP – webinar 3).

Chi phối chủ yếu những ai?

Chi phối tất cả những người trước khi họ bước vào con đường dự bị và trở thành những người chí nguyện. Điều này không có nghĩa là mọi người chí nguyện trở lên đều vượt thoát được ảo lực. Nhưng thường những người này có thể nhận thức được sự tồn tại của các ảo lực và tìm cách vượt qua chúng.

Chi phối những người sống thiên về mặt tình cảm, tức là đa số nhân loại ngày nay.

Chủ yếu chi phối giới tri thức, những người thông minh mà đã bắt đầu tập trung vào thể trí (mentally focused). Đặc biệt là trong các nhà lãnh đạo hiện nay của nhân loại, ảo tưởng là một vấn đề lớn và những tư tưởng sai lầm của họ có thể ảnh hưởng đến rất nhiều con người.

Chi phối thông qua luân xa nào?

Ảo lực kiểm soát con người thông qua luân xa xương cùng (Robbins, GWP – webinar 147).

Ảo cảm kiểm soát thông qua luân xa tùng thái dương.

Chưa tìm thấy tài liệu liên quan.

CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN GÂY ẢO CẢM

Chân sư DK đã đưa ra rất rõ ràng ba nhóm nguyên nhân chính tạo ra ảo cảm, bao gồm các nguyên nhân thuộc hành tinh, nhân loại và cá nhân mỗi người (Bailey, GWP 105-120).

Nguyên nhân thuộc hành tinh

Về nguyên nhân thuộc hành tinh, Chân sư DK nói rằng chúng thực sự vượt ngoài sự hiểu biết của tâm thức có giới hạn của chúng ta hiện nay. Do vậy, Ngài yêu cầu chúng ta tạm thời chấp nhận những điều này.

Nguyên nhân do hành tinh. Các nguyên nhân này gồm hai phần và vượt ngoài sự hiểu biết có giới hạn của bạn. Tôi chỉ nêu các nguyên nhân đó ra và yêu cầu bạn chấp nhận chúng như là các suy diễn hợp lý và các giả thuyết có thể đúng.

Các nguyên nhân có sẵn trong chính vật chất. Các nguyên tử đã tạo ra mọi hình hài, vốn được kế thừa từ một vũ trụ hay thái dương hệ trước, do đó bị nhuốm màu do kết quả của cuộc biểu lộ sáng tạo vĩ đại đó. Các hậu quả được tạo ra trong biểu hiện của cuộc sống thiêng liêng đó tạo ra các yếu tố được sắp xếp trước hay các nguyên nhân khởi đầu trong thái dương hệ và sự sống hành tinh này. Không thể nào tránh được các yếu tố chi phối và được kế thừa này. Chúng định đoạt bản chất của sự thôi thúc của sự sống, khuynh hướng của công cuộc tiến hóa và các khuynh hướng bẩm sinh mà mọi hình hài đều có được, đó là khả năng để tăng trưởng và để khai mở, để định hướng kiểu mẫu và để biểu hiện trong thời gian và không gian cái nguyên hình hay kiểu mẫu, và để vạch ra và định đoạt cấu trức của các giới (mà khoa học đang phân loại) thành thế giới thiên nhiên. Đây chỉ là một vài đặc điểm bẩm sinh, có sẵn của chính chất liệu nguyên thủy, được kế thừa và chi phối sự biểu lộ cuộc sống thiêng liêng hiện tại của chúng ta (Bailey, GWP – 105).

Đầu tiên, nguyên nhân của ảo cảm có sẵn trong bản chất của vật chất. Ta biết rằng mỗi hình tướng đều được cấu tạo từ các nguyên tử, và có rất nhiều loại nguyên tử được kế thừa từ một thái dương hệ trước đó. Theo webinar 116 – GWP, thầy Michael Robbins có phân tích thêm: Thái dương hệ hiện nay đang là thái dương hệ thứ 4, và cũng thuộc thái dương hệ chính thứ 2. Các thái dương hệ trước được hiểu như là các hoá thân trước của Đấng Thái Dương Thượng đế. Giống như cách mà bản thân con người trong kiếp sống này cũng mang theo kết quả từ các kiếp sống trước đó, thì biểu hiện trong hình tướng của Thái dương hệ này cũng mang theo tính chất của các Thái dương hệ trước.

Chúng ta và tất cả các hình tướng khác khi cùng sống trên một hành tinh, thì điều kiện “di truyền”, tính chất cố hữu của hành tinh đó chắc chắn sẽ nhuốm màu lên tất cả. Tính chất của hành tinh đã quyết định bản chất thôi thúc sự sống, xu hướng tiến hoá và khai mở. Nghĩa là, chúng ta vẫn còn bị ảnh hưởng nhiều của cung 3, thôi thúc chúng ta đi theo hướng phù hợp với dãy hành tinh trước đó (dãy mặt trăng) nhưng hiện giờ đã không còn phù hợp với dãy hành tinh hiện tại (dãy trái đất). Thầy có nói thêm, mọi hình tướng trong tự nhiên đều có khuynh hướng bẩm sinh là bảo tồn quy luật và cấu hình năng lượng trước đấy của nó, cho dù những điều này có không phù hợp với nhu cầu cao hơn của hệ mặt trời hiện tại. Điều này gần giống với khái niệm “quán tính” trong vật lý. Một vật đang đứng yên sẽ có xu hướng tiếp tục đứng yên, hay đang chuyển động thì sẽ muốn tiếp tục duy trì chuyển động. Cũng giống với con người, chúng ta luôn muốn biểu hiện những thói quen cũ mà ta đã tích tụ từ rất nhiều kiếp sống trước đây. Và nhiệm vụ của tất cả chúng ta là phải định hướng lại xu hướng cung 3 này. Thầy nói đây chỉ là một số đặc điểm bẩm sinh của vật chất, và chúng ta không thể làm gì để thay đổi chúng. Đây là những điều kiện ta phải chấp nhận trên hành tinh chúng ta (Robbins, GWP – webinar 116).

Sự sống hay sự biểu lộ của Hành Tinh Thượng Đế, “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, hoạt động và hiện tồn”, được xác định bằng Bản Thể Riêng của Ngài. Đối với chúng ta, Sự Sống vĩ đại đó tượng trưng cho sự hoàn hảo và các tính chất vốn phân biệt ngài với các tính chất mà chúng ta hướng tới với đạo tâm cao nhất của chúng ta. Nhưng theo quan điểm của các Đấng đi trước Ngài trên con đường vũ trụ (tôi đã nói một cách tượng trưng và bằng các thuật ngữ chỉ sự hiểu biết của con người), Ngài ở trong số các vị “Thượng Đế bất toàn”. Các sự bất toàn này ngăn cản sự khai mở hay là biểu hiện toàn vẹn của năng lượng thiêng liêng khi liên kết với các đặc tính được kế thừa và các chiều hướng của chất liệu nguyên thủy mà nhờ đó Ngài phải biểu lộ sự sống của Ngài, còn các mục tiêu và các đường lối của Ngài tạo ra các “mầm mống của sự tử vong và hư hoại” vốn tạo thành đặc trưng cho cuộc tiến hóa của hành tinh chúng ta trong cả bốn giới của thiên nhiên. Các mầm mống này tạo ra chướng ngại, các bế tắc và các cản trở ngược lại với những gì mà linh hồn trong mọi hình thể được sáng tạo phải đấu tranh, giành lấy sức mạnh và sự hiểu biết để nhờ đó và sau rốt được giải thoát (Bailey, GWP – 105).

Nguyên nhân thứ 2 thuộc hành tinh liên quan đến sự bất toàn của Đấng Hành tinh Thượng đế chúng ta – Đấng Sanat Kumara. Đối với góc nhìn của chúng ta, Ngài là đấng toàn năng, đã tiến hoá rất cao và mỗi người thực sự chỉ như một tế bào trong cơ thể Ngài. Tuy nhiên, Chân sư DK có chia sẻ rằng, đối với những Đấng tiến hoá cao hơn Ngài trong vũ trụ, thì Ngài lại là một trong số những vị Thượng đế bất toàn. Ta cũng biết rằng: Trái đất là một hành tinh không thiêng liêng, và đang tiến hoá để trở nên thiêng liêng hơn.

Trong GWP – webinar 116, thầy Michael Robbins cho biết kỹ hơn rằng Đấng Sanat Kumara đang phải chiến đấu với thể cảm dục của Ngài và đó chính là lĩnh vực gây ra ảo cảm. Thầy nói Ngài là nạn nhân của ảo cảm phàm ngã (tất nhiên ngụ ý loại ảo cảm ở cấp độ rất cao của vũ trụ). Chính sự không hoàn hảo này của Ngài đã cản trở sự khai mở và khả năng biểu hiện năng lượng thiêng liêng nơi các hình tướng trên Trái đất. Bởi vậy, ta mới thấy mầm mống của cái chết và sự suy tàn trong cả 4 giới tiến hoá trong tự nhiên. Tổng hợp lại, chính sự không hoàn hảo của hành tinh Trái đất cộng với những mầm mống không phù hợp kế thừa từ Thái dương hệ trước đã góp phần tạo ra ảo cảm, ngăn cản việc linh hồn biểu hiện.

Nguyên nhân gây ra bởi nhân loại nói chung

Một nguyên nhân quan trọng nữa tạo ra ảo cảm là đến từ chính nhân loại. Con người đã tạo ra ảo cảm và ngày càng làm trầm trọng hoá trạng thái tâm thức bị ảo cảm – biểu hiện qua cái ta gọi là cõi trung giới. Chân sư DK mô tả cõi trung giới “là một cõi giới của màn sương mù dày đặc, hỗn loạn, của các hình dạng hay thay đổi, các màu sắc xen kẽ và thâm nhập vào nhau, và có vẻ ngoài như kính vạn hoa đến mức dường như sự vô vọng của công việc tràn ngập. Nó không sáng sủa hay rõ ràng” (Bailey, TWM – 221). Làm thế nào mà con người có thể tạo ra một cõi giới có tính chất như vậy? Đó là bởi vì các mãnh lực trong con người cũng hỗn loạn như vậy. Trong sách Bailey (TWM, 222), Chân sư nói rõ bộ máy cảm dục của mỗi người hỗn loạn, hòa vào sự hỗn loạn của một nhóm người, rồi lớn hơn nữa là bộ máy cảm dục của cả nhân loại và thế giới. Khi quan sát từ góc nhìn của linh hồn trong giai đoạn tiến hóa ban đầu của một cá nhân, nó gần như không thể nhìn ra thể cảm dục của chính nó. Và khi mỗi cá nhân đều đóng góp sự hỗn loạn trong cảm xúc của mình, đương nhiên sẽ tạo thành một cõi trung giới thay đổi liên tục như được mô tả ở trên. (Lưu ý: Chân sư cho biết rằng ảo cảm chỉ được tạo ra nơi những con người đã tiến hóa, trụ ở thể cảm dục và trí tuệ đã được thức tỉnh một phần. Phần lớn nhân loại đang thuộc nhóm này, giải thích tại sao ảo cảm lại là một vấn đề lớn đối với thế giới hiện nay).

Một cách chậm chạp và từng bước một, nhân loại đã tạo ra và làm mạnh thêm tình trạng ảo cảm của ý thức mà chúng ta gọi là cõi cảm dục. Mọi ảo cảm đều được tạo ra bằng cách cùng mang lại một hay nhiều luồng năng lượng, tạo ra một vòng xoáy tạm thời của các năng lượng và, theo quan điểm con người – kẻ đứng nhìn (bàng quan) và kẻ tham dự − tạo ra một tình huống tối tăm, một trạng thái hoang mang làm cho sự lựa chọn sáng suốt và sự phân biện đúng trở nên khó khăn, và trong các giai đoạn đầu không thể có được. Nó tạo ra một hào quang mà ngày nay, có bản chất bao quát và bao bọc tất cả đến nỗi, nói một cách biểu tượng, mọi người đều bị đắm chìm trong đó (Bailey, GWP 107).

Hãy cùng phân tích lần lượt từng giống dân để hiểu sâu hơn việc nhân loại từ xưa tới nay đã cùng nhau tạo ra ảo cảm như thế nào. Đầu tiên, với những con người tâm thức còn sơ khai (đại diện là tâm thức của giống dân Lemuria), họ vẫn bị chi phối chủ yếu bởi bản năng, đối mặt với những điều cơ bản của cuộc sống như miếng ăn, cơn đói, nơi trú chân,… mà chưa phát triển những cảm xúc tinh tế, phức tạp (như con người thời nay vẫn hay cảm nhận) nên chưa bị ảo cảm tác động. Bởi vậy, những luồng ảo cảm đầu tiên được phát hiện nơi những người chí nguyện đệ tử thời Lemuria khi họ có những nhận thức đầu tiên về việc kiểm soát tình cảm của mình, cụ thể là sự thôi thúc về tính dục. Lúc đó, để đạt đến cuộc điểm đạo đầu tiên (cuộc điểm đạo cao nhất có thể thời bấy giờ), người Lemuria phải truyền chuyển được năng lượng từ luân xa xương cùng (bí huyệt về tính dục) lên luân xa cổ họng. Tức là, họ phải chế ngự được ảo cảm về sự thôi thúc tính dục (Bailey, GWP – 107; Robbins, GWP – webinar 116).

Các phản ứng xung đột giữa các luồng năng lượng bên trong con người thời Lemuria tạo ra ảo cảm như thế nào? Khi đó, con người bắt đầu nhận thức được các vấn đề nhị nguyên khi y thấy bị lôi kéo một cách vô thức vào biểu hiện thấp hoặc cao của đời sống, chủ yếu liên quan đến các vấn đề thuộc thể xác và thể dĩ thái. Khi đó, sự phức tạp của đời sống ngày càng tăng, xung đột năng lượng trong tâm thức xảy ra (khi bên trong luôn phải quyết định lựa chọn phần cực nào của vấn đề nhị nguyên). Ảo cảm được tạo ra khi các giá trị thấp được lựa chọn thay vì các giá trị cao, làm phân tán sự chú ý của người đệ tử thời Lemuria khỏi nhận thức đúng đắn về Chân lý.

Tới thời Atlantean, vẫn còn rất nhiều người trụ ở tâm thức Lemuria tạo ra ảo cảm giống như cách những người chí nguyện đệ tử thời Lemuria tạo ra trước đó. Xung đột của ý thức nhị nguyên trong lĩnh vực của thể xác và thể dĩ thái chuyển thành lĩnh vực phẩm tính thuộc về cõi cảm dục – lĩnh vực mà hay được ta gọi là các cặp đối lập (ví dụ: điều thiện và điều ác, đúng và sai, có lý và không có lý…). Con người lúc này chìm đắm trong thế giới của cảm xúc, những điều y thích và không thích, các phản ứng tình cảm, sự than thân trách phận,…Chính những người tiến hóa cao này của thời Atlantean đã tạo ra ảo cảm nhiều nhất cho nhân loại. Điều này cũng dễ hiểu vì ta luôn được học rằng tâm thức Atlantean là tâm thức thiên về tình cảm, nên đây cũng là thời kỳ ảo cảm của thế giới được tạo ra nhiều nhất.

Ở thời kỳ Aryan, Chân sư DK cho biết nó bao gồm 3 nhóm người chính. Nhóm đầu tiên vẫn trụ ở tâm thức Atlantean và bị chìm đắm trong ảo cảm như phân tích ở đoạn trên. Nhóm thứ 2 gồm những người đã trụ vào tâm thức Aryan. Những người này đã có trí tuệ thức tỉnh và thường đối mặt nhiều hơn với sự kết hợp giữa ảo tưởng và ảo cảm. Còn nhóm thứ ba là những người đã vượt qua lĩnh vực của ảo tưởng và ảo cảm, sống theo đúng ý nguyện của linh hồn. Chỉ có một số rất ít những người thuộc tâm thức Lemuria còn tồn tại trong thời kỳ của giống dân Aryan hiện tại.

Tựu chung lại, ảo cảm được cả nhân loại tạo ra khi bên trong con người xuất hiện những xung đột nhị nguyên liên quan đến tình cảm (người có tâm thức Lemuria là sự thôi thúc tính dục, tâm thức Atlantean là sự đấu tranh của các cặp đối lập, tâm thức Aryan là sự kết hợp giữa ảo cảm và ảo tưởng).

Nguyên nhân đến từ cá nhân mỗi người

Khi con người bước gần tới giai đoạn có ý thức với thể cảm dục và thể trí đều linh hoạt và hoạt động mạnh mẽ, thì y chính là tác nhân tạo ra ảo cảm (Bailey, GWP – 115). Lúc đó, y phải đấu tranh với các mãnh lực bên trong chính mình và từ môi trường y sống, cũng như các lực tuôn đổ từ linh hồn – vốn sẽ xung đột với các mãnh lực của phàm ngã. Từ đó, một trường ảo cảm được tạo ra xung quanh y. Những ảo cảm này sinh ra tùy thuộc vào bản chất các thể thấp của y (biểu đồ cung năng lượng và các dấu hiệu chiêm tinh quy định y). Tức là, sẽ có những ảo cảm nhất định thường xuất hiện tương ứng với từng cung năng lượng và từng dấu hiệu hoàng đạo.

Chân sư DK liên hệ giai đoạn con người tạo ra ảo cảm với quá trình mà nhân vật Arjuna trong thiên sử Bhagavad Gita phải đối mặt trong cuộc chiến đấu giữa các mãnh lực của linh hồn và phàm ngã (Bailey, GWP – 115). Arjuna hay người chí nguyện đệ tử chiến đấu cho tới khi mệt mỏi và phải ngồi xuống tự hỏi: “Đâu là điều đúng, đâu là điều sai?, Làm sao để thoát khỏi những đau khổ này?, Tại sao tôi phải từ bỏ những thứ tôi yêu quý và gắn bó từ rất lâu?, Làm sao để tôi thấy Thượng đế?…”. Trong y là guồng quay của việc thích hay không thích, các phản ứng tình cảm, sự đồng hóa sai lệch, ý thức sai về tỷ lệ,… Những phản ứng tình cảm sai lệch này chính là ảo cảm. Vì vậy, ảo cảm thường sinh ra từ quá trình con người trải qua những giai đoạn đấu tranh giữa việc nghe theo tiếng gọi của linh hồn hay đồng hóa với lề thói quen thuộc của phàm ngã.

Tuy nhiên, Chân sư DK đã đưa ra một giải thích rất thú vị về việc tại sao con người lại cần trải nghiệm ảo cảm? Ngài nói rằng: ảo cảm sẽ đem đến cho chúng ta kinh nghiệm cần thiết để tăng cường sự hiểu biết về quan điểm và tầm nhìn của linh hồn. Những kinh nghiệm này còn giúp linh hồn kiểm soát được phàm ngã và từ đó tìm ra được lĩnh vực mà cá nhân đó cần phụng sự (Bailey, GWP – 114). Chân sư giải thích rằng: ban đầu, linh hồn thường rơi vào bẫy và đồng hóa chính nó với ảo lực, ảo cảm hay ảo tưởng. Linh hồn lúc này không đồng hóa được với bản chất của chính nó. Vì thế, linh hồn nhập thế phải trải nghiệm và học hỏi cho tới khi nó thành công trong việc giải phóng khỏi thế giới của các mãnh lực phỉnh lừa (các loại ảo lực, ảo cảm và ảo tưởng), nhờ vậy có đủ năng lực biểu hiện để phụng sự nhân loại. Do vậy, ảo cảm theo một khía cạnh nào đó chính là công cụ để giúp nhân loại phát triển và tiến hóa.

CHƯƠNG 4: CÁC LOẠI ẢO CẢM VÀ GỢI Ý VỀ CÁCH GIẢI QUYẾT

Chân sư DK từng đề cập rằng có hàng trăm loại ảo cảm khác nhau và rất khó đặt tên cho chúng. Tuy nhiên, có những loại ảo cảm được cho là rất phổ biến, có sự tác động lớn tới nhân loại nói chung và những người ở cấp độ chí nguyện đệ tử. Chương này sẽ đề cập tới những ảo cảm phổ biến nhất và dễ gặp phải. Chúng bao gồm:

  • Ảo cảm đến từ các cung năng lượng.
  • 5 ảo cảm chính chi phối nhân loại hiện nay.
  • Các ảo cảm tổng hợp từ các bức thư của Chân sư DK gửi đệ tử thuộc nhóm hạt giống số 2 – nhóm có nhiệm vụ xua tan ảo cảm thế giới. Những ảo cảm này thường cụ thể, tương ứng với hoàn cảnh cuộc đời của từng đệ tử. Tuy nhiên, tôi tin rằng mình và người đọc có thể học được nhiều điều từ những bức thư này. Chúng ta sẽ thấy một người đệ tử được chấp nhận vào Ashram của Chân sư DK phải trải qua các ảo cảm như thế nào, và cách họ đối mặt với chúng.
  • Một số ảo cảm tự vấn của người viết nghiên cứu.

Ảo cảm đến từ các cung năng lượng

Chân sư DK có đưa ra nhận định sơ lược về ảo cảm chung của người chí nguyện trên từng cung như sau (Bailey, GWP 221-4):

Người cung 1 có thể dễ dàng vượt qua ảo cảm một khi y thấy ảo cảm như một vật cản trở phàm ngã y phát triển và đạt mục tiêu mong muốn.

Người cung 2 sở hữu một khả năng nhận thức rõ ràng bẩm sinh. Do vậy, y có thể biết được đầy đủ những ảo cảm mình vướng mắc. Tuy nhiên, thay vì quyết liệt xua tan ảo cảm ngay như người cung 1, y lại chọn cách chịu đựng nó. Khi nào thấy mình có biểu hiện của ảo cảm, y sẽ thấy tội lỗi, mặc cảm, tự trách mình một cách tiêu cực. Với sự nhạy cảm, khả năng bao gồm và từ tính, y dễ bị thu hút bởi tất cả ảo cảm thuộc cõi trung giới một cách tạm thời. Chỉ có những ảo cảm đơn lẻ nào đó thực sự mạnh mẽ và làm cản trở sự phát triển một cách rõ ràng, thì y mới để ý tới. Người cung 2 luôn phải sử dụng công thức tích hợp của mình để xua tan ảo cảm cho tới khi y không còn bị ảnh hưởng bởi chúng.

Người cung 3 rất dễ mắc phải ảo cảm giống người cung 6. Với một tâm trí nhanh nhạy, linh hoạt, y dễ dàng lừa dối bản thân và những người khác về việc mình đang mắc ảo cảm. Chân sư DK nói rằng trong nhiều kiếp sống, người cung 3 đã tự bảo vệ mình bằng những suy nghĩ không thành thật, tự lừa dối nên y hiếm khi có thể truyền tải được những gì mình muốn nói một cách rõ ràng cho người khác.

Người cung 4 thường tự đặt mình vào một tình huống khó khăn khi giải quyết vấn đề về ảo cảm. Y có xu hướng mang ảo tưởng xuống cõi trung giới rồi phải đối mặt với một vấn đề kép của ảo tưởng và ảo cảm gộp chung lại. Nhờ cuộc chiến khó khăn đó, người cung 4 sẽ thể hiện được bản chất thực sự của trực giác.

Người cung 5 ít bị ảnh hưởng bởi ảo cảm nhất bởi vì thể cảm dục dường như không kiểm soát được y. Y tự hào với hạ trí của mình, mắc kẹt trong thế giới của những vấn đề cụ thể và mang tính tri thức. Vì vậy, ảo tưởng là điều chính yếu mà y phải đối mặt, nhất là việc phải thừa nhận sự hiện diện của Bản thể cao hơn.

Người cung 6 rất khó nhận thức được sự tồn tại và kiểm soát của ảo cảm. Ảo cảm của người cung này thường đi kèm với năng lượng của sự dâng hiến, nên y bị mắc kẹt và dường như rất khó để thoát ra khỏi tình trạng này. Điều này cản trở tầm nhìn, làm cho việc xua tan ảo cảm trở thành một thử thách vô cùng khó khăn.

Người cung 7 có khả năng tạo ra những hình tư tưởng rõ ràng, chính xác, đầy thuyết phục về ảo cảm đang điều khiển y. Tuy nhiên, những ảo cảm này lại tự kết tinh và tan biến một cách nhanh chóng.

Hơn nữa, Chân sư DK còn đưa thêm danh sách các loại ảo cảm ứng với từng cung trong sách Bailey (GWP 120-123) nhưng lại không đưa ra bất kỳ chi tiết hay giải thích nào về các ảo cảm này. Thầy Michael Robbins là người đã phân tích chi tiết từng loại ảo cảm trong các webinar bình giảng sách GWP nhằm giúp những người môn sinh như chúng ta hiểu rõ về từng loại ảo cảm tương ứng với mỗi cung năng lượng. Tôi đã sử dụng tài liệu này (bản dịch của thầy Lâm Kiệt) để lập bảng tổng hợp bên dưới.

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, tôi thường tự hỏi rằng: những ảo cảm từ cung năng lượng phải chăng sẽ tương ứng với một tính chất cụ thể của cung đó? Ví dụ: người cung 2 nổi trội với việc thể hiện phẩm tính bác ái và minh triết một cách tự nhiên và dễ dàng nhất. Do vậy, ảo cảm của những người cung 2 gắn với phẩm tính bác ái là “ảo cảm về việc yêu thích được yêu” và với phẩm tính minh triết là “ảo cảm về minh triết cá nhân”. Bất cứ phẩm tính nào cũng có những biểu hiện cao thấp riêng biệt của nó. Nếu ảo cảm là một biểu hiện thấp của phàm ngã, thì tương ứng với nó cũng sẽ có một biểu hiện cao từ linh hồn. Tức là, khi ta có thể dùng ánh sáng của linh hồn chiếu rọi và làm xua tan đi ảo cảm, biểu hiện cao hơn của cung sẽ được hiển lộ. “Ảo cảm về việc yêu thích được yêu” sẽ trở thành việc biểu hiện tình thương một cách vô kỷ, không cần được biết đến hay báo đáp. “Ảo cảm về minh triết cá nhân” sẽ biến thành sự thấu hiểu rằng mỗi người trong một kiếp sống nhất định sẽ trải qua những bài học riêng mà linh hồn họ lựa chọn. Ta không thể mong cầu ai cũng phải trải qua những kinh nghiệm như bản thân mình và phải trải qua những điểu như thế mới là vĩ đại và đúng đắn. Vì lý do này, từ mỗi ảo cảm, tôi nghiên cứu để tìm ra những tính chất cung tương ứng với nó và một số cách khắc phục để xóa bỏ ảo cảm cũng như giúp cho phẩm tính cao của cung được biểu hiện (tham khảo từ cuốn sách Tapastry of the Gods I của thầy Michael Robbins).

ẢO CẢM CUNG 1

Loại ảo cảm

Mô tả ảo cảm

(Robbins, GWP – webinar 122)

Ảo cảm này đến từ đặc điểm nào của người cung 1?

(Robbins, Tapastry I 31-45)

Cách khắc phục ảo cảm

(Robbins, Tapastry I 31-45)

1) Ảo cảm của sức mạnh thể chất

Quá chú ý đến sức mạnh thể chất của phàm ngã (điều không thiết yếu) thay vì chú ý đến những điều thiết yếu hơn liên quan tới sự kết nối với linh hồn – hay cái tôi cao hơn.

Người cung 1 có khả năng phát triển một thể xác mạnh mẽ với sinh khí dồi dào dễ dàng hơn so với các cung khác. Tuy nhiên, nếu khía cạnh này được nhấn mạnh thái quá, ảo cảm về việc quá chú ý tới sức mạnh thể chất sẽ sinh ra.

Người cung 1 nên tận dụng tối đa khả năng của một thể xác mạnh mẽ. Tuy nhiên, phải nhớ rằng thể xác chỉ là vận cụ để linh hồn biểu hiện. Tập trung vào kết nối với linh hồn mới là điều người cung 1 cần hướng tới.

2a) Ảo cảm về từ tính cá nhân

Hay Ảo cảm “nhân vật ở trung tâm”

2b) Ảo cảm của sự tập trung vào phàm ngã và tiềm năng cá nhân

2a) Quá tập trung vào bản thân mà không chú ý vào lợi ích của toàn thể. Luôn thấy rằng mình là trung tâm của mọi thứ.

2b) Không lắng nghe linh hồn mà chỉ lắng nghe phàm ngã của mình. Phàm ngã điều khiển để ta thấy rằng phàm ngã có thể giải quyết và xử lý mọi chuyện. Tầm quan trọng và khả năng của phàm ngã bị phóng đại. Trong khi đó, tiếng nói từ linh hồn mới là thứ đáng được lắng nghe.

Người cung 1 có một ý thức mạnh mẽ về bản sắc cá nhân. Trên một vòng xoắn ốc cao, họ có niềm tin chắc chắn và đồng hóa bản thân vào giá trị tối cao của linh hồn. Họ không thấy gì trừ ĐẠI NGÃ trong mọi sự vật và tự đồng hóa mình với ĐẠI NGÃ đó. Ở vòng xoắn ốc thấp, họ lại không thấy điều gì trừ cái ngã nhỏ bé – phàm ngã. Nó tạo nên hiện tượng quá tập trung vào phàm ngã, khả năng của phàm ngã, nghĩ mình là trung tâm của mọi thứ ở những người cung 1 chưa phát triển.

Phải mở rộng tâm thức để biểu hiện đặc điểm của cung 1 theo vòng xoắn ốc của tâm thức cao. Tức là, ta phải ngày càng tăng cường sự tiếp xúc với linh hồn. Từ đó, ta sẽ tự nhận ra việc bản thân mình chính là linh hồn, là ĐẠI NGÃ và tự đồng hóa mình với những giá trị tối cao của linh hồn. Khi đó, vai trò của phàm ngã sẽ trở nên nhỏ bé và tiếng nói của cái ngã đó không thể làm lay chuyển ta.

3) Ảo cảm của tham vọng cá nhân ích kỷ

Bị mù quáng bởi tham vọng của chính mình. Tham vọng này chỉ nhằm phục vụ cho quyền lợi phàm ngã, chứ không phải lợi ích của tập thể.

Người cung 1 thường tham vọng không ngừng. Theo nghĩa tích cực, tham vọng có thể là động lực để dẫn tới thành tựu. Nhưng nếu tham vọng chủ yếu mang tính cá nhân ích kỷ, muốn đạt được mục tiêu bằng mọi giá thì chắc chắn sẽ có hại.

Để giải quyết tình trạng tham vọng cá nhân không ngừng, một lần nữa giải pháp là phải kết nối với linh hồn. Nếu tham vọng đứng từ góc độ cao, động lực đạt thành tựu cá nhân sẽ dần chuyển sang việc làm vì mục đích của tập thể. Khi đó, việc tham vọng không ngừng để hỗ trợ tập thể lại trở thành hữu ích.

4) Ảo cảm của sự cai trị, sự độc tài và kiểm soát rộng rãi

Hay ảo cảm của việc áp đặt ý chí lên những người khác và các Nhóm

Bạn nghĩ rằng mình là người duy nhất có vai trò quan trọng đối với tập thể. Bạn coi nhẹ vai trò của những người khác và tự động áp đặt ý chí của mình lên họ. Bạn muốn kiểm soát và áp đặt tư tưởng của mình lên tất cả mọi người. Đây là một hình thức đánh cắp ý chí và sinh lực của người khác.

Ví dụ: trong bàn cờ vua, quân vua sẽ là bất lực nếu như không có sự bảo vệ của các quân cờ khác.

Kiểm soát và đàn áp là một đặc điểm đặc trưng của người cung 1. Họ luôn áp đặt LUẬT mà họ cho là đúng lên những người khác, dù đó là những luật mang tính cá nhân hay ở tầm nhận thức cao hơn là những Định Luật Thiêng Liêng. Họ sẽ liên tục kiểm soát để tất cả những gì họ cho là thấp hơn họ (những người khác, những thể của họ, tư tưởng, cảm xúc của họ,…) đều phải tuân theo luật. Họ thậm chí dùng phương pháp đàn áp, miễn sao luật của họ được áp dụng.

Sự độc tài đến từ đặc điểm thiếu kiên nhẫn của người cung 1. Rõ ràng là, người cung 1 rất ghét bị cản trở và luôn tìm con đường ngắn nhất để đi tới mục tiêu. Do vậy, kiên nhẫn chờ đợi điều gì là hành động họ không bao giờ muốn phải làm. Dưới góc nhìn của phàm ngã, giải pháp dễ nhất đối với người lãnh đạo cung 1 thiếu kiên nhẫn là chế độ độc tài. Nhà độc tài có toàn lực áp đặt ý chí của mình lên người khác mà không cho phép bất kỳ sự chống đối nào.

Khi đạt đến những nấc thang tiến hóa cao hơn, người cung 1 sẽ có thể nhận thức, thi hành kỷ luật với bản thân và những người khác nhằm tuân theo các định luật tâm linh thiêng liêng. Họ vẫn sẽ dùng phương pháp kiểm soát và đàn áp nhưng chỉ áp dụng cho những người hay những hoàn cảnh vi phạm các định luật cao cả.

Chế độ độc tài như ta thấy không thể tồn tại được mãi. Sẽ luôn tồn tại một thế lực chống đối nào đó vì con người không thể chịu việc tự do ý chí của mình bị đàn áp. Vậy những người cung 1 thiếu kiên nhẫn, muốn độc tài đàn áp ý chí của người khác phải làm gì? Họ cần hiểu rằng thực ra chuyển động thẳng về phía trước của họ đôi khi sẽ gặp cản trở. Điều họ cần làm là tôi luyện bản thân để trở thành một người dễ thích nghi, tháo vát để định hướng lại một cách thông minh mỗi khi gặp trường hợp như vậy.

5a) Ảo cảm của vận mệnh ích kỷ, quyền thiêng liêng của các vị vua

5b) Ảo cảm về phức cảm Đấng cứu thế trong lĩnh vực chính trị

5a) Một lần nữa, bạn nghĩ rằng mình là người quan trọng nhất – như một vị vua. Trung tâm là nhà vua và những người khác phải tuân theo bạn. Tầm quan trọng của bản thân bạn bị phóng đại quá mức.

5b) Một lĩnh vực hẹp hơn của ảo cảm này xảy ra trong lĩnh vực chính trị. Bạn nghĩ rằng mình là người duy nhất có thể giải quyết được vấn đề chính trị của một đất nước. Bạn áp đặt và bỏ qua giá trị, sự cố gắng của những người khác.

Người cung 1 cũng rất dễ mắc vào cái bẫy của tính tự cao tự đại do họ có xu hướng phóng đại cái tôi của bản thân. Biểu hiện của điều này là:

  • Nghĩ quá tốt về bản thân so với người khác
  • Tự đặt bản thân cao hơn người khác
  • Đôi mắt chỉ tập trung vào cái ngã nhỏ bé của mình, nên giá trị thật của người khác bị bỏ qua và không được công nhận.

Chính vì tính kiêu ngạo và tự cho mình là hơn người khác, họ có xu hướng tự xem mình là người có vai trò quan trọng nhất trong tập thể, phải định hướng và kiểm soát những người khác. Các cá nhân cung 1 có xu hướng ngồi lên “ghế trên” một cách vương giả trên đỉnh cao của sự kiêu ngạo và hướng xuống người khác.

Hơn nữa, họ cũng có niềm yêu thích đặc biệt đối với quyền lực. Khi biểu hiện ở cấp độ thấp, đó chính là ham muốn cá nhân phải thâu tóm quyền lực và đứng trên người khác.

Để khắc phục xu hướng phóng đại khả năng và vai trò của bản thân, ta phải tự nhìn nhận một cách khách quan và đúng đắn hơn những ranh giới cá nhân của mình.

Khát vọng quyền lực luôn gắn với người cung 1 do họ có xu hướng tìm kiếm kết nối với nguồn quyền năng – nguyên lý sự sống. Tức là, nếu không kết nối được với các nguồn năng lượng tinh thần cao, người cung 1 sẽ nảy sinh một sự thèm muốn vô độ về các dạng quyền năng thấp, trần tục trong ba cõi thấp (hạ trí, cảm dục và vật lý). Thầy Michael Robbins có gợi ý về cách giải thoát duy nhất khỏi sự thèm muốn này là phải có niềm tin vững chắc, không lay chuyển về một nguồn cung cấp quyền năng vô tận. Ta chỉ có thể kết nối với nguồn lực cao siêu này khi ta sẵn lòng phụng sự, khiêm nhường vì các mục đích thiêng liêng của Thánh Đoàn và các Đấng cao cả.

6) Ảo cảm của sự hủy diệt

Thích thú với sự hủy diệt vì đó là cách để chứng tỏ quyền lực cá nhân chứ không phải vì tính hữu dụng của nó đối với Thiên cơ.

Người cung 1 gắn với sự hủy diệt. Ở một biểu hiện cao, sự hủy diệt là cần thiết để dọn đường cho những biểu lộ cao hơn của tinh thần.

Người cung 1 luôn tìm kiếm con đường ngắn nhất và nhanh nhất để tiến tới mục đích của mình. Do vậy, họ không cho phép bản thân bị ngáng chở. Họ sẵn sàng phá hủy những điều ngăn trở họ trên con đường, kể cả đó đáng ra là những điều mang tính xây dựng, cần phải giữ lại.

Ta phải hiểu rằng sẽ có những sự hủy diệt là vô minh nếu ta giải phóng quyền năng hủy diệt một cách thiếu khôn ngoan. Đôi khi, người cung 1 không cố tình phá hủy một số cấu trúc có lợi (ví dụ: các luật lệ, hành vi xã hội mang tính xây dựng,…) nhưng họ lại không lường trước hậu quả khi sử dụng năng lượng hủy diệt của mình. Ví dụ: một người lãnh đạo quyết thay đổi một điều luật nhưng không lường trước hậu quả của sự thay đổi đó sẽ tác động tiêu cực đến rất nhiều con người.

Ta phải cân nhắc để biết rằng phải hy sinh điều gì trước khi thực hiện một hành động hủy diệt nào đó, và sự hy sinh đó đã là ít nhất có thể hay chưa.

7) Ảo cảm về sự cô lập, cô đơn, tách biệt

Tự nhận thấy bản thân có khả năng và quyền lực riêng. Muốn tách biệt, không muốn chia sẻ khả năng của mình với những người khác vì sợ họ lấy cắp điều đó. Bạn hài lòng với sức mạnh của mình và quên đi tất cả những người khác.

Người cung 1 gắn liền với chủ nghĩa biệt lập, với biểu tượng là một thanh kiếm chia cắt. Những cá nhân cung 1 chưa tiến hóa chỉ nhìn thấy cái ngã nhỏ bé của mình, nên họ sống ích kỷ và không thấu hiểu được mối liên hệ giữa cái tôi của bản thân với tất cả cái tôi khác. Họ giữ mình tách biệt và nghĩ rằng họ là trung tâm của thế giới.

Một lần nữa, sự cô lập chỉ được hóa giải khi người cung 1 ngày càng tiếp xúc với linh hồn. Như đã nói rất nhiều ở trên, người cung 1 tiến hóa có khả năng thấy ĐẠI NGÃ ở trong mình và trong mọi sự vật khác. Khi đó, họ sẽ hòa mình vào tổng thể và phụng sự hết lòng vì tổng thể đó thay vì đứng biệt lập và chỉ nghĩ tới cái tôi nhỏ bé của mình.

ẢO CẢM CUNG 2

Loại ảo cảm

Mô tả ảo cảm

(Robbins, GWP – webinar 123)

Ảo cảm này đến từ đặc điểm nào của người cung 2?

(Robbins, Tapastry I 45-63)

Cách khắc phục ảo cảm

(Robbins, Tapastry I 45-63)

1a) Ảo cảm về việc yêu thích được yêu

Hay ảo cảm của sự nổi tiếng

1b) Ảo cảm về sự vô tư ích kỷ

1c) Ảo cảm của việc phụng sự ích kỷ

1d) Ảo cảm về sự tự hy sinh

1a) Tìm kiếm cảm giác tuyệt vời khi nhận được sự ngưỡng mộ từ người khác.

Sự ích kỷ xuất hiện trong thể cảm dục khi được đánh giáo cao, có một vị trí tốt trong lòng người khác.

Ý thức về tỷ lệ sai lệch: ý thức về bản thân choán ngợp tâm thức, ngăn cản người bị ảo cảm nhìn ra thế giới và thực sự thấy cái tôi của mình vốn rất nhỏ bé.

1b) Tự nhủ với bản thân: “Tôi không ích kỷ đâu. Tôi vô tư giúp bạn” nhưng bên trong lại mong đợi sự ngưỡng mộ, khen ngợi từ người được giúp.

1c) Thích được ngưỡng mộ vì ở vị thế của một người phụng sự.

1d) Tự hy sinh vì một động cơ ích kỷ nào đó (được chú ý, được công nhận, được hưởng nghiệp quả tốt,vv…) chứ không phải vì lợi ích cho toàn thể hay cho người khác. Đôi khi còn có thái độ trách móc khi người khác không ghi nhận công sức của mình.

Phẩm tính liên quan tới bác ái dù luôn được tìm thấy tiềm ẩn ở mọi người đến từ mọi cung, nhưng nó được thể hiện bộc phát và tự nhiên nhất ở những người cung 2.

Bác ái, tình thương liên quan đến cảm xúc. Do vậy người cung 2 biểu hiện thấp ở các ảo cảm liên quan đến việc trao đi tình thương, sự giúp đỡ nhưng lại phải có điều kiện là nhận lại được tình cảm, sự ngưỡng mộ, sự yêu thích từ người khác.

Cảm giác được yêu, được ngưỡng mộ, hay được nhiều người biết đến là cách để củng cố hình ảnh bản thân và sự tự tin bên trong. Tuy nhiên, ta phải hiểu rằng đây là một sự tìm kiếm bên ngoài, thuộc về phàm ngã. Điều ta cần là tìm kiếm được giá trị của chân ngã bên trong chính chúng ta. Linh hồn không cần sự kích thích từ bên ngoài, tự linh hồn đã là tình thương vô điều kiện. Khi ta chỉnh hợp và kết nối với linh hồn, ta có thể giải phóng nguồn năng lượng này. Nhu cầu kích thích từ bên ngoài (ảo cảm về nhu cầu tình cảm, sự ngưỡng mộ) sẽ tự động chấm dứt.

Cách thể hiện phẩm tính cao hơn của loại ảo cảm này là: như một nam châm vĩ đại, thu hút người khác tới phía ta để khuyến khích, chữa lành, phục hồi, cứu chuộc, thương yêu. Ta làm điều này một cách tự nhiên cho dù người khác nhìn nhận ta thế nào (thay vì thái độ của ảo cảm: tôi yêu bạn, đối xử tốt với bạn để tôi được ngưỡng mộ và được nhiều người biết tới). Ta quên đi cái tôi của bản thân, nhận ra những người khác như là linh hồn và yêu thương như những linh hồn với nhau.

2a) Ảo cảm về minh triết cá nhân

2b) Ảo cảm của sự tự thỏa mãn

2a) Không ý thức được rằng kinh nghiệm của bản thân rất hạn chế và mỗi người sẽ có bài học và quan điểm riêng. Do vậy, những người bị ảo cảm này tưởng rằng những gì mình trải qua thật vĩ đại và những người khác cũng phải giống như vậy.

2b) Cảm thấy thỏa mãn với những gì mình biết và hoàn thành trong cuộc sống. Hạnh phúc vì nghĩ rằng dường như họ đã nắm được mọi chân lý. Họ không biết rằng một ngày nào đó, họ phải vứt bỏ những thứ đó để đón nhận chân lý mới, đúng thực hơn.

Người cung 2 tiến hóa gắn chặt với cụm từ minh triết. Mong muốn đặc trưng của họ là đạt được tri thức thuần túy và chân lý tuyệt đối. Dù họ có đạt được hiểu biết nhiều và sâu rộng tới đâu, họ vẫn luôn hướng tới cái chưa biết, xa hơn, những đỉnh cao ít người đạt tới.

Ta cần hiểu rằng minh triết của bản thân còn hạn chế. Những người khác cũng có con đường riêng của họ để dần trở nên tiến hóa và minh triết hơn.

Ví dụ: Ta thấy ý thức của mình hiện chỉ đang đặt ở một cảnh giới phụ của cảnh giới hồng trần vũ trụ (cảnh giới thấp nhất của cõi giới vũ trụ). Vẫn còn vô kể những chân lý và ý thức sâu rộng hơn nữa mà không biết bao giờ ta mới đạt tới. Khi nghĩ tới điều này, ta thấy những hiểu biết của mình đúng chỉ là một hạt cát trên một sa mạc mênh mông.

3a) Ảo cảm của trách nhiệm ích kỷ

3b) Ảo cảm về phức cảm Đấng Cứu Thế trong giới tôn giáo và nhu cầu cho thế gian

3a) Thổi phồng trách nhiệm của mình với những người khác. Tham gia vào những việc không nên tham gia, tước đi của người khác cơ hội để tự họ học hỏi.

3b) Đặc biệt xảy ra đối với các huấn sư trong lĩnh vực tâm linh. Họ thấy họ biết tất cả các câu trả lời và các môn sinh của họ chỉ cần tới và họ sẽ giải quyết mọi thứ giúp. Họ sẽ là người dẫn các môn sinh tới với sự cứu rỗi một cách dễ dàng.

Người cung 2 là những người bao gồm tuyệt vời. Sự bao gồm của những người bị ảo cảm khác với những Đấng Hóa thân vĩ đại khi các Ngài biết bao gồm, phóng phát năng lượng chữa lành và cứu chuộc mà không bám chấp và không ảnh hưởng tới hoạt động của các Ngài.

Ta phải học được cách phân biện kỹ càng và khôn ngoan trước mọi tình huống. Trách nhiệm của ta đối với người khác nên có giới hạn tới đâu? Ta không nên cung cấp mọi thứ cho mọi người. Việc bao gồm và giúp đỡ người khác là tốt, nhưng khi tác động quá nhiều có thể làm cho người khác yếu đi vì không thể làm những điều đáng ra họ có thể tự làm.

Chìa khóa để giải phóng bản thân khỏi động lực thôi thúc muốn bảo vệ và gánh vác hộ trách nhiệm của người khác là niềm tin vào minh triết của linh hồn. Bất kỳ bài học gì mà người khác phải trải qua, dù đau khổ đến thế nào cũng là do linh hồn của họ lựa chọn để dấn thân và tiến hóa. Từ đó, ta sẽ có hành động khôn ngoan hơn là hành động một cách có vẻ yêu thương bề ngoài nhưng thiếu minh triết.

4) Ảo cảm về một hiểu biết quá hoàn hảo, do vậy phủ nhận hành động đúng đắn

Thái độ “Hãy cho tôi thêm một cuốn sách nữa trước khi tôi hành động”: Người mang ảo cảm này luôn muốn tìm hiểu nhiều thứ nhưng lại trì hoãn việc áp dụng những tri thức học được vào công việc phụng sự.

Có một kiểu người cung 2 nghiêng nhiều về khía cạnh minh triết có trí tuệ cao, rất thích nghiên cứu, thậm chí kiêu ngạo và khinh thường trí tuệ của những người kém mình. Họ miệt mài nghiên cứu hết chủ đề này tới chủ đề khác với mong muốn đạt được sự hiểu biết đầy đủ, trước khi sẵn sàng hành động.

Ta phải hiểu rằng hiểu biết đầy đủ là điều không thể. Chân lý dù có hoàn chỉnh với thể trí con người (dù có giác ngộ) tới đâu thì cũng vẫn không hoàn chỉnh và không tinh khiết đối với cái trí vĩ đại hơn như Trí của một Hành tinh Thượng đế hay Thái Dương Thượng đế,…

Những gì học và nghiên cứu phải được phân phối nhịp nhàng hoặc định kỳ. Nếu không, một sự tắc nghẽn lớn sẽ xảy ra, gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thể chất cũng như tâm lý của ta. Hãy bớt ham muốn tích lũy và đạt tri thức ích kỷ để tự cao tự đại. Hãy phụng sự và hành động nhờ những hiểu biết (dù còn hạn chế) mà mình đã đạt được.

5) Ảo cảm của sự than thân trách phận

Tập trung vào cảm xúc của bản thân. Hay tự thương hại chính mình thay vì hướng tình thương tới người khác để giúp đỡ họ. Luôn có cảm giác tự ti, bất lực, chán nản khi đối mặt với các hoàn cảnh khó khăn.

Người cung 2 nổi bật với sự thương hại, lòng trắc ẩn và sự đồng cảm. Khi linh hồn chưa kiểm soát được trọn vẹn, phàm ngã thường chỉ thấy chính nó và tập trung vào cái tôi bé nhỏ, tạo nên cảm giác choán ngợp và yếu đuối.

Hãy gia tăng sự tiếp xúc với linh hồn. Bắt đầu bằng việc hướng con mắt và tầm nhìn của mình ra ngoài trước những khó khăn của người khác. Phụng sự từ những việc nhỏ nhất. Sự tự tin của ta sẽ dần tăng lên, sự choán ngợp và yếu đuối cũng sẽ ít dần. Từ đó, sự thương hại bản thân sẽ chuyển thành lòng từ bi với người khác.

6) Ảo cảm về sự sợ hãi do bị nhạy cảm quá mức

Sợ hãi là một ảo cảm lớn mà cả hành tinh (nhân loại, động vật, kể cả thực vật) gặp phải. Nó khiến người gặp ảo cảm tự cô lập mình, không dám trải nghiệm cuộc sống. Thậm chí họ còn nghĩ họ không hề có khả năng hỗ trợ người khác.

Sự sợ hãi xảy ra với mọi người ở mọi cung. Tuy nhiên, nó đặc biệt dễ xảy đến với người cung 2 do họ vô cùng nhạy cảm, mềm yếu, dễ bị tổn thương. Họ như nam châm thu hút không chỉ những điều tích cực, mà còn rất nhiều điều tiêu cực khác, tạo nên nỗi sợ hãi thường trực.

Ta sẽ học các bài học để cuối cùng nhận ra rằng: tình thương là thứ năng lượng mạnh mẽ nhất, có thể vượt qua mọi sự đe dọa, nguy hiểm. Chính ta sẽ trở thành đường dẫn cho năng lượng tình thương. Cuối cùng, những cá nhân cung 2 tiến hóa sẽ trở nên tích cực, cứng cỏi và không sợ hãi.

ẢO CẢM CUNG 3

Loại ảo cảm

Mô tả ảo cảm

(Robbins, GWP – webinar 124)

Ảo cảm này đến từ đặc điểm nào của người cung 3?

(Robbins, Tapastry I 63-89)

Cách khắc phục ảo cảm

(Robbins, Tapastry I 63-89)

1) Ảo cảm về việc bận rộn

Bạn có xu hướng liên tục chuyển động, thực hiện một điều gì đó mặc dù các hành động này không thực sự cần thiết.

Các cụm từ mô tả người cung 3 thường là linh hoạt, tăng động, liên tục chuyển động, và vội vàng. Họ bị cuốn vào vòng xoáy liên tục của sự chuyển động và dường như không thể đứng yên. Những chuyển động này phần lớn vô nghĩa và không có định hướng, dẫn đến việc tiêu hao năng lượng vô ích.

Một hình ảnh dễ tưởng tượng là người cung 3 hoạt động ở phần ngoại vi của bánh xe (trong khi người cung 1 là trung tâm bánh xe). Do vậy tốc độ hoạt động của họ cũng như tốc độ phần ngoại vi là rất cao. Họ bận rộn liên tục vì yêu thích sự bận rộn nhiều hơn là hướng tới mục tiêu ý nghĩa nào đó.

Người cung 3 bận rộn cần suy nghĩ kỹ càng, với tình thương trong tim trước khi hành động. Sự tĩnh lặng là công thức tích hợp cho người cung 3. Thực tại và mục tiêu linh hồn giống như đáy một hồ nước, nó chỉ được nhận thức khi mặt hồ không bị khuấy động dù nước hồ có trong thế nào.

Tức là, sự năng động quá mức sẽ gây ra cản trở cho những nhận thức và kế hoạch của tinh thần. Sự bận rộn và bận tâm quá nhiều đến những điều không cần thiết sẽ ngăn trở sự chỉnh hợp và tiếp xúc tâm linh. Người cung 3 cần dừng lại, tránh đi vào lối mòn của các hoạt động liên tục theo thói quen, tạo cơ hội cho những nhận thức mới về tâm linh đi vào.

2a) Ảo cảm về cơ mưu linh hoạt

2b) Ảo cảm về việc hợp tác với Thiên cơ theo cách cá nhân chứ không theo cách tập thể

2a) Lập kế hoạch và tìm cách đạt được mục tiêu, ham muốn riêng của phàm ngã (đôi khi một cách bí mật) thay vì ưu tiên điều tốt nhất cho tập thể. Điều này hoàn toàn không có tính vị tha.

2b) Bạn nghĩ mình hiểu biết nhiều, thông minh và luôn muốn làm theo cách của mình. Bạn không muốn bị chậm lại vì phải chờ nhóm đưa ra quyết định. Việc hợp tác nhóm không phải là một điều dễ thực hiện với người cung 3.

Người cung 3 luôn không ngừng tạo ra cơ hội cho mình. Tức là họ luôn bị xoáy vào vòng quay của việc hoạt động quá mức và không bao giờ chịu chờ đợi mọi thứ xảy ra tự nhiên với mình. Họ lập kế hoạch bởi vì với họ, thà là làm điều gì không đúng lúc còn hơn là không làm gì.

Nhiều người cung 3 ích kỷ còn sẵn sàng thay đổi hoàn cảnh để phục vụ cho lợi ích cá nhân của mình, thay vì thích ứng với sự biểu lộ của Thiên cơ và phục vụ lợi ích của tập thể. Điều này giống như việc ép buộc và thao túng cuộc sống theo hướng vị kỷ, làm sai lệch đi bản thiết kế minh triết đúng đắn sẵn có.

Những người này cần nuôi dưỡng một thái độ chờ đợi một cách vị tha, để những kế hoạch của linh hồn có thể được thực hiện. Chỉ có sự kiên nhẫn được trau dồi mới giúp người cung 3 ngừng theo đuổi chủ nghĩa cơ hội – điều mà chỉ dẫn tới việc lãng phí năng lượng.

3a) Ảo cảm về công việc sáng tạo không có động cơ thúc đẩy đích thực

3b) Ảo cảm về các ý định tốt, mà căn bản là ích kỷ

3a) Bạn rất giỏi trong việc kết hợp nhiều thứ để tạo nên sản phẩm được cho là sáng tạo và mới mẻ. Tuy nhiên, sự kết hợp này không được hướng dẫn bởi linh hồn. Ví dụ: nhiều nhạc sĩ rất giỏi trong việc kết hợp nhiều âm điệu với nhau nhưng sản phẩm họ làm ra lại không phản ánh vẻ đẹp của linh hồn. Họ rất dễ bị lạc lối.

3b) Thực hiện một hành động nào đó nhưng vì một động cơ ích kỷ. Bạn tự lừa dối mình việc bạn làm là tốt cho người khác nhưng thực ra là vì động cơ riêng của bạn. Ví dụ: đi làm từ thiện vì muốn được người khác công nhận.

Đây là cung của sự sáng tạo linh hoạt, nên tất nhiên khả năng sáng tạo của người cung 3 là rất dồi dào. Họ có một trí tuệ sắc bén nhưng trí tuệ đó đang phục vụ cho điều gì thì thường không được họ xem xét. Điều mà người cung 3 đặt trọng tâm thường là họ đã xuất sắc trong công việc của họ thế nào, thay vì đặt câu hỏi về giá trị đạo đức của những gì họ đang làm.

Ví dụ: một người là giám đốc phụ trách marketing cho một công ty thuốc lá. Y dùng hết trí tuệ và sự nhanh nhạy của mình để nghĩ ra mọi cách giúp cho doanh số bán thuốc lá tăng lên. Y không hề phân biện xem việc bán thuốc lá đang tác động tiêu cực thế nào đối với người tiêu dùng. Y sáng tạo và thành công trong công việc nhưng lại bị thúc đẩy bởi mục tiêu ích kỷ và không đúng đắn.

Giải pháp là người cung 3 phải phân biện rất nhiều về những hoạt động sáng tạo của mình. Những gì y làm đang phục vụ cho mục đích gì? Giúp cho lợi ích gì của cả tập thể? Y cần hiểu rằng trí tuệ có thể tự đáp ứng được hai phẩm tính thiện và ác. Tự trí tuệ không có đạo đức, nên việc quá chú ý về mặt trí tuệ không đảm bảo những kết quả tạo ra là có ích. Y cần sử dụng trí thông minh của mình kèm với tình thương và đạo đức đúng đắn.

4a) Ảo cảm “con nhện ở trung tâm”

4b) Ảo cảm của “vị thần trong cỗ máy”

4a) Bạn muốn trở thành một con nhện giăng tơ. Bạn ở trung tâm và chờ người khác rơi vào cái bẫy mình răng ra. Tức là, bạn thao túng và giải quyết mọi thứ, chứng minh cho người khác thấy bạn là người biết rất nhiều. Bạn làm cho người khác phải dựa dẫm vào mình vì bạn làm mọi điều cho họ thay vì để họ hoàn thành trách nhiệm của mình.

4b) Vị thần trong cỗ máy xuất phát từ một vở opera cổ xưa. Mọi người đang gặp loạn và tự nhiên ở đâu xuất hiện một cỗ máy. Trong đó, vị thần đi ra và giải quyết mọi thứ cho tất cả mọi người. Và đó chính là ảo cảm muốn giải quyết hết mọi vấn đề cho người khác, làm cho họ mất khả năng tự giải quyết vấn đề của chính mình.

Người cung 3 có đặc điểm là rất tự hào về trí tuệ mình sở hữu. Sự thực là họ thường có một trí tuệ linh hoạt, nhanh nhẹn và sâu sắc. Tuy nhiên, hai ảo cảm này sẽ xảy đến nếu sự tự hào về trí tuệ đi kèm với đặc điểm thích thao túng người khác (họ có một trí tuệ linh hoạt nên làm được điều này một cách dễ dàng).

Tức là, cách để họ thể hiện phàm ngã của mình là qua việc tính toán, thao túng để thể hiện được sự thông minh, nhanh nhẹn, trí tuệ linh hoạt của mình với người khác.

Ảo cảm này khá giống với ảo cảm về trách nhiệm ích kỷ của người cung 2, vì vậy cách giải quyết ảo cảm này cũng tương tự như vậy (đã trình bày phía trên).

4c) Ảo cảm về việc thao túng liên tục và không ngay thẳng

4c) Bạn là người “giật dây đằng sau hậu trường”. Tức là bạn lập kế hoạch, sắp xếp mọi điều cho kế hoạch nhưng lại để phục vụ mục tiêu ích kỷ của riêng bạn, chứ không phải vì lợi ích toàn thể. Ví dụ: các chính trị gia vận động hành lang. Bạn không biết họ đang thao túng điều gì để đạt được mục đích họ muốn. Phe hắc đạo cũng hoạt đọng theo lối tương tự. Nhiều điều tồi tệ xảy ra vì nhóm này đang thao túng mọi thứ đằng sau.

Người cung 3 sở hữu một trí tuệ vô cùng linh hoạt, nên đôi khi có xu hướng tính toán và thậm chí thao túng người khác. Cụ thể, họ sử dụng người, áp đặt theo lối thông minh để người khác làm những điều họ mong muốn.

Họ luôn biết phải làm gì hoặc nói gì để “điểm huyệt người khác”, sau đó khơi gợi ra phản ứng mà họ mong muốn ở người đó. Điều này cho thấy họ rất thiếu sự tin tưởng vào lòng tốt bẩm sinh của con người. Đây là cách giật dây mà những người theo phe hắc đạo thường làm.

Ta phải nuôi dưỡng bên trong sự tin tưởng vào giá trị và tấm lòng tốt đẹp của con người, và sự minh triết của hoàn cảnh cuộc sống. Khi người cung 3 có thể dự đoán được điều xảy ra và có khả năng lèo lái để có lợi cho bản thân, y nên ý thức được, dừng tính toán và để mọi thứ diễn ra một cách tự nhiên. Y phải hiểu rằng linh hồn của y và linh hồn của những người y thao túng sẽ thực hiện mọi thứ tốt hơn những tính toán từ phàm ngã của y rất nhiều.

5) Ảo cảm của sự tự cao về hiểu biết và năng lực bản thân

Có hai loại người mắc ảo cảm này.

  1. Bạn tự cao về trí tuệ và năng lực của bản thân mình.

Bạn tự cao và luôn sống trong những suy nghĩ cao siêu nhưng không thể áp dụng vào thực tế. Đầu bạn đầy những ý tưởng và kế hoạch nhưng bạn không thực hiện bất kỳ ý tưởng nào trong số đó.

1) Người ở mỗi cung sẽ sở hữu những đặc điểm giúp họ làm một số việc nhất định tốt hơn người trên các cung khác. Người cung 3 (cung thông tuệ và linh hoạt) có khả năng suy nghĩ và ăn nói trôi chảy, khéo léo. Do vậy, khi vẫn còn tập trung nhiều vào cái tôi nhỏ bé, họ có xu hướng mạnh mẽ trong việc thể hiện và phô diễn khả năng trí tuệ của mình với người khác.

  • Kiểu cung 3 trừu tượng: tự cao vì họ giỏi và hiểu được các khái niệm trừu tượng.
  • Kiểu cung 3 vật chất: tự hào vì họ có vẻ “thông minh” hơn trong việc kiếm tiền.

Do có sự tập trung quá vào hoạt động trí tuệ và sự tự hào về nó, người cung 3 gặp ảo cảm này tạo ra một khoảng cách lớn với thực tế cuộc sống. Cảm xúc và những gì phi trí tuệ đều bị họ đánh giá thấp và bỏ qua.

2) Người cung 3 say sưa với các hoạt động tâm trí, đến nỗi mà họ rất dễ bị suy nghĩ một cách vô ích. Vô ích là kết quả khi cung 3 hoạt động quá mức và tổ chức kém.

1) Nếu chỉ sử dụng trí tuệ không thì ta mãi mãi không thể nhìn thấy sự thực. Còn rất nhiều yếu tố khác quyết định như tình thương, ý chí, nghị lực,…Khi tâm thức mở rộng và trải qua các bài học cuộc sống cần thiết, người cung 3 tự kiêu về trí tuệ của mình sẽ nhận ra và đạt được sự khiêm tốn cần thiết.

Trí tuệ chỉ có thể hoàn thành vai trò thực sự của nó, nếu nó trở thành công cụ hỗ trợ một tâm thức linh hồn đã thống nhất. Trí tuệ cần được sử dụng để phục vụ cho ánh sáng, giúp cho những người khác sống một cách thông minh và linh hoạt hơn. Thay vì tự cao về trí tuệ của mình, người cung 3 nên tự hào khi giúp những người khác học hỏi, suy nghĩ rõ ràng và tốt đẹp hơn.

2) Giải pháp là hãy chuyển suy nghĩ thành hành động thông minh. Lý giải theo cách nội môn, năng lượng không thể chỉ tập trung ở luân xa cổ họng, mà phải được phân phối đến các luân xa khác. Nếu năng lượng chỉ tập trung ở một luân xa thì sẽ dẫn đến sự quá tải, hoạt động quá mức ở luân xa đó. Nếu suy nghĩ quá nhiều, ta phải tự bắt mình hành động, cho dù các hành động ban đầu có thể vô nghĩa và không chắc chắn lắm.

ẢO CẢM CUNG 4

Loại ảo cảm

Mô tả ảo cảm

(Robbins, GWP – webinar 127)

Ảo cảm này đến từ đặc điểm nào của người cung 4?

(Robbins, Tapastry I 89-123)

Cách khắc phục ảo cảm

(Robbins, Tapastry I 89-123)

1) Ảo cảm về sự hài hoà, nhắm vào tiện nghi và sự thoả mãn cá nhân

Bạn sở hữu những kỹ năng để tạo ra sự hài hoà, nhưng những kỹ năng này không phục vụ mục đích cao cả của linh hồn mà để thực hiện những ham muốn riêng của phàm ngã bạn.

Người cung 4 có một đặc tính là quá háo hức để thoả hiệp. Tức là, họ muốn có sự hài hoà ngay tức khắc vì không thể chịu đựng được sự xích mích và căng thẳng kéo dài. Thậm chí, ngay cả khi họ biết việc thoả hiệp để đạt được sự hài hoà này vi phạm những nguyên tắc đúng đắn về mặt tinh thần, họ vẫn nhượng bộ và tạm thời bỏ qua nguyên tắc của mình. Đây là một loại ảo cảm muốn đạt đến sự hài hoà, nhưng lại để phục vụ mục đích của phàm ngã chứ không phải mục tiêu của linh hồn.

Ví dụ: trong giai đoạn đầu trước cuộc chiến tranh thế giới thứ 2, thủ tướng Anh Neville Chamberlain đã nhượng bộ Hitler vì sợ sẽ phải đối mặt với một cuộc chiến dù khi đó Hitler đã vi phạm nguyên tắc đạo đức không thể bỏ qua. Để rồi, thế giới đã phải đối mặt với sự căng thẳng còn khủng khiếp hơn sau đó.

Giải pháp cho ảo cảm này là việc trau dồi khả năng đối mặt với những căng thẳng, bất hoà, xích mích… khi ta có đủ lý do để hành động và không thể nhượng bộ. Sự thoải mái của việc nhượng bộ chỉ là tạm thời, và việc thoả hiệp đó là sự xấu hổ khi chào thua trước cái ác. Nếu thoả hiệp thì cuối cùng người đó sẽ phải nhận lại sự đau đớn và thậm chí phải đối mặt với một sự bất hoà khủng khiếp hơn do sự thoả hiệp không khôn ngoan.

Một công cụ hỗ trợ cho khả năng sẵn sàng đối mặt và không thoả hiệp là suy nghĩ về sự công bằng. Người cung 4 dễ dàng tuân thủ được nguyên tắc về sự công bằng (tức là mọi người đều xứng đáng được nhận một sự đối xử như nhau). Khi có xu hướng tìm kiếm sự thoả hiệp thiếu không ngoan để thoát khỏi sự căng thẳng vây quanh, hãy xem xét tới khía cạnh công bằng để có thêm sức mạnh và động lực đối mặt và giải quyết mâu thuẫn.

2a) Ảo cảm về chiến tranh

2b) Ảo cảm về sự xung đột, nhằm lập lại sự công chính và hoà bình

2a) Bạn hiếu chiến, vui sướng vì được chiến đấu (như một dạng bản năng trong bạn) và luôn mong muốn được chiến thắng người khác thay vì xem họ như những linh hồn của một tổng thể lớn. Câu châm ngôn của bạn là “Tôi chiến đấu, vì vậy tôi tồn tại”.

2b) Bạn mong muốn xây dựng một nền hoà bình và công chính, nhưng phương tiện bạn lựa chọn lại là xung đột trong khi còn nhiều cách khác để đạt được mục tiêu này. Điều này chứng tỏ bạn thích và ưu tiên việc chiến đấu hơn là mục đích đạt tới hoà bình. Một ví dụ điển hình của người gặp ảo cảm này là Alexandre Đại Đế (chinh phục Ba Tư, sau đó trở thành người Ba Tư, hợp nhất với họ nhưng tất nhiên vẫn là người cai trị họ).

Đúng với cái tên của cung 4 “cung hài hoà thông qua xung đột”, người thuộc cung này liên tục bị cuốn vào chiến tranh (theo nghĩa bóng) và các cuộc xung đột cả bên trong lẫn bên ngoài. Biểu hiện của xung đột bên ngoài có thể là việc họ gặp khó khăn khi hoà nhập với những người xung quanh, hay họ thấy môi trường không cho phép họ tự thể hiện bản thân mình. Ở cấp độ bên trong, có thể là các tư tưởng mâu thuẫn với nhau, tư tưởng đối nghịch với cảm xúc và thôi thúc, phàm ngã đấu với linh hồn, một loại năng lượng nào đó cố chiếm ưu thế so với loại năng lượng khác.

Dù là bên trong hay bên ngoài, họ nhìn cuộc sống của mình tràn ngập trong sự chiến đấu, rắc rối, căng thẳng, gắng sức tới mức họ hiếm khi đạt được sự bình yên bên trong. Chân sư DK có ví cuộc sống của người cung 4 như sau “các mãnh lực đối lập trong bản chất làm cho cuộc sống người cung 4 trở thành một cuộc chiến tranh liên miên và bất ổn” (Bailey, EP I – 206).

Tuy nhiên chính bản thân người cung 4 lại cảm thấy cuộc sống kiểu này có phần thú vị. Họ thấy phải chiến đấu và trải qua nỗi đau, thì họ mới thấy mình đang sống. Chính vì liên tục mất năng lượng cho những mâu thuẫn và bất ổn, tâm trí họ bị rối loạn, làm che đi tầm nhìn và mục tiêu của tinh thần.

Người cung 4 phải hiểu rằng: chiến tranh chắc chắn vẫn sẽ tồn tại trong đời sống của họ. Tuy nhiên, họ có thể chọn cách không đứng về phe nào, mà chọn đứng ở giữa và tự nhận ra tiềm năng của cả hai bên. Họ phải hiểu rằng việc mất cân bằng và liên tục nghiêng sang bên này rồi bên kia chỉ làm họ mất năng lượng, và sự hài hoà không thể xảy ra. Hãy hướng tới sự cân bằng, đứng ở trung tâm một cách kiên định trong mọi cuộc xung đột. Khi đó, hai bên tham chiến sẽ được kéo lại gần và cùng nhau hợp tác.

3a) Ảo cảm với nhận thức mơ hồ mang tính nghệ thuật

3b) Ảo cảm về nhận thức âm nhạc

3a) Bạn khó có thể làm việc với thế giới một cách thực tế, mà luôn sống trong một thế giới mơ ước không thực tế nào đó. Trong thế giới đó, bạn tìm kiếm vẻ đẹp mơ hồ. Việc này làm cho bạn khó có khả năng làm việc hiệu quả giúp cho sự hiển lộ của Thánh Đoàn tới gần hơn với nhân loại.

3b) Bạn đang đi trên con đường tâm linh, nhưng bị kiểm soát bởi thứ âm nhạc luôn diễn ra trong đầu, dẫn đến một đời sống xa rời thực tế. Bạn bỏ qua thực tế cuộc sống, và chỉ sống trong thế giới mỹ lệ của riêng mình.

Cung 4 thường là cung của nghệ sĩ hay những người làm nghệ thuật. Vài đặc điểm ta hay nhận thấy ở những người này là sự thất thường, cảm xúc không ổn định, hay thay đổi, đầy “nghệ sĩ tính”. Điều này dẫn đến việc họ thường cho mình đặc quyền sống trong một thế giới tưởng tượng của riêng họ, xa rời thực tế đời sống.

Họ thường tự biện minh là nghệ sĩ thì phải sống như vậy mới có cảm hứng để sáng tạo nghệ thuật. Từ đó, họ trở nên khá kém cỏi trong việc xử lý các vấn đề thực tế.

Cuối cùng, những người thiên về nghệ thuật thuộc cung 4 phải học cách diễn đạt bằng hình tướng – điều đòi hỏi nhiều tính thực tế. Tức là, nếu những thôi thúc nghệ thuật là đích thực và được truyền cảm hứng từ những bản thể cao hơn phàm ngã, người nghệ sĩ sẽ có xu hướng đưa những sản phẩm (xuất phát từ trí tưởng tượng của mình) ra ngoài để công chúng có thể nhận được lợi ích theo một cách nào đó. Nghệ thuật sẽ được coi như một hình thức phụng sự, và điều này sẽ chỉnh sửa lại quan điểm sai lệch muốn buông thả bản thân của những nghệ sĩ thuộc cung 4.

4) Ảo cảm về nhận thức bằng khả năng thông linh thay vì trực giác

Bạn quá quan tâm và bị cuốn vào những hình ảnh của cõi trung giới. Những hình ảnh này luôn thay đổi và có xu hướng ngăn trở bạn tới với ánh sáng của thực tại. Bạn phải hiểu rằng khả năng thông linh không phải là trực giác.

Một đặc điểm nổi bật của người cung 4 là họ sở hữu một trí tưởng tượng và trực giác mạnh mẽ. Tức là, họ có xu hướng suy nghĩ bằng hình ảnh trực quan, cùng với trí tưởng tượng, họ tiếp nhận một hình ảnh truyền tải tư tưởng gần như ngay lập tức. Đó là cách trực giác hoạt động.

Tuy nhiên, khả năng này cũng có hai mặt của nó. Thay vì tiếp nhận những hình ảnh từ cõi cao hơn, người cung 4 có thể được nhận những hình ảnh từ cõi trung giới và bị vướng mắc vào những tư tưởng thấp mà các hình ảnh đó truyền tải. Đây là ảo cảm mà một người cung 4 dễ gặp phải.

Điều cần thiết là ta phải biết phân biện được đâu mới là hình ảnh và tư tưởng từ các cõi cao, và đâu là từ các cõi thấp. An toàn nhất là việc đi theo những giáo lý truyền tải chân lý đúng đắn, giúp ta trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình và phụng sự người khác.

5) Ảo cảm về các cặp đối nghịch theo ý nghĩa cao

Bạn bị kẹt trong cuộc xung đột giữa phàm ngã và linh hồn nhưng bạn lại thích thú về điều này. Bạn say sưa sống với hình ảnh mình là chiến binh, chiến đấu không ngừng giữa các xung lực cao và thấp mà quên đi rằng mình phải giải quyết cuộc xung đột, tiến tới sự hoà hợp và hoà bình bên trong.

Bản chất của người cung 4 luôn bị dao động giữa các cặp đối nghịch, và một cặp đối nghịch quan trọng nhất mà người tìm đạo nào cũng phải đối mặt là giữa phàm ngã và linh hồn. Lúc đó, người cung 4 sẽ rơi vào tình trạng thiếu quyết đoán và do dự không biết nên nghiêng về bên nào. Đây là vấn đề về sự dao động liên tục, thiếu quyết đoán và do dự của người cung 4.

Để đối mặt với cuộc chiến giữa các cặp đối nghịch, người cung 4 trước tiên phải phân biệt được hai kiểu đối lập:

  • Ta buộc phải lựa chọn một phương án thay cho phương án kia.
  • Ta có thể đứng giữa và lựa ra những điều tốt nhất của cả hai phương án, mà không thực sự chọn phương án nào.

Nếu là kiểu thứ nhất, tất nhiên ta cần chọn đi theo linh hồn, dù sẽ rất đau khổ khi phải rời xa những thói quen đã từng khắc sâu trong mình. Ta phải hiểu rằng giá trị lớn hơn luôn bao hàm giá trị nhỏ hơn. Linh hồn luôn bao gồm phàm ngã. Phàm ngã tạm thời mất đi sẽ nhanh chóng hồi sinh trở thành công cụ cho linh hồn.

Nếu là kiểu thứ hai, cách khôn ngoan nhất là ngừng dao động giữa hai cực, và đứng vững ở vị trí trung tâm. Khi đó, ta dùng từ tính hoà hợp để dung hoà hai sự lựa chọn.

ẢO CẢM CUNG 5

Loại ảo cảm

Mô tả ảo cảm

(Robbins, GWP – webinar 128)

Ảo cảm này đến từ đặc điểm nào của người cung 5?

(Robbins, Tapastry I 123-145)

Cách khắc phục ảo cảm

(Robbins, Tapastry I 123-145)

1) Ảo cảm của trí tuệ

Bạn coi trí tuệ là phương tiện duy nhất để hiểu biết thực tại, trong khi còn rất nhiều phương cách khác như cảm xúc, trực giác. Nếu ta quá coi trọng trí tuệ và bỏ qua các yếu tố khác, ta sẽ chìm trong ảo cảm trí tuệ này.

Nhắc đến người cung 5 là nhắc tới trí cụ thể. Một người bị ảnh hưởng mạnh của cung 5 thường chỉ tập trung vào hạ trí, và bỏ qua các thể khác.

Do vậy, người cung 5 mắc phải một cái bẫy của “chủ nghĩa trí tuệ cực đoan”. Cái trí có thể là kẻ tiết lộ sự thật, nhưng cũng có thể là kẻ giết chết sự thật nếu như nó không được sự soi sáng bởi linh hồn. Việc chỉ tập trung vào cái trí, loại bỏ mọi khía cạnh khác tạo nên một tình trạng nguy hiểm – giảm khả năng ghi nhận và truyền xung lực bác ái, thậm chí dẫn đến “con đường tà đạo”.

Có một điều nguy hiểm nữa của việc chỉ sử dụng cái trí như một công cụ duy nhất để hiểu về thế giới bên trong cũng như bên ngoài. Đó là khi cảm giác và trực giác bị bỏ qua. Chính sự logic, hợp lý quá mức của cái trí phá hủy tính tự phát, sự sáng tạo, sự trân trọng những điều tốt đẹp trong đời sống. Cuộc sống trở nên vô cảm, máy móc.

Việc quá tập trung vào trí cụ thể thường gắn liền với sự chia rẽ. Thể trí phải là công cụ để kết nối phàm ngã và linh hồn – một trung gian của sự hợp nhất chứ không phải sự chia tách. Người cung 5 phải thật cẩn thận, đặc biệt khi bước vào con đường huyền bí, trong việc đảm bảo rằng cái trí không trở thành trở ngại cho sự phát triển tình thương của linh hồn. Theo sách Bailey (DINA I, 542), cung 5 phải là cung của tình thương thông minh.

Hơn nữa, việc phân tích quá mức mà người cung 5 thường mắc khi quá tập trung vào trí tuệ cần phải được nhường chỗ cho trực giác. Khi nhận thức các thực tại tâm linh, việc tư duy một cách quá logic và tuyến tính là một trở ngại. Việc tư duy này phải được thay thế bằng “tri thức trực tiếp và mang tính tổng thể”.

2) Ảo cảm về kiến thức và định nghĩa

Bạn giới hạn thực tại cuộc sống bằng những thuật ngữ trí tuệ hạn hẹp. Những thuật ngữ này chỉ nên là công cụ chứ không thể là toàn bộ sự thật. Nếu bạn bị vướng vào ảo cảm này, nó giống như bạn chỉ coi trọng tấm bản đồ chứ không chú ý gì đến địa hình thực tế của khu vực bạn muốn tìm hiểu. Bản chất thực sự và giá trị của sự quan sát thường dễ bị bỏ qua khi mắc ảo cảm này.

Người cung 5 sở hữu một năng lực định nghĩa phi thường. Năng lực định nghĩa là khả năng phân biệt, tức là phát biểu ra được “nó là gì và nó không phải là gì”. Người cung 5 giỏi trong việc này vì họ có thể tập trung cao độ vào một lĩnh vực cụ thể, khám phá được một cách chính xác cách lĩnh vực này hoạt động thế nào và nó khác với các lĩnh vực khác ra sao.

Tuy nhiên, khi việc định nghĩa đi quá đà sẽ tạo ra một sự chia rẽ và phân mảnh. Sự tổng hợp nối liền mọi thứ với nhau bị thiếu, dẫn đến việc không thể tiếp nhận toàn bộ sự thật. Do vậy, người cung 5 luôn phải chú ý đến việc định nghĩa (phân tích mọi thứ một cách phân mảnh) phải diễn ra trong lĩnh vực của sự tổng hợp.

3a) Ảo cảm về hình tướng che giấu thực tại

3b) Ảo cảm về cái bề ngoài che giấu cái bên trong

3c) Ảo cảm về vật chất hay việc quá chú trọng vào sắc tướng

3a) Đây là ảo cảm cơ bản nhất của cung 5. Bạn quá tập trung vào hình tướng mà quên đi linh hồn – thứ mà hình tướng đang che giấu. Trong những công thức tích hợp phàm ngã – linh hồn của cung 5, lúc nào yếu tố “bỏ lại nỗi ám ảnh với hình tướng” cũng được nhấn mạnh. Đó là một điều khó khăn với người cung 5.

3b) Bạn bị mù quáng. Bạn chỉ nhìn thấy một phần của tổng thể nhưng lại đánh giá quá cao phần đó, dẫn đến việc không nhìn thấy đúng thực tại của sự vật.

3c) (Tính chất sao Hoả) Bạn quá chú trọng vào vật chất và bỏ qua phần khác lớn hơn của cuộc sống. Tức là, bạn đang mắc vào việc coi trọng một phần hơn là giá trị của tổng thể.

Việc tập trung vào hình tướng đến từ một đặc điểm của người cung 5 – là quá phụ thuộc vào các giác quan. Họ chỉ tin vào các thông tin được cung cấp bởi 5 giác quan thông thường. Với họ, kiến thức thần học và siêu hình học thường là những kiểu kiến thức không hoàn hảo. Đây là một kiểu trí tuệ duy vật của người cung 5, phủ nhận hoàn toàn sự thật về những chiều kích vô hình, mang tính tâm linh của con người.

Chính vì phụ thuộc vào các giác quan và trí cụ thể, nên họ thiếu sự nhạy bén với các ấn tượng trực giác. Các suy nghĩ và hình tư tưởng của họ quá cứng rắn, cụ thể, tạo thành bức tường ngăn cách họ với các ấn tượng trực giác vi tế hơn. Kể cả khi ấn tượng trực giác có thể xuyên qua được bức tường hình tư tưởng, thì chúng cũng dễ bị người cung 5 loại bỏ, cho rằng chúng không có thực, phi lý và sai lầm.

Người cung 5 phải tìm cách vượt qua được quan niệm rằng sự thật chỉ được nắm bắt thông qua các giác quan. Đó thực sự chỉ là hình tướng bên ngoài. Họ phải hiểu rằng vượt lên trên thế giới của các giác quan là các chiều kích cao hơn, đáng khao khát hơn.

Để vượt qua được sự bám chấp về hình tướng, họ phải học cách đón nhận ấn tượng từ trực giác bằng việc thả lỏng thể trí cụ thể của mình. Rào cản của suy nghĩ và hình tư tưởng cứng nhắc phải được dọn sạch để ấn tượng trực giác có thể xuyên qua. Họ có thể thực hành bằng việc tránh suy nghĩ theo các cách thông thường của họ, hoãn việc phán xét và chỉ trích suy nghĩ mới cho đến khi có đủ thời gian để chứng minh những ấn tượng mới đó là hữu dụng hay vô ích. Thầy Michael Robbins có đưa ra ví dụ rằng nhiều nhà khoa học cung 5 đã làm việc theo cách này. Họ dừng việc công kích những ý tưởng có vẻ phi lý khi chúng xuất hiện, và nhờ đó đã đạt được những hiểu biết bất ngờ. Dần dần, sự cản trở của các suy nghĩ cứng nhắc sẽ trở nên yếu đi và chúng đỡ chống đối ấn tượng của trực giác hơn.

4) Ảo cảm về sự đảm bảo dựa vào quan điểm hẹp hòi

Ảo cảm này rất dễ xảy ra với người cung 5 và cung 6. Khi hai cung kết hợp sẽ tạo ra những thứ như giáo điều và thần học thái quá. Khi gặp ảo cảm này, bạn chỉ nhìn thấy một phần nhưng lại tin đó là tất cả. Bạn chỉ nhìn vào một khía cạnh, nhưng lại như thể biết chắc chắn về điều đó.

Người cung 5 khá hạn hẹp và định kiến. Người ta thường nói: những người cho là mình đã ‘biết’ thường khó dạy bảo. Họ tiếp nhận kiến thức không phải dựa trên đức tin hay cảm xúc mà bằng lý luận, nên họ thường rất chắc chắn về những gì họ tiếp nhận. Do vậy, quan điểm của người cung 5 là gần như không thể công kích hay thay đổi được.

Tuy nhiên, vấn đề là họ chắc chắn về lĩnh vực họ biết và loại bỏ tất cả những điều còn lại. Trí tuệ của họ chỉ tập trung vào những gì mà họ chắc chắn và thường đánh giá không công bằng đối với những gì nằm ngoài phạm vi chắc chắn của họ.

Người cung 5 phải học cách để mở rộng phạm vi hiểu biết của mình, sẵn sàng tiếp thu những điều nằm ngoài lĩnh vực mà họ là chuyên gia. Khi được tiếp xúc với nhiều khía cạnh và góc nhìn khác nhau, sự cố chấp và quan điểm hẹp hòi của họ có thể được khắc phục.

5) Ảo cảm về sự tổ chức và phân loại

Việc mắc ảo cảm này giống như khi bạn học về sinh học. Bạn thấy cái loài thực vật hay động vật được phân loại thành các chủng, nhóm…rất tỉ mỉ. Và người cung 5 có xu hướng sắp xếp mọi thứ bạn nhận thức được theo một trật tự nhất định. Tuy nhiên, rất nhiều điều hòa trộn, sát nhập với nhau chứ không thể phân chia tách biệt một cách rõ ràng. Bạn cần tôn trọng và xem xét cả những sự pha trộn và hòa nhập đó.

Cung 5 gắn với một khả năng minh bạch rõ ràng. Người cung 5 có thể giải thích và sắp xếp mọi thứ một cách tuần tự, logic, dễ hiểu. Trí cụ thể phát triển mạnh giúp họ có thể phân tách mọi thứ thành các mảnh nhỏ để phân tích và giải thích.

Tuy nhiên, cũng giống như ảo cảm về việc định nghĩa, khi việc phân tách và sắp xếp mọi thứ đi quá đà, sự kết nối giữa các mảnh ghép bị phân tách sẽ bị mất đi. Việc phân loại và tổ chức mọi thức vẫn phải được chú ý để diễn ra trong sự tổng hợp.

ẢO CẢM CUNG 6

Loại ảo cảm

Mô tả ảo cảm

(Robbins, GWP – webinar 129)

Ảo cảm này đến từ đặc điểm nào của người cung 6?

(Robbins, Tapastry I 145-167)

Cách khắc phục ảo cảm

(Robbins, Tapastry I 145-167)

1) Ảo cảm của sự sùng kính

Sùng kính là một tính chất tích cực, được biểu hiện bởi linh hồn và thậm chí là chân thần (được gọi là Chúa Tể của sự sùng kính không ngừng nghỉ). Tuy nhiên, với những người cung 6 mắc ảo cảm, sự sùng kính này đi quá đà. Tầm nhìn bị thu hẹp, làm bạn sùng kính một lý tưởng nào đó rất phiến diện, méo mó. Bạn có xu hướng chỉ nhìn thấy một thứ có giá trị hơn mọi thứ khác, trong khi mọi thứ thực ra đều có giá trị như nhau.

Nhắc đến người cung 6 là phải nhắc đến sự sùng kính, tôn thờ. Đôi khi, sự sùng kính này lớn đến mức nó lấn át mọi thứ thuộc về lý trí. Ví dụ, một con chiên ngoan đạo có thể sùng kính Chúa Jesus đến mức mọi điều được truyền lại là lời của Chúa sẽ luôn luôn đúng. Sự phân biện của lý trí bị bỏ qua, nhường lại chỗ cho cảm xúc mãnh liệt và niềm tin không thể lay chuyển.

Người cung 6 phải hiểu rằng bất kỳ niềm tin nào cũng phải dựa vào sự phân biện và hướng dẫn đúng đắn của thể trí được linh hồn soi sáng. Nếu không, phương tiện dễ gây hoang mang như cảm xúc có thể dẫn bản thân đến việc theo đuổi những điều ngu ngốc và không xứng đáng. Chẳng hạn, niềm tin và sự sùng kính phi lý có thể dẫn bạn tới việc bám vào “những vị thần/thầy giả”, làm gián đoạn sự phát triển tinh thần và thậm chí còn khiến bạn sa ngã vào con đường tiếp tay cho các thế lực hắc ám.

2) Ảo cảm về chủ nghĩa lý tưởng

Bạn tôn thờ chủ nghĩa lý tưởng tức là bạn đang phóng đại một lý tưởng cụ thể nào đấy, và nó trở thành một phần cực kỳ thu hút trong cuộc sống của bạn. Khi đó, tâm thức của bạn sẽ bị chia tách, chỉ chăm chăm nhìn vào lý tưởng đó mà quên đi những giá trị khác làm nên thực tại thực sự của bạn. Chủ nghĩa lý tưởng thường sẽ rất mạnh khi bạn tiến gần tới cuộc điểm đạo 2, nhưng bạn phải chứng minh rằng mình sẽ không hy sinh các giá trị cao cả vì đam mê và lý tưởng của mình.

Người cung 6 có đặc điểm là thường đi theo một chủ nghĩa lý tưởng cứng nhắc. Họ tin là họ đã thấy được chân lý và họ không cần nhìn xa hơn hay tìm kiếm thêm chân lý ở đâu nữa. Họ nhiệt thành, hăng hái và quyết tâm bảo vệ lập trường của mình – cũng chính là những giá trị cao nhất họ tôn thờ. Bởi vậy, sự bất an ập đến khi chân lý họ tin vào bị lung lay. Họ sợ đối mặt với việc bị lạc trong bóng tối và không có lý tưởng nào đó soi đường.

Tuy nhiên, có vẻ như “không có gì là bất biến ngoại trừ sự thay đổi”. Chúng ta đều biết là chân lý này có thể đúng ở cõi giới tâm thức này, nhưng sẽ thay đổi khi tiến lên các cõi cao hơn. Do vậy, người cung 6 phải học cách đối mặt với nỗi sợ hãi thay đổi lý tưởng của mình, cho phép mình nới rộng tầm nhìn lên những gì bao quát và rộng lớn hơn. Họ phải nhận là rằng không có lý tưởng nào có thể hoàn toàn thỏa mãn họ, những điều vĩ đại và tốt đẹp hơn luôn ở phía trước. Nếu có một lý tưởng hấp dẫn hơn xuất hiện, hãy coi nó như một lẽ thường tình giống như việc khi càng tiến hóa, ta càng tiến đến gần với chân lý hơn. Hãy nghĩ rằng ta sẽ sẵn sàng từ bỏ nó khi một điều khác cao hơn, rộng hơn, gần với trạng thái đúng đắn của tinh thần hơn đến.

3) Ảo cảm về sự trung thành và các tín điều

Bạn trung thành với những tín điều mà bạn tin vào. Ví dụ, bạn thuộc giáo hội Kito giáo thì bạn chỉ dựa vào Kinh Kito để tin vào điều này hay điều khác. Bạn từ chối những góc nhìn rộng hơn. Theo công thức tích hợp của người cung 6, họ đặt nhu cầu, niềm tin, lý tưởng, tầm nhìn của riêng bản thân họ lên hàng đầu, thậm chí chiến đấu và chết vì những điều này. Khi những gì liên quan đến cái tôi cá nhân bị phóng đại, chắc chắn bạn đang gặp ảo cảm.

Đặc điểm của người cung 6 là tuyệt đối trung thành và gắn bó, hơn tất cả các cung khác. Nếu như với cung 1, họ tìm kiếm sự thống nhất cô lập (tự bản thân mình đạt tới nhất nguyên), thì người cung 6 không bao giờ muốn một mình hay cô lập. Họ hướng tới việc hợp nhất với “đối tượng họ yêu hoặc sùng kính”.

Nếu vì một lý do nào đó, mối ràng buộc giữa họ và đối tượng họ trung thành/sùng kính bị cắt đi, họ gần như mất đi lý do để sống.

Mặc dù sự trung thành và nhất tâm là rất tốt. Tuy nhiên, sự trung thành không được tập trung một cách hạn hẹp vào chỉ một số đối tượng cụ thể. Khi càng tiến hóa, người cung 6 càng phải học cách mở rộng đối tượng mình trung thành và yêu thương tới tất cả thành viên trong gia đình nhân loại.

Về lý tưởng, lúc đầu người cung 6 có thể sẽ chỉ trung thành với lý tưởng họ tôn sùng, và loại bỏ hệ tư tưởng đối nghịch. Nhưng dần dần, cung 6 sẽ được chuyển thành cung 2 và họ sẽ học được cách trung thành với tất cả những gì liên quan tới linh hồn và tinh thần của con người.

4) Ảo cảm về sự đáp ứng xúc cảm

Bạn nhạy cảm và có nhiều phản ứng cảm xúc đối với các sự việc xảy ra trong cuộc sống của bạn. Việc có một đời sống tình cảm tích cực là tốt, nhưng phản ứng cảm xúc lại thường mang tính tiêu cực và làm bóp méo sự thật. Khi bạn quá xúc động, bạn đang không ở trong tình trạng thực tế và khó có thể nhìn thấy thực tại thực sự.

Người cung 6 thường gặp vấn đề với việc bị cảm xúc lấn át phần lý trí. Ham muốn và ý chí-hướng-tới-niềm tin của họ điên cuồng, mạnh mẽ, lấn át gần như toàn bộ lý trí. Chẳng hạn, khi ta gặp phải một người Cơ đốc giáo cuồng tín, ta có thể nghe thấy họ nói rằng: “Điều này là chắc chắn vì tôi tin điều đó không thể sai”. Cảm xúc mãnh liệt làm cho phần lý trí không còn giá trị gì.

Người cung 6 phải hiểu rằng việc bày tỏ cảm xúc quá mãnh liệt (cho dù họ có cảm thấy quan điểm đó thuyết phục đến thế nào) cũng sẽ dẫn đến một sự thiếu hiểu biết sâu hơn. Họ phải ý thức được điều này khi luồng cảm xúc mãnh liệt đó ập đến. Họ cần hiểu rằng: cảm xúc là phương tiện mạnh mẽ và dễ gây hoang mang, lầm tưởng nhất trong các vận cụ của phàm ngã. Cảm xúc cần được sự hướng dẫn và phân biện của thể trí được linh hồn soi sáng. Nếu không, chắc chắn cảm xúc sẽ dẫn họ đi theo những mục đích không xứng đáng. Những niềm tin chỉ dựa theo cảm xúc mà không tuân theo tiếng gọi của linh hồn sẽ dẫn tới sự lạc lối, lãng phí thời gian và năng lượng. Từ đó, điều này có thể dẫn đến việc trì hoãn sự tiến bộ tinh thần của người cung 6. Do vậy, họ phải thực sự cẩn trọng và tỉnh táo khi đối mặt với các luồng cảm xúc ập tới.

5) Ảo cảm về sự can thiệp

Bạn nghĩ rằng chỉ có lý tưởng/suy nghĩ của bạn là đúng đắn, do đó bạn phủ nhận tất cả các lý tưởng/suy nghĩ khác. Nếu bạn đúng thì người khác phải sai – một cách suy nghĩ rất lưỡng cực. Bạn sẽ can thiệp vào cách thể hiện của các lý tưởng/suy nghĩ khác, để cho lý tưởng/suy nghĩ của bạn không thể có đối thủ cạnh tranh.

Cũng giống như đặc điểm của người cung 6 đã phân tích ở trên, họ có xu hướng chỉ tuân theo một lý tưởng mà mình coi là đúng đắn. Do vậy, những lý tưởng khác thường bị coi nhẹ.

Để thể hiện điều mình tin tưởng, họ sẽ có những hành động can thiệp để chứng minh rằng lý tưởng mình chọn là những gì đúng đắn nhất. Họ sẽ ngăn cản sự thể hiện của các lý tưởng khác biệt với họ.

Cũng giống như cách giải quyết với những người theo chủ nghĩa lý tưởng ở trên, người cung 6 cần mở rộng tầm nhìn của mình. Họ phải hiểu rằng ở cõi tâm thức hiện tại, lý tưởng này có thể đúng; nhưng ở các cõi cao hơn, chân lý sẽ thay đổi. Do vậy, lý tưởng của họ không thể đúng tuyệt đối.

Thứ hai, mỗi người đều có một quyền tự do ý chí riêng và ở một vị trí khác nhau trong nấc thang tiến hóa. Việc can thiệp vào sự biểu đạt của người khác chính là việc vi phạm vào tự do ý chí của họ. Đó là điều ta không được phép làm.

6) Ảo cảm về các cặp đối lập thấp

Bạn gặp xung đột giữa tội lỗi và đức hạnh. Bạn tự hỏi liệu tôi có đang làm đúng? Vì bạn luôn phải vật lộn với các cám dỗ và bị trăn trở với các phán xét đạo đức. Người cung 6 có nhiều xung đột trong đời sống như họ ít có khả năng để tự hòa giải chúng như người cung 4.

Chưa tìm thấy tài liệu nào nói về đặc điểm này của người cung 6.

 

7a) Ảo cảm do nhãn quang hẹp hòi

7b) Ảo cảm của sự gắn bó vào hình tướng và con người

7a) Bạn có một tầm nhìn hạn hẹp, nhấn mạnh thái quá vào một giá trị nào đó mà bỏ qua các giá trị quan trọng khác. Điều này làm biến dạng, lệch lạc nhận thức của một người về sự thật.

7b) Bạn quá bám chấp vào những thứ nhỏ nhặt, bỏ qua một tầm nhìn rộng lớn hơn có thể đem cho bạn một quan điểm toàn diện.

Một trong những nhược điểm của người cung 6 là thường sở hữu một tầm nhìn hạn hẹp. Họ quá tập trung vào một tầm nhìn mà họ nắm bắt được lúc đó, và nhanh chóng tin là không có tầm nhìn khác. Họ không nhìn xa hơn một khi đã có một tầm nhìn nào đó (dù nó nhỏ và mù mờ). Tất cả những gì họ tập trung vào là duy trì một tầm nhìn mù quáng, và không hề chú ý đến việc mở rộng, tinh chỉnh và soi sáng thêm tầm nhìn của mình.

Dù thế nào, một ngày nào đó tầm nhìn y sở hữu sẽ mờ dần và không còn sức thu hút. Lúc đó, y sẽ không thỏa mãn được với tầm nhìn hiện tại, và buộc phải một lần nữa đi tìm một tầm nhìn sáng suốt hơn.

8a) Ảo cảm về sự cuồng tín

8b) Ảo cảm về các Đấng cứu thế và các Huấn sư

8a) Bạn tôn thờ một Đấng hay hình mẫu nào đó. Đấng này nói bạn làm gì thì bạn sẽ làm theo, bất kể hậu quả của việc đó là gì. Việc này chắc chắn sẽ làm khả năng nhận thức của bạn bị méo mó và sai lệch.

8b) Bạn tôn thờ một Đấng cứu thế hay Huấn sư nhất định. Với bạn, Đấng này vượt xa tất cả những Đấng cao cả khác. Dấu hiệu này thể hiện một tầm nhìn hạn hẹp, một sự cuồng tín thái quá.

Người cung 6 gắn với chủ nghĩa cuồng tín – đại diện bởi một tâm thức hạn hẹp, không hiểu được rằng mục đích thiêng liêng cần sự hợp tác qua lại bởi nhiều khía cạnh của toàn thể.

Người cuồng tín cho rằng niềm tin hay Đấng mình tôn thờ là quan trọng nhất, gạt bỏ tất cả các quan điểm hoặc niềm tin khác mình. Điều này có thể gây hậu quả nguy hiểm khi người cuồng tín bị kích động. Họ có thể trở thành người gây áp lực chia rẽ, gây rắc rối cho tập thể, làm tổn hại mối quan hệ của mọi người. Chân sư DK thậm chí còn nói rằng, khi cung 6 là cung phàm ngã của một nhóm hay một người, nó có thể mang tính phá hủy hơn cả cung 1 (Bailey, EP II – 144). Ví dụ, một người lính cung 6 bình thường có thể ghét chiến đấu. Nhưng khi y bị kích động về mặt tinh thần, y có thể trở nên hoang dại, tham chiến như bị quỷ ám. Tựu chung lại, người cung 6 cuồng tín có thể sở hữu một luồng năng lượng dữ dội, và khi giải phóng nó có thể gây nên hậu quả khủng khiếp với sức hủy diệt cực độ.

Cách giải quyết duy nhất với sự cuồng tín là mở rộng tầm nhìn. Chính sự hạn hẹp, thái quá của cảm xúc ngăn đi sự soi chiếu của ánh sáng. Thường thì những tác động nhẹ nhàng sẽ không có hiệu quả nhiều đối với người cung 6.

Họ thường cần một cơn xúc động dữ hội, một hậu quả “đổ máu” mới làm họ thức tỉnh và ánh sáng mới có thể xuyên qua được.

9) Ảo cảm của sự đa cảm

Gần giống với ảo cảm về sự đáp ứng xúc cảm, bạn đa cảm, bạn cho phép cảm xúc hòa quyện với cái trí (một dạng trí cảm cai quản) và làm bóp méo sự rõ ràng, rành mạch của cái trí.

Người cung 6 được coi là giàu cảm xúc nhất trong tất cả các cung. Con số 6 là sự cộng hưởng của cung 6, cõi thứ 6 (cõi cảm dục), hành tinh cung 6 (hỏa tinh và hải vương tinh). Đó là lý do tại sao người cung 6 thường đa cảm và dễ hòa quyện cảm xúc của mình với phần lý trí, tạo nên một dạng trí cảm. Trí cảm thì thường bóp méo sự thật. Đó là lý do tại sao người cung 6 lại dễ mắc phải ảo cảm nhất trong tất cả các cung.

Trong cuốn sách “Ánh sáng trên đường đạo” của Chân sư Hilarion, một tuyên bố được đưa ra mà người cung 6 cần nhớ là “Trước khi đôi mắt có thể thấy, chúng phải ráo lệ”. Một người không thể nhìn thấy rõ mọi thứ nếu cứ phải nhìn xuyên qua những giọt nước mắt. Tuy nhiên, điều đặc biệt là những người xuất sắc nhất trong việc xua tan ảo cảm lại có cung 6 mạnh mẽ. Cuối cùng, các đệ tử vẫn phải làm một nhiệm vụ quan trọng là biến các điểm yếu của họ thành điểm mạnh. Khi đó, họ sẽ trở nên rất hữu ích đối trong việc hướng dẫn những người gặp khó khăn tương tự.

ẢO CẢM CUNG 7

Loại ảo cảm

Mô tả ảo cảm

(Robbins, GWP – webinar 130)

Ảo cảm này đến từ đặc điểm nào của người cung 7? (Robbins, Tapastry I 167-193)

Cách khắc phục ảo cảm

(Robbins, Tapastry I 167-193)

1a) Ảo cảm về công tác huyền thuật

1b) Ảo cảm về các mãnh lực dưới mặt đất

1c) Ảo cảm về các mãnh lực biểu lộ đang xuất hiện

1a) Một số người thuộc cung 7 có khả năng huyền thuật, tạo nên những điều khá kỳ diệu. Tuy nhiên, bạn lại đánh mất ý thức về tỷ lệ. Bạn tập trung vào bản thân, tự cao về những điều mình làm được, thấy mình điều khiển được khả năng huyền thuật và trở nên quan trọng. Cứ khi nào ta mất ý thức về tỷ lệ, tức là ta đang mắc phải ảo cảm.

1b) Bạn có xu hướng kêu gọi những mãnh lực thấp mà bạn đã kiểm soát được tốt. Tuy nhiên, bạn không làm điều này vì một mục đích cao cả, mà chỉ để cường điệu hóa bản thân. Bạn thể hiện sức mạnh để bản thân được ngưỡng mộ và hưởng lợi.

1c) Các nhà huyền thuật rất dễ bị mắc phải ảo cảm này. Bạn có khả năng thực hiện một số hiện tượng kỳ diệu. Ví dụ: có người có thể đi trên mặt nước, có người có thể thăng thiên chống lại lực hấp dẫn,…Bạn tự hào và quá chú ý đến bản thân mình vì có thể làm được những điều được cho là kỳ diệu. Tuy nhiên, những điều kỳ diệu này chỉ là các hiện tượng thú vị, chứ không phải là tâm linh, vì nó không tới từ động lực biểu hiện của linh hồn lên thế giới bên ngoài.

Cung 7 có tên là cung của nghi lễ và huyền thuật, nên chắc chắn người cung 7 mang những đặc điểm nổi trội của một nhà huyền thuật (là người có thể biến ý tưởng thành hiện thực). Họ tỉ mỉ, thứ tự trong việc thực hiện luật và quy tắc – những đặc điểm cần thiết để thành công trong công việc huyền thuật.

Mục tiêu cao nhất của người cung 7 là đi theo chánh thuật – nghệ thuật và khoa học đưa quyền năng của linh hồn xuyên vào và biểu hiện ở vật chất.

Tuy nhiên, đối với một số nhà huyền thuật, khi đã làm được những điều được người thường cho là “kỳ diệu”, họ lại mắc phải cạm bẫy của sự tự phụ.

Một cách tiêu cực, việc thực hiện huyền thuật cũng có thể liên quan tới hắc thuật/tà đạo nếu phàm ngã chỉ chăm chăm hướng đến những điều vị kỷ. Biểu hiện của họ là tự mãn, quá chú ý tới kết quả vật chất trên cõi trần. “Độ hắc ám” của huyền thuật được cho biết là liên quan tới mức độ nhà huyền thuật đồng hóa với cực vật chất (trạng thái thô đặc nhất của tinh thần là vật chất, có ít ánh sáng thiêng liêng chiếu rọi, nên được gọi là hắc ám).

Các nghi lễ của hắc thuật là sự đảo ngược cả tiến trình tinh thần. Do vậy, người cung 7 phải chống lại mọi cám dỗ làm đảo ngược thứ tự của các giá trị. Tức là, giá trị của cực tinh thần luôn phải đặt lên hàng đầu, chứ không phải là cực giá trị của vật chất.

2) Ảo cảm của việc ghép lại với nhau

Bạn có khả năng kết hợp và mang nhiều thứ lại với nhau. Tuy nhiên, hành động này nhằm mục đích gì? Nếu như nó không phục vụ cho mục tiêu tinh thần mà chỉ để thể hiện sự kiêu hãnh vì sở hữu khả năng kết hợp mọi thứ với nhau của bạn, thì đó chính là dấu hiệu của ảo cảm.

Người cung 7 có khả năng bẩm sinh trong việc tạo ra trật tự hay kết hợp nhiều thứ lại với nhau một cách khôn khéo và hiệu quả. Chân sư DK đã nói đây là cung của sự sắp xếp chính xác.

Người cung 7 phải hiểu rõ về mục tiêu tại sao bản thân lại được ban tặng cho khả năng tạo ra trật tự trong nhóm/tổ chức.

Mỗi nhóm hay tổ chức nào đều cần được vận hành một cách hiệu quả. Ở đó, mỗi cá nhân sẽ có một vị trí và chức năng riêng, sao cho họ có thể tận dụng được hết nguồn lực để đóng góp cho mục tiêu chung nhất của nhóm. Cả xã hội cũng sẽ cần có một trật tự nhất định. Do vậy, nhiệm vụ của người cung 7 là tạo ra trật tự này. Điều này cũng không có gì quá đáng tự hào bởi vì các cung năng lượng khác nhau sẽ đóng góp cho nhóm/tổ chức một nhiệm vụ khác nhau.

Ví dụ: người cung 7 giỏi sắp xếp, nhưng người cung 2 trong nhóm sẽ giỏi việc thu hút mọi người tham gia vào nhóm, vv…Mỗi người thuộc mỗi cung sẽ đảm nhận một vai trò riêng.

3) Ảo cảm về thể xác

Bạn quá tập trung vào hình thức bên ngoài. Sử dụng các loại mỹ phẩm, phẫu thuật thẩm mỹ, tập thể dục quá độ vì những mục tiêu phù phiếm. Đặc biệt, trong giới người mẫu, có quá nhiều người xác xơ, thiếu sinh khí và đang nêu lên một tấm gương không tốt về tiêu chuẩn của cái đẹp. Bạn quên đi điều bạn cần tập trung là con người bên trong, và cơ thể chỉ là một công cụ để tinh thần biểu hiện.

Năng lượng cung 7 có liên kết chặt chẽ với cõi giới thứ 7 (cõi hồng trần, cõi của vẻ bề ngoài) do sự cộng hưởng số học. Do vậy, người cung 7 dành sự tập trung cho hình thức bề ngoài.

Người cung 7 phải nhận ra tầm quan trọng của phần bên trong, thay vì chỉ tập trung vào cách mọi thứ biểu lộ ở bên ngoài. Điều này giống với một câu ngạn ngữ “đừng chỉ đánh giá một cuốn sách qua bìa của nó”. Nếu như vậy, người cung 7 sẽ đánh mất phần tinh hoa và giá trị cốt cõi bên trong. Điều cần làm là đào tạo, huấn luyện lại tâm thức của người cung 7 để họ có thể nhìn sâu vào thực tại bên trong. Nếu không, theo thời gian, kinh nghiệm sống của họ sẽ thành trống rỗng, không có gì.

4) Ảo cảm về cái thần bí và bí mật

Bạn nghĩ mình đang nắm giữ nhiều bí ẩn và bí mật, và bạn giữ lại, không chia sẻ với người khác, và coi điều này như một công cụ để điều khiển và kiểm soát người khác. Bạn thấy mình trở nên quan trọng và giữ vị trí độc quyền.

Thầy Michael Robbins chia sẻ rằng cung 7 là một cung của sự điều khiển. Chính vì họ thích sắp xếp mọi thứ vào trật tự, nên họ sẽ muốn điều khiển mọi thứ và sắp xếp chúng theo thứ tự họ muốn.

Do vậy, những người cung 7 gặp ảo cảm này có xu hướng muốn kiểm soát người khác bằng cách đề cập đến nhiều thứ bí ẩn và tỏ ra họ biết nhiều về chúng, trong khi những người khác thì không biết.

Người cung 7 phải hiểu rằng: bất cứ khi nào họ muốn dựa vào một điều gì đó để kiểm soát người khác, chắc chắn đó là một biểu hiện tiêu cực của phàm ngã. Linh hồn là tự do và để những linh hồn khác được tự do theo con đường nó cần đi.

Việc giữ lại bí mật với người khác thực tế chỉ là một cách để thỏa mãn ý muốn thấp kém của phàm ngã (muốn mình là người quan trọng, muốn mình được đề cao).

5) Ảo cảm về ma thuật tình dục

Bạn dùng sự hấp dẫn tình dục để bán hàng – một điều xảy ra xuyên suốt trong các hình thức quảng cáo hiện nay. Ví dụ: hình ảnh một cô gái ăn mặc quyến rũ bên cạnh một chiếc xe hơi…được sử dụng để bán xe.

Đây được coi là một hình thức sai lệch, sử dụng sự hấp dẫn của tình dục cho mục đích tăng cường phàm ngã, thỏa mãn cảm xúc chứ không phải các mục đích cao cả, liên quan tới tinh thần.

Người cung 7 liên quan đến công việc hợp nhất các đối cực của tinh thần và vật chất. Do vậy, năng lượng cung 7 liên kết với năng lượng tình dục (sự hợp nhất về mặt vật chất giữa hai con người, có mục tiêu bí truyền là cung cấp phương tiện cho các linh hồn đầu thai).

Cách xử lý năng lượng tình dục có thể ảnh hưởng quan trọng tới sự tiến bộ của một người. Năng lượng này ngoài việc được sử dụng đúng cách để giúp các linh hồn đầu thai, còn chuyển lên luân xa cổ họng để giúp người môn sinh thực hiện các công việc sáng tạo khác.

Hiện nay, có tồn tại việc thực hành những hoạt động để tăng việc cung cấp năng lượng tình dục và duy trì cảm giác của sự ngây ngất khi hợp nhất về tình dục (ví dụ hệ thống tantric). Người thực hành chắc chắn sẽ phải trả giá đắt với sự suy nhược và chậm tiến bộ tâm linh. Các năng lượng dĩ thái quan trọng sẽ bị cắt giảm, và các nguồn dự trữ năng lượng quan trọng của cơ thể sẽ bị cạn kiệt.

Do vậy, người cung 7 chắc chắn phải tránh xa những thực hành liên quan tới ma thuật tình dục.

Các ảo cảm phổ biến đang tác động tới nhân loại hiện nay

Chân sư DK cho biết là có 5 loại ảo cảm chính đang tác động tới phần lớn nhân loại hiện nay. Bảng so sánh dưới đây hi vọng sẽ giúp người đọc có một góc nhìn tổng hợp về 5 loại ảo cảm này. Tất cả thông tin trong bảng này đều được tham khảo từ các link về từng loại ảo cảm trên trang minhtrietmoi.org (link cụ thể sẽ được đính kèm trong phần tài liệu tham khảo bên dưới).

 

Ảo cảm vật chất

Ảo cảm tình cảm

Ảo cảm sùng tín

Ảo cảm cặp đối lập

Ảo cảm đường Đạo

Khái niệm

Bạn mắc ảo cảm vật chất khi dành quá nhiều thời gian, công sức cho việc quan tâm và sở hữu vật chất. Do vậy, những việc thiết yếu cần có cho một cuộc sống biểu lộ Thiên cơ bị xao nhãng hoặc bỏ qua.

Đây là loại ảo cảm được thầy Michael Robbins đánh giá là ảo cảm mạnh nhất trong 5 loại ảo cảm chính của nhân loại vì nó đã tồn tại và cầm giữ nhân loại trong rất nhiều thời đại. Đỉnh điểm là trong giống dân Atlantean (lúc đó, bản chất ham muốn đã bị phe Hắc đạo kích thích. Con người cực kỳ bám víu vào vật chất).

Lưu ý: Có những trường hợp việc sở hữu và quản lý vật chất lại là một kinh nghiệm tâm linh lớn, tùy theo giai đoạn tiến hóa của cá nhân đang xét đến. Tỷ lệ đúng đắn về việc quan tâm tới vấn đề vật chất sẽ thay đổi tùy theo giai đoạn tiến hóa.

Ảo cảm tình cảm là hiểu biết sai lệch về tình thương đích thực. Ảo cảm này được mô tả như một đám sương mù dày đặc của các phản ứng tình cảm, của sự thích và không thích liên quan đến thể cảm dục. Ảo cảm tình cảm nhuốm màu của ham muốn được đáp lại tình cảm, không giống bản chất vô kỷ của tình thương đích thực.

Ví dụ, khi thể hiện tình yêu với một ai đó, người mắc ảo cảm vẫn sẽ đặt một kỳ vọng nào đó đối với đối tượng họ dành tình cảm. Họ tự hỏi: người mà tôi yêu sẽ phản ứng với tôi ra sao? Tôi sẽ tìm cách để người đó cảm thấy dễ chịu, nhờ vậy tôi cũng sẽ dễ chịu. Thực ra, tình thương đích thực không phải lúc nào cũng là sự hài hòa ngay lập tức. Nó có thể gợi lên một cảm giác không hề dễ chịu, nhưng nếu điều đó là điều tốt cho đối tượng ta yêu, thì ta vẫn nên làm. Ta phải nghĩ tới điều tốt đẹp cho người ta thương, chứ không phải nghĩ tới phản ứng của họ đối với ta.

Bạn mắc phải ảo cảm sùng tín khi bạn quá tin tưởng, coi trọng một đối tượng nào đó tới mức bạn hiếm khi dùng trí tuệ của mình phân biện về những điều liên quan tới đối tượng đó. Đối tượng của sùng tín có thể là một vị thầy, một tín ngưỡng, một con người, một nghĩa vụ hay trách nhiệm. Ảo cảm xảy ra bởi vì những đối tượng này không được nhìn thấy đúng với bản chất thật sự của chúng.

Sự sùng tín là một ham muốn mang tính chất cảm dục. Nó làm cho người gặp ảo cảm này không thể nhìn được một tầm nhìn rộng lớn. Tầm nhìn của y bị thu hẹp trong ham muốn thỏa mãn sự sùng tín của y.

Thầy Michael Robbins có đưa ra ví dụ của một người đệ tử phàm ngã cung 6 đã gặp phải ảo cảm sùng tín – bà Annie Besant. Bà đã dành rất nhiều năm để tôn sùng hết đối tượng này tới đối tượng khác. Khi tìm được một đối tượng để sùng bái, bà sẽ thần tượng hóa và tôn thờ họ cho đến khi một điều gì đó tiêu cực từ họ bị bà nhìn thấu. Bà thức tỉnh rồi sau đó lại tiếp tục đi tìm một đối tượng khác để sùng bái. Đây chính là một ví dụ về cách ảo cảm sùng tín thể hiện nơi một người đệ tử (đặc biệt là những người bị ảnh hưởng nhiều bởi cung 6).

Cặp đối lập là các lựa chọn cao thấp theo chiều thẳng đứng, tức là cái cao hơn thường là thuộc về linh hồn còn lựa chọn thấp hơn thuộc về phàm ngã. Ở đây, ta không xét tới các cặp đối lập theo chiều ngang, không cái nào tốt hơn cái nào như nóng-lạnh, cứng-mềm,…

Ảo cảm này thường xảy ra với những môn sinh đang trên con đường dự bị. Ý thức của người môn sinh dao động giữa các cặp đối lập cho đến khi nhìn thấy và nhận thức được con đường trung đạo. Con đường trung đạo được thầy Michael Robbins mô tả là con đường nằm giữa những đòi hỏi của linh hồn và những đòi hỏi của phàm ngã. Tức là, ta không thể sống quá vật chất vì như thế ta sẽ bỏ qua những mục tiêu cao cả. Ta cũng không thể sống quá cao siêu, vì như vậy ta sẽ trở thành người phi thực tế, không hữu ích cho nhân loại. Ta phải lựa chọn con đường ở giữa, cân bằng giữa nhu cầu của tinh thần, linh hồn và phàm ngã.

Đây là một số ảo cảm ảnh hưởng tới người môn sinh khi y bước đi trên đường Đạo, làm cản trở sự tiến bộ của y cũng như làm sai lệch công việc phụng sự đúng đắn của y cho những người khác. Chân sư DK có chia sẻ rằng để biết được những ảo cảm này là gì, ta phải tham khảo ba cám dỗ của Đức Jesus. Những điều (trích trong Kinh Tân Ước, Mathew-4:1-11) mà Satan đã dùng để cám dỗ Đức Jesus là:

– Cám dỗ vật chất: hãy biến những hòn đá này thành bánh,

– Cám dỗ thực hiện những điều kỳ diệu để được ngưỡng mộ: hãy gieo mình từ nóc đền thờ xuống đất bình an,

– Cám dỗ quyền lực: hãy phục tùng quỷ dữ để có được cả thế gian.

Những cám dỗ này đại diện cho ba ảo cảm chính trên đường Đạo. Khi đi trên con đường này, người môn sinh có cơ hội sở hữu một số năng lực nhất định. Nếu y sử dụng chúng cho mục đích ích kỷ của phàm ngã như muốn được nổi bật, được tôn sùng, được chú ý và công nhận; thì chắc chắn y đang mắc những ảo cảm này.

Đối tượng ảnh hưởng

Ảo cảm vật chất tác động tới phần lớn nhân loại. Những người đã bước đi trên con đường tinh thần đúng đắn thường đã phần nào thoát khỏi ảo cảm này. Các đệ tử tiến hoá cao có thể hiểu được mục đích thực sự của tiền bạc – như nguồn prana vũ trụ chung cần chia sẻ và dành cho những công việc có thể giúp Thiên cơ biểu lộ trên cõi trần.

Ảo cảm tình cảm rất phổ biến và xảy ra với hầu hết mọi người trong nhân loại. Tôi đoán rằng phải là những đệ tử tiến hoá cao, trên điểm đạo bậc 2 (vượt qua phần lớn các loại ảo cảm và hiểu được tình thương đích thực từ linh hồn là gì) thì có thể không bị vướng mắc bởi ảo cảm này.

Ảo cảm sùng tín chủ yếu ảnh hưởng đến những người thuộc cung 6, nhất là những người tìm đạo tận tâm. Thầy Hiệu trưởng có đưa ra thông tin thêm là ảo cảm này chủ yếu chi phối những người có linh hồn cung 6, phàm ngã cung 6 hoặc thể cảm dục cung 6; và người thuộc các cung khác cũng có thể bị ảnh hưởng.

Ngoài những đệ tử tìm đạo, ảo cảm sùng tín này còn chi phối nhiều người trong quần chúng nhân loại. Ta có thể nhận thấy rất nhiều người xung quanh mình tôn vinh một cái gì đó một cách vô thức, không suy nghĩ nhiều. Ví dụ: những tư tưởng kiểu như “đất nước tôi là trên hết”, “gia đình tôi là trên hết”, “cuộc đời của con cái tôi là trên hết”,…

Ảo cảm cặp đối lập thường xảy ra với những môn sinh đang trên con đường dự bị. Bởi vì chỉ trong giai đoạn này, người môn sinh mới gặp phải dao động dữ dội giữa các cặp đối lập là quay về cuộc sống phàm ngã trước đây hay đi theo tiếng gọi của linh hồn.

Đúng như tên gọi của nó, ảo cảm đường Đạo tác động đến những đệ tử bước đi trên con đường Đạo. Kể cả những đệ tử đã tiến hoá cao cũng vẫn có thể gặp phải ảo cảm này.

Nguyên nhân

Chân sư DK giải thích rằng ảo cảm vật chất xuất phát từ một nhịp điệu (hay theo cá nhân tôi đoán là một luồng năng lượng). Ở cõi giới cao là cõi giới của linh hồn, những Đấng cao cả đã tạo ra luồng năng lượng này – năng lượng liên quan đến việc quan tâm tới vật chất. Tuy nhiên, biểu hiện cao của loại năng lượng này là việc đã thoát khỏi nhu cầu vật chất và sở hữu của cải. Ở các cõi thấp hơn cõi linh hồn, loại năng lượng này lại biểu hiện ở một mức rung động thấp là: quan tâm tới tiền bạc và mong muốn thoát ra khỏi sự ràng buộc của vật chất.

Ta biết rằng mỗi loại vật chất được cấu tạo bởi các tinh linh (elementals) hướng hạ tiến hóa, có một sự sống và phát xạ riêng. Chính sự phóng phát này của các tinh linh cấu tạo nên vật chất làm gia tăng ảo cảm vật chất của thế gian.

Con người gặp ảo cảm tình cảm vì họ không hiểu bản chất thực sự của tình thương. Tình thương đối với họ là sự pha trộn giữa khao khát yêu thương và khao khát được yêu thương. Họ sẽ làm mọi điều để gợi lên được hai loại tình cảm này, tức là khi cho đi tình thương, họ cũng phải được nhận lại tình thương.

Ảo cảm sùng tín thường đến từ những người đệ tử vẫn hoạt động chủ yếu thông qua luân xa tùng thái dương. Họ phóng phát ra những rung động của lòng sùng tín, của trạng thái ngây ngất ngưỡng mộ đối với các bậc cao cả. Ví dụ: tình cảm sùng tín mà các đệ tử dành cho các Chân sư Minh triết. Chính ảo cảm này bao phủ lấy người đệ tử làm cho các Chân sư gặp khó khăn trong việc tiếp cận đệ tử do phải tìm cách thâm nhập được vào lớp ảo cảm dày đặc của lòng sùng tín.

Cả nhân loại bị ảnh hưởng bởi cung 6 và kỷ nguyên Song ngư (truyền dẫn cung 6). Biểu hiện thấp của năng lượng cung 6 (cung của sự sùng kính và lý tưởng) là sự sùng tín không có căn cứ trí tuệ đối với một đối tượng nào đó (ví dụ: con cái, gia đình, đất nước,…).

Khi người môn sinh dự bị vẫn trụ nhiều trong thể cảm dục, họ sẽ bị giằng xé giữa hai thái cực. Lúc thì thấy vui và hạnh phúc khi bản thân đang bước đi trong ánh sáng của linh hồn, lúc khác lại thấy thất vọng, đau khổ khi bị kìm kẹp trong đời sống phàm ngã và ít tiếp xúc được với năng lượng tươi vui của linh hồn.

Tức là, có một sự không ổn định ở đây. Hình tướng đôi khi không chịu được những năng lượng có rung động cao liên tục chiếu rọi từ linh hồn. Do vậy, nó chọn cách tiếp cận rồi rút lui, tiếp cận rồi lại rút lui. Nó dao động liên tục. Khi đó, ảo cảm xuất hiện vì con người không nhìn được sự thực một cách rõ ràng. Chân sư DK nhận xét rằng hoạt động dao động này tạo ra một màn sương ảo cảm của cặp đối lập có bản chất dày đặc và mù mịt.

Khi ở trên đường Đạo, người môn sinh thường đã sở hữu một số năng lực, có một tính hữu dụng nhất định đối với nhóm. Do vậy, một số đặc điểm tiêu cực có thể được thể hiện khi năng lực của một người ngày càng cao là tính tự kiêu, sự thích thể hiện, muốn được công nhận và tôn sùng.

Tình trạng ngày nay

Toàn nhân loại vẫn đang bị cuốn vào việc quan tâm tới tiền bạc. Ta có thể nhận thấy hầu hết mọi người thường bị đau khổ bởi vấn đề kinh tế.

Tuy nhiên, sức mạnh của ảo cảm này đang giảm đi đáng kể trên toàn thế giới. Nhiều đất nước đã phải trải qua kinh nghiệm hoang mạc (gặp khó khăn và họ thực sự thấy được điều gì là cần thiết nhất trong cuộc sống) và họ đã giải quyết được một phần sự bám chặt mạnh mẽ vào vật chất.

Ảo cảm này vẫn đang giam cầm những người tốt trên thế gian trong vòng nô lệ, áp đặt lên họ những nghĩa vụ không cần thiết. Ảo cảm tình cảm rất phổ biến. Nó lẩn khuất trong rất nhiều mối quan hệ của con người như mối quan hệ giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái,…

Ta có thể dễ dàng thấy phần lớn mọi người xung ta đều gặp ảo cảm này. Họ hiếm khi thể hiện tình yêu thương của linh hồn (vô kỷ không đòi hỏi gì cho cái tôi, vô dục và tự phát, tự do và để người khác được tự do). Họ thường thể hiện tình cảm, làm những hành động nhằm mục đích thu hút những tình cảm đáp lại từ người khác.

Tình trạng ảo cảm này đặc biệt mạnh mẽ trong thời điểm hiện tại do cung 6 (cung của lòng sùng tín) hiện vẫn đang chi phối nhân loại. Hơn nữa, ta vẫn đang ở trong kỷ nguyên của thời đại Song ngư (truyền dẫn cung 6). Dù thời đại Song ngư đang trôi qua, nhưng ảnh hưởng của nó vẫn còn mạnh mẽ.

Ảo cảm này mạnh mẽ tới mức mà trong Ashram của Chân sư tồn tại cả một quy trình mà các thành viên trong Ashram phải thực hiện để bảo vệ Ngài khỏi các làn sóng của sự sùng tín hướng về Ngài.

Ảo cảm này vẫn luôn tồn tại từ trước tới nay, chỉ cần có môn sinh đang đi trên con đường dự bị. Một người tìm đạo được Chân sư DK dự đoán là sẽ bị giam cầm bởi ảo cảm này trong nhiều năm, thậm chí là nhiều kiếp sống.

Ảo cảm đường Đạo theo tôi đoán là đã tồn tại từ lâu (có thể là thời Atlantean khi ảo cảm bắt đầu tràn lan và có tồn tại một số đệ tử tìm đạo). Tuy nhiên, ảo cảm này ngày càng trở nên mạnh mẽ ngày nay. Lý do là ngày càng có nhiều đệ tử sắp và đang bước đi trên con đường Đạo.

Nhận định này dễ hiểu hơn khi ta nhìn vào lịch sử nhân loại. Ở thời Lemuria và Atlantean, số lượng người tìm đạo chưa quá nhiều nên việc điểm đạo chỉ xảy ra ở cấp độ cá nhân. Tuy nhiên, ở kỷ nguyên Bảo bình sắp tới, khi số lượng người tầm đạo ngày càng đông và công việc nhóm được đề cao, việc điểm đạo được dự đoán là sẽ chuyển sang điểm đạo cấp độ nhóm.

Cách giải quyết

Sẽ giải quyết bởi những người đã đạt đến giải thoát cũng như những người đang vượt thoát khỏi sự kiểm soát của loại ảo cảm này. Họ sẽ phóng phát ra những tư tưởng, lời nói, và sống một đời sống làm gương cho những người khác. Từ đó, các giá trị và tiêu chuẩn đúng đắn, tầm nhìn rõ ràng, nhận thức chính xác về mối quan hệ giữa vật chất và tinh thần sẽ tái điều chỉnh các nhận thức sai lệch hiện tại của nhân loại.

Con người sẽ có cơ hội để tự mình vượt qua ảo cảm vật chất. Các hoàn cảnh, thử thách khó khăn sẽ tới giúp uốn nắn và thay đổi cách y nhận thức về đời sống vật chất. Nhờ đó, y sẽ thấy mình được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của đời sống bám chấp vào vật chất và sống đời sống của thể trí.

Rốt cuộc, nhận thức đúng về tiền bạc là gì? Thực ra, tiền bạc chỉ là một hệ thống biểu tượng mà con người đặt ra và nó không mang giá trị thực. Chân sư DK có nói trong tương lai, yếu tố tiền tệ có thể được hủy bỏ nếu như nhân loại có thể thực hiện được việc “chia sẻ” với nhau ở một mức độ nào đó. Điều đáng để chúng ta theo đuổi trong cuộc đời không phải là nắm giữ tiền bạc, vật chất – những thứ ta không mang theo được và ít vĩnh cửu nhất trong đời sống kéo dài qua ngàn ngàn kiếp sống của chúng ta. Thứ chúng ta nên theo đuổi chính là bồi đắp kho báu thực sự của thể nguyên nhân – thứ mà sẽ theo ta trong mọi kiếp sống, giúp nâng đỡ con đường tiến hóa của ta và những người khác.

Vật chất, tiền bạc là tài sản chung của toàn nhân loại, được coi như prana của vũ trụ. Chỉ khi con người hoàn toàn vô kỷ trong việc sử dụng nguồn năng lượng này, nó mới được trao cho con người quản lý (ví dụ: miễn phí về mặt năng lượng – free energy, điều được dự đoán sẽ xảy ra trong thời đại Bảo bình). Khi free energy được đưa ra, con người không còn được đánh giá dựa trên việc y đang sở hữu bao nhiêu tiền hay của cải, mà sẽ dựa vào giá trị thực sự của con người y. Hay như các Chân sư, các Ngài được ban cho khả năng tạo ra bất cứ điều gì các Ngài muốn vì chắc chắn các Ngài sẽ không tìm kiếm điều gì cho bản thân các Ngài. Tất cả những gì các Ngài làm sẽ là vì nhân loại, do vậy các nguồn lực của hành tinh hay vũ trụ sẽ được trao cho các Ngài.

Ảo cảm vật chất là loại ảo cảm được cho là sẽ hoàn toàn biến mất đầu tiên.

Ảo cảm tình cảm sẽ bị tiêu tan bởi tình thương đích thực và vô kỷ. Hãy nghĩ về cách mà Đức Christ thể hiện tình thương. Ngài đã nói những lời thẳng thắn, mang tính chất của thể trí cung 1 cho đối tượng cần nghe. Những lời đó không phải lúc nào cũng ngọt ngào và dễ được chấp nhận bởi người nghe. Nhưng chúng đều xuất phảt từ tình thương sâu sắc, muốn người nghe đi đúng hướng trên con đường giải thoát. Hay ta có thể nghĩ tới cách Chân sư DK viết thư cho các đệ tử của Ngài. Thường thì những lời Ngài nhắn nhủ không hề đường mật và thể hiện tình cảm sướt mướt, mà chúng đúng trọng tâm, hữu dụng và giúp người đệ tử bước đi vững vàng hơn trên con đường phát triển tinh thần và phụng sự nhân loại.

Tức là, ta phải tập giữ một thái độ thận trọng khi thể hiện tình thương của mình với người khác. Phải luôn tự nhắc bản thân xem liệu cách mình đối xử với họ là mình thực sự thương và muốn tốt nhất cho họ hay mình chỉ đang làm những điều để họ dành tình cảm lại cho mình?

Một giải pháp nữa (đặc biệt hữu dụng cho việc hợp nhất nhóm) là loại bỏ yếu tố cảm xúc, hay cắt đứt mọi sự tương tác tình cảm ra khỏi các mối quan hệ. Tình thương đích thực xuất phát từ linh hồn không bao giờ là tình cảm yêu ghét, thích hay không thích. Theo sách RI-209, khi có sự yêu thích, sẽ tạo ra mối quan hệ phàm ngã quá mạnh. Ngược lại, khi có sự không thích, cảm xúc cự tuyệt bên trong xảy ra liên tục, dẫn tới sự chia rẽ. Nếu sự thích và không thích diễn ra, việc hợp nhất và tình thương đích thực không thể biểu lộ.

Tựu chung lại, cánh cửa để vượt qua ảo cảm sùng tín luôn phải nhờ tới sự giúp sức của linh hồn. Chân sư DK có nhắc tới 2 phương pháp đối phó với ảo cảm sùng tín như sau:

Phương pháp 1: tiếp xúc với linh hồn, nhờ đó những phản ứng, ham muốn và mục tiêu của phàm ngã sẽ bị lu mờ.

Phương pháp 2: tuôn đổ vào làn sương ảo cảm tình thương thuần khiết, vô kỷ, và không đòi hỏi bất kỳ sự công nhận nào từ linh hồn.

Người cung 6 được coi là dễ gặp phải ảo cảm sùng tín nhất, và ảo cảm này tác động tới họ mạnh mẽ tới mức họ có xu hướng không thừa nhận việc mình đang chìm trong ảo cảm. Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt của nó. Sùng tín cũng có thể mang nghĩa tích cực nếu bạn không quá cường điệu hóa đối tượng sùng tín, có tầm nhìn rõ ràng và rộng hơn về cách biểu hiện Thiên cơ thì bạn sẽ đi đúng hướng. Một đoạn trích trong Cổ luận mô tả điều sẽ xảy ra đối với một người cung 6 sau khi thoát khỏi ảo cảm sùng tín.

“Đường hầm của y biến mất. Y không nhận thấy sự mất mát của nó. Trên sân chơi của thế giới, y đứng cùng với nhiều bạn cùng chơi khác, rộng mở trước ánh sáng ban ngày. Xa xa là một ngọn núi màu xanh lam, và từ đỉnh của nó phát ra một giọng nói: ‘Hãy tiến tới đỉnh núi, và trên đỉnh của nó hãy học lời khẩn nguyện của một Đấng Cứu Thế.’ Đối với nhiệm vụ vĩ đại này, Người Tín đồ, giờ đã là một lãnh đạo, dốc hết sức lực của mình. Y vẫn theo đuổi con đường này….” (Bailey, EPII – 171)

Chân sư DK cho ta biết rằng ảo cảm cặp đối lập thực ra là một phần của “đại tà thuyết chia rẽ”. Tà thuyết này biểu hiện qua việc ta nhìn nhận sự vật một cách phân mảnh và rời rạc, sự vật này bị tách khỏi sự vật khác. Điều chúng ta cần nhận thức là tất cả đều thống nhất và thiêng liêng như nhau.

Ngài cũng nhấn mạnh rằng ảo cảm này sẽ tiếp diễn một khi người môn sinh vẫn còn trụ vào thể cảm dục (hay chú ý vào cảm giác và những dao động của thể này).

Ảo cảm cặp đối lập chỉ chấm dứt khi người đệ tử thoát khỏi thế giới của cảm giác và phân cực chủ yếu vào thể trí được soi sáng bởi linh hồn. Nói cách khác, ta chỉ có thể trở thành một điểm sáng tiếp cận năng lượng linh hồn một cách ổn định khi mức độ tiến hóa của tâm thức ta phát triển tới một mức nhất định – khi ta sẵn sàng bước trên con đường đệ tử. Theo thầy Michael Robbins, “phân cực trong thể trí” sẽ diễn ra trong khoảng thời gian giữa lần điểm đạo hai và ba (và rất ít đệ tử trong nhóm đệ tử của Chân sư DK đạt được điểm đó). Các đệ tử này mới chỉ “tập trung trí tuệ” còn “phân cực trí tuệ” là khả năng cao cấp hơn họ cần đạt tới.

Để đối phó với những ảo cảm trên đường Đạo, người môn sinh phải tiêu diệt hoàn toàn mọi phản ứng của y đối với sự công nhận (dù đến từ đối tượng nào: bởi nhân loại nói chung, bởi các đệ tử khác, hay bởi Chân sư và Thánh Đoàn). Y phải làm việc và phụng sự mà không cần bất kỳ công nhận, phần thưởng nào, thậm chí không cần được người khác biết tới.

Thầy Michael Robbins có đưa ra gợi ý một điều nữa trong công tác đối phó với ảo cảm này. Thầy nói hãy luôn quan sát Sự Giám Sát bên trong mỗi chúng ta. Nhờ vào kinh nghiệm và kiến thức ta tích lũy từ trước tới nay, nó sẽ lên tiếng khi chúng ta chuẩn bị phạm vào những ranh giới không được vượt qua của các Định Luật. Ta phải đảm bảo giữ bản thân mình trong kỷ luật và tình trạng đúng đắn, và nhớ rằng không cần phải lo lắng về tình trạng các đồng môn của mình. Vì đó là công việc mà họ sẽ phải tự lo liệu.

Không chỉ đối với riêng ảo cảm trên đường Đạo, mà tựu chung lại với tất cả ảo cảm, Chân sư DK nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu Raja Yoga và tuân thủ những điều răn của nó. Thông qua đó, người môn sinh có thể giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng của linh hồn. Những tia sáng đó sẽ giúp y có một tầm nhìn rõ ràng, phân biện, nhận ra bản chất thực sự của ảo cảm và sau đó là tự mình xua tan nó. Ngài khuyên chúng ta phải chú ý tới việc tham thiền, cố gắng thực hiện công việc suy ngẫm đều đặn suốt cả ngày.

Các ảo cảm tập hợp từ thư Chân sư DK gửi đệ tử thuộc nhóm hạt giống số 2 – nhóm giúp xua tan ảo cảm thế gian

Chân sư DK đã thành lập ra 10 nhóm hạt giống, bao gồm những đệ tử được chấp nhận vào Ashram của Ngài để cùng nhau thực hiện những nhiệm vụ phụng sự đặc biệt cho nhân loại. Một trong những nhóm được thành lập nhằm xua tan ảo cảm thế gian được gọi là nhóm hạt giống số 2 – nhóm của những nhà quan sát lão luyện. Nhóm này bao gồm 10 đệ tử. Họ đều là những người có kinh nghiệm trong việc đối phó với vấn đề ảo cảm: hầu hết các thành viên trong nhóm có các cung chính (cung linh hồn hoặc cung phàm ngã) thuộc cung 3 hoặc cung 6 hoặc cả hai – những năng lượng cung dễ tạo ra ảo cảm nhất và họ đã đạt được những thành công nhất định trong việc chống lại ảo cảm cá nhân của mình. 2 thành viên khác là DPR và DLR thì ngược lại, rất hiếm khi bị ảo cảm chi phối nhờ vào vận cụ là linh hồn cung 1 và phàm ngã cung 5 của họ. Người cung 1 sẽ loại trừ ảo cảm bằng mọi giá một khi nhận thấy ảo cảm đó đang cản trở con đường của mình. Người cung 5 có thế mạnh hiếm khi bị ảo cảm chi phối. Do vậy hai đệ tử này đặc biệt được lựa chọn cùng với tám đệ tử dày dặn kinh nghiệm đối phó với ảo cảm để lập nên nhóm hạt giống số 2 giúp xua tan ảo cảm ở cấp độ lớn – chính là ảo cảm thế giới.

Do vậy, trong chương này, tôi sẽ phân tích nội dung các bức thư Chân sư DK gửi các thành viên trong nhóm hạt giống số 2. Trong đó, Ngài đã giải thích chi tiết và cụ thể về ảo cảm cá nhân hoặc ảo cảm nhóm mà mỗi thành viên trong nhóm đang đối mặt. Tôi mong bản thân mình và người đọc sẽ học hỏi được nhiều điều về những ảo cảm mà một người đệ tử có thể gặp phải cũng như các cách mà Chân sư gợi ý để vượt qua chúng. Lưu ý: các bức thư này đều được lấy từ phần “Huấn thị cá nhân cho đệ tử” trong cách sách của Bailey (DINA I & II).

Thư gửi D.I.J

DIJ: cấu trúc cung II 6 – 417 và có mặt trời xử nữ. Lá thư đầu tiên Chân sư viết khi ông đã 59 tuổi (ông khá lớn khi gia nhập nhóm đệ tử của Ngài). Bậc tiến hoá của ông đang nằm giữa lần điểm đạo 1 và 2.

Trong bức thư gửi vào tháng 8 năm 1936, Chân sư DK đã nhắc nhở DIJ về việc đừng sa đà vào ảo cảm của việc mất người thân. Ngài nói, sự chết thực ra là một đại ảo tưởng. Người khác có thể chìm trong đau khổ và ảo cảm khi gặp hoàn cảnh này, nhưng ông thì có thể hiểu được bản chất thực sự của sự chia cắt vô thường này. Ngài gợi ý rằng ông hãy tưởng tượng mình đang đứng ở đỉnh cao của sự bình an, niềm vui cùng với linh hồn đứng tĩnh lặng. Ở đó, ông có thể nhìn vào thế giới của những người đang trong cũng như ngoài vòng luân hồi. Khi đó, ông sẽ thấy rằng không có sự chết hay chia cắt nào. Chỉ có tầm nhìn của linh hồn mới giúp ta vượt qua ảo cảm của đau khổ và quá khứ để thực sự nhìn thấy mọi thứ như chúng là. Và Chân sư cũng gợi ý thêm rằng ông hãy tìm kiếm sức mạnh mới nơi ánh sáng, hãy thoát khỏi nỗi đau buồn bằng cách giúp đỡ người khác. Nếu quá đau buồn, ông có thể kêu gọi sự giúp đỡ của Chân sư từ bên trong. Ngài luôn ở đó, bên cạnh ông. Đây thực sự là những lời an ủi rất lớn và sâu sắc mà Chân sư đã dành cho DIJ.

Ngài cũng nhắc nhở DIJ rằng việc phụng sự phải nằm trong khả năng của ông và đừng cố vươn ra ngoài năng lực hiện tại. Nếu không sẽ rất dễ tạo ra ảo cảm. DIJ theo Chân sư là đang phụng sự tốt cho nhóm của mình. Ông sở hữu một nguồn kiến thức dồi dào, sẵn sàng chia sẻ để giúp đỡ và hỗ trợ giải quyết vấn đề cho một số thành viên trong nhóm. Ông được Chân sư thấy rõ là đang hỗ trợ một thành viên trong nhóm là LTSK để y có thể vượt qua ảo cảm của mình. Ngài khuyên ông nên giữ vững phạm vi phụng sự của mình như vậy (bức thư tháng 2 năm 1938). Theo Ngài, DIJ gặp phải vấn đề là ông bị hoang mang và đặt tâm suy nghĩ quá nhiều về các vấn đề quá lớn của thế giới. Ông cần hiểu rằng đó là công việc của toàn bộ Huyền giai hành tinh, và các kế hoạch của thế giới vẫn đang được chăm lo và tiến triển tốt. Các vấn đề của thế giới không thể được giải quyết rốt ráo nhờ một cá nhân nào. Để làm được vậy, cá nhân đó phải thực sự giải phóng mình khỏi mọi điều ích kỷ, mù quáng, tầm nhìn không được thiển cận và không bị ảnh hưởng bởi môi trường, bối cảnh, truyền thống. Điều này quá khó nên phạm vi phụng sự của DIJ nên được giới hạn.

Trong một bức thư khác vào tháng 1 năm 1934, Chân sư đã nói rõ các đối tượng mà DIJ cần phụng sự. Ông nên bắt đầu từ việc giúp đỡ những người trong gia đình, xa hơn là các đệ tử đồng môn và trong môi trường của ông. Công việc không cần tăng lên nhưng ông cần luyện tập để liên tục tạo ra những suy nghĩ mang tính xây dựng, đóng góp khả năng và sự sùng kính về mặt trí tuệ cho nhóm. Nhờ vậy, chí nguyện và tình thương của nhóm sẽ được tăng cường. Đây mới chính là điều ông nên tập trung phụng sự, chứ không phải giữ ảo cảm hoang mang lo lắng về những vấn đề thế giới quá to lớn và vượt ngoài tầm ảnh hưởng của ông, cũng như dễ tạo ra những ảo cảm không cần thiết.

Theo Chân sư DK, DIJ đang mắc ảo cảm về định kiến quốc gia và truyền thống. Cụ thể là, ông không nên mang định kiến và đánh giá đúng sai đối với quan điểm của ai đó/nhóm người/đất nước nào đó. Chân sư nói: tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau đến từ nhiều loại người, nhiều chủng tộc, nhiều quốc gia; và Thánh đoàn nhìn thấy vẻ đẹp trong tất cả. Ngài tin rằng trái tim yêu thương của DIJ có thể tìm cách và sẽ nhận ra được điều này để thoát khỏi ảo cảm liên quan tới định kiến.

Trong bức thư gửi vào tháng 1 năm 1935 cho DIJ, Chân sư không đề cập tới ảo cảm riêng lẻ của ông mà đưa ra một ví dụ về cách mà cả nhóm đệ tử của Chân sư đã vượt qua khi ảo cảm giáng xuống cả nhóm. Ngài cho biết rằng làn sóng ảo cảm này đã qua đi nhờ vào việc phần lớn các thành viên trong nhóm đã trải qua một số khó khăn của phàm ngã trước đó. Các thành viên đã phải chịu đựng và giữ các kỷ luật khó khăn như sau: kỷ luật phục hồi, kỷ luật điều chỉnh, kỷ luật của sự khuyết tật thể chất, kỷ luật của sự cô lập bên trong, kỷ luật thanh lọc thể cảm dục, kỷ luật phục hồi sự thật và kỷ luật của ánh sáng. Dù bản thân tôi không hiểu hết về các loại kỷ luật này, nhưng chúng cho thấy sự khó khăn và gian truân mà những người chí nguyện đệ tử phải trải qua là nhiều và lớn nhường nào. Tuy nhiên, Chân sư cũng cho ta thấy rằng Ngài thực sự nhìn thấu được tất cả quá khứ, tương lai của người đệ tử. Ở các cõi giới bên trong, các đệ tử trong nhóm đều đi cùng nhau, đều được theo dõi và đào tạo với cùng một mục tiêu xuyên suốt.

Trong bức thư vào tháng 8 năm 1935, Chân sư có chỉ ra cho DIJ rằng rào cản chính mà ông gặp phải ở kiếp sống này, đứng dưới góc độ linh hồn, chính là vấn đề thể xác do ông luôn trong trạng thái căng thẳng và lo lắng quá mức. Chân sư khuyên ông nên vui lên vì ở đâu có niềm vui thì ở đó sẽ rất hiếm khi có ảo cảm và hiểu lầm. Tôi nghĩ đây là một điều đơn giản, nhưng ít khi tôi nghĩ tới như là một cách để “phòng tránh” ảo cảm. Giống như việc Chân sư hay nói rằng ở đâu có sự chỉ trích và than thân trách phận thì ở đó chắc chắn có ảo cảm.

Có một lần, sau khi nhận được bức thư từ Chân sư DK vào tháng 1 năm 1940 nói về việc DIJ cần loại bỏ ảo cảm về những khái niệm và định kiến quốc gia, DIJ có bày tỏ với AAB rằng ông thấy Chân sư cần thể hiện tình thương nhiều hơn đối với đệ tử. Trong bức thư vào tháng 8 năm 1940, Chân sư DK đã đáp lại lời nhận xét đó của DIJ. Chân sư thẳng thắn nói rằng thực ra, DIJ đã không bằng lòng với những gì Chân sư nói với ông về ảo cảm và định kiến quốc gia. Theo Ngài, khả năng phán đoán của DIJ bị lu mờ bởi ông giữ thái độ oán giận và coi một số lời thẳng thắn của Ngài là những lời chỉ trích. Do vậy, Ngài đã giải thích lại với ông rằng: “Tôi đã chọn em để được hướng dẫn và trở thành một phần trong nhóm đệ tử của tôi, và sự lựa chọn này, được em chấp nhận và đáp ứng, cho thấy mối quan hệ, hoạt động và lòng trung thành sẽ đối mặt em trong nhiều kiếp. Có bao giờ tôi, kể từ thời điểm mối quan hệ của chúng ta bắt đầu trong cuộc sống này, đã không đáp ứng được nhu cầu của em khi nhu cầu đó thuộc bản chất tinh thần, quyết định tính cách và định hướng tương lai? Chẳng phải sự đáp ứng như thế của tôi là biểu hiện của tình yêu thương đích thực sao? Tình yêu thương không phải là làm cho đối tượng của tình thương cảm thấy thoải mái một cách hời hợt. Nếu tôi gây ra phản ứng đó ở em, tôi sẽ không xứng đáng với sự tin tưởng và tín nhiệm của em, và về lâu dài, tôi sẽ không giữ được sự tôn trọng của em. Tình yêu thương là sự minh triết nhìn xa tìm cách duy trì ở đối tượng của tình yêu thương đó những sự nhạy cảm bảo đảm cho sự tiến bộ an toàn.”

Sự việc này cho thấy ảo cảm xuất hiện khi người đệ tử chú trọng vào những phản ứng cảm xúc trong thể cảm dục của mình (ví dụ: thấy khó chịu và coi những lời khuyên thẳng thắn là lời chỉ trích). Khi ảo cảm tác động, tư tưởng và suy nghĩ không thể rõ ràng và đúng đắn, rất dễ dẫn tới những suy tưởng sai lầm và tiêu cực. Hơn nữa, cách Chân sư DK đáp lại lời nhận xét của DIJ cũng cho thấy Ngài đã dành tình thương thực sự của linh hồn cho một người đệ tử như thế nào. Nếu như trong ảo cảm tình cảm, ta thấy rằng người gặp ảo cảm này sẽ cố gắng làm sao để được đối tượng họ thương dành tình thương lại cho họ, tạo ra một sự hài hòa ngay tức khắc. Cách mà Chân sư đối xử với đệ tử thì khác. Ngài nhấn mạnh rằng “Tình yêu thương không phải là làm cho đối tượng của tình thương cảm thấy thoải mái một cách hời hợt”, mà là làm những điều dù dễ gây hiểu nhầm, nói những lời khó nghe với đối tượng nhưng thực sự giúp họ thức tỉnh và phát triển theo chiều hướng đúng đắn. Đó mới là tình thương thực sự của linh hồn.

Thư gửi D.H.B

DHB: có cấu trúc cung là II 6 – 117. Ông được cho là đang ở giữa mức điểm đạo bậc 2 và bậc 3.

Trong bức thư gửi DHB vào tháng 2 năm 1936, Chân sư DK cho biết rằng DHB vừa trải trải qua một cuộc chiến khốc liệt với ảo cảm trong vòng 6 tháng vừa qua. Ngài ví con đường thanh luyện này như một sợi chỉ bạc chạy qua còn đường vàng kim của một đệ tử. Có nghĩa là, với tư cách là một đệ tử, ông sẽ thường xuyên phải trải qua các trận chiến để thanh lọc các bản chất thấp của mình. Nhờ việc thanh lọc đó, phàm ngã của ông sẽ nhận được nhiều ánh sáng hơn và trở nên hữu ích hơn với công tác phụng sự. Chân sư DK có gợi ý cho DHB một phương pháp có thể áp dụng trong những trận chiến như vậy. Ngài nói: “Chỉ cần đứng vững vàng, huynh đệ của tôi, và để cho sự hỗn loạn của cuộc sống và sự ồn ào của công việc lướt qua em mà không cần để ý. Hãy thiết lập bên trong em một điểm yên tĩnh và học cách rút lui ở đó và quên đi những điều xảy ra bên ngoài, sống cuộc sống của sự yên bình tinh thần”. Tức là, trên con đường tu luyện, chắc chắn sẽ có lúc chúng ta phải trải qua các cuộc chiến đấu khốc liệt, với ảo cảm hay với bất kỳ khía cạnh nào khác trong cuộc sống. Dù thế nào, thì điều ta cần nhớ là “sau cơn mưa trời lại sáng”, hay như câu chú nguyện trong bài thiền nhóm “Cầu xin sự đau khổ đem lại phần thưởng xứng đáng của ánh sáng và tình thương. Cầu xin tinh thần chế ngự ngoại thể và làm hiển lộ tình thương trong mọi diễn biến hiện thời”. Sau tất cả những khó khăn đó sẽ là sự thanh lọc, là sự hữu ích hơn của ta đối với thế giới. Vì vậy, khi khó khăn xảy ra, ta hãy tìm một điểm trụ tinh thần bên trong, đứng vững và để những hỗn loạn và khó khăn của cuộc sống lướt qua và không thể tác động tiêu cực tới bản thân mình.

Trong một bức thư khác gửi vào tháng 3 năm 1937, Chân sư lại nêu ra một ảo cảm mới mà DHB cần vượt qua. Đó là ảo cảm của sự chán nản do DHB cảm thấy thấp kém về mặt tinh thần (điều này không hề đúng và không dựa trên nhiều bằng chứng). Ông được cho là quá tập trung vào khía cạnh phản ứng giáng hạ của phàm ngã, mà quên đi phía ngược lại là những thành tựu về tinh thần mà ông đạt được. Chân sư cho biết rằng: 5 năm trước, DHB lại thể hiện nhiều sự kiêu hãnh về tinh thần. Lúc đó, ông có một ý thức chia rẽ lớn và một thể trí phát triển cao nhưng lại thể hiện nhiều sự phê phán. Bây giờ, ông lại chuyển sang một chiều hướng hoàn toàn ngược lại. Ông không thể hiện nhiều sự kiêu ngạo nữa, có thể nhanh chóng nhận ra những động cơ của hành động sai trái nổi lên bên trong mình, nhưng lại quá chú trọng vào những hạn chế này. Chân sư cho rằng điều này làm chậm lại biểu hiện tích cực về tinh thần của ông. Trong bức thư sau đó gửi vào tháng 9 năm 1937, Chân sư khuyên ông rõ ràng như sau “Tôi đã cảnh báo em chống lại cảm giác thấp kém sâu sắc đôi khi cản trở sự thể hiện cuộc sống của em. Tôi đã nói với em rằng hãy thường xuyên ở trong ánh sáng phát ra từ khuôn mặt của Thiên thần Hiện diện.” Theo tôi, điều mà Chân sư muốn truyền đạt ở đây là người đệ tử phải nhận thức sâu sắc về bản thân mình: không chỉ những khía cạnh tiêu cực cần nhận ra trong phàm ngã, mà còn cả những mặt tích cực, những biểu hiện của linh hồn mà bản thân đang hướng đến. Điều chúng ta cần hướng đến là sự cân bằng, nhìn nhận một cách toàn diện chứ không phải nghiêng hẳn về một thái cực nào.

DHB đã nỗ lực để vượt qua ảo cảm của sự chán nản tinh thần này. Nhờ đó, trong bức thư gửi vào tháng 2 năm 1938, Chân sư DK đã dành lời động viên cho ông và báo cho ông rằng nhờ những nỗ lực và sự kiên trì của ông thì nhóm hạt giống của ông vẫn toàn vẹn và tiến lên mạnh mẽ. Ngài nói cụ thể là: “Tôi muốn nhân cơ hội này để bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với sự hợp tác không ngừng nghỉ của em, được thực hiện khi đối mặt với trách nhiệm trần gian, khó khăn trong gia đình, ảo cảm cá nhân và sự chán nản sâu sắc. Bất kể điều gì đã xảy ra trong cuộc sống cá nhân và môi trường của em, em đã kiên định đứng vững và nhờ đó đã giành được nhiều thành công cho nhóm của mình.”.

Trong bức thư gửi vào tháng 8 năm 1940, Chân sư DK đã giải thích kỹ càng về cấu trúc cung của DHB: Linh hồn (cung 2), phàm ngã (cung 6) và một thể cảm dục (cung 1). Điều này tạo ra một tam giác khá mất cân bằng. Phàm ngã cung 6 trên đường lối cung mềm dễ đáp ứng với năng lượng linh hồn cung 2. Tuy nhiên, thể cảm dục cung 1 lại là một thể vô cùng mạnh mẽ, định hướng theo kiểu cuồng tín. Sự tương tác này tạo ra nhiều ảo cảm xung quanh DHB và ông phải làm tiêu tan chúng. Các ảo cảm này biểu hiện qua một số đặc điểm sau:

  • Tự hào và chắc chắn về những phán đoán của mình đối với những người khác.
  • Có xu hướng áp đặt ý tưởng và sự phán xét của mình lên người khác vì tin tưởng rằng các phương pháp y sử dụng là tốt nhất và đúng nhất cho tất cả mọi người.
  • Cứng rắn và kiên cường với chính mình và người khác. Chính ông đã trải qua nhiều khó khăn, đau khổ để bồi đắp sự kiên định của bản thân, nhưng ông lại khắc nghiệt phán xét những người không bền bỉ được như mình.

Chân sư DK nói xu hướng này thường biểu hiện ở những đệ tử đang cần học hỏi về sự khiêm tốn tinh thần thực sự. Tức là, các đệ tử phải học cách nhận ra rằng có nhiều cách, nhiều phương pháp và nhiều kỹ thuật đa dạng khác nhau thích hợp cho mọi người; chứ không phải là chỉ tồn tại một phương pháp duy nhất hiệu quả với bản thân y và tất cả những người khác. Do vậy, Ngài đề nghị rằng DHB cần trải qua một quá trình gọi là “tách rời bí truyền” khỏi nhiệm vụ của mình (dù là công việc tự chọn hay được chỉ định) để khắc sâu, biết được bước tiếp theo cần làm là gì cũng như trau dồi một lòng khiêm nhường tinh thần. Sau khi học được bài học này, Ngài nói rằng các đệ tử sẽ biết cách giữ “thái độ thúc đẩy, diễn giải và củng cố cách thức và phương pháp phù hợp với những người mà họ liên kết và làm việc cùng, hoặc những người mà họ đang cố gắng giúp đỡ. Hãy nhớ điều này, huynh đệ của tôi, và hướng tới mục tiêu tách rời khỏi bản thân mà không phân tán.”.

Trong bức thư gửi vào tháng 11 năm 1944, DHB được Chân sư tiết lộ là ông đang chuẩn bị cho một cuộc điểm đạo tiếp theo (có thể là cuộc điểm đạo thứ 3) và được huấn luyện để đảm nhận một nhiệm vụ đặc biệt với Đức Christ trong hai hoặc ba kiếp tới. Dần dần, nhiệm vụ này sẽ được tiết lộ cho DHB và cơ hội, sự khai mở ở phía trước sẽ là rất lớn. Những thông tin này đã gợi lên trong ông một phản ứng khá dễ hiểu (đặc biệt với phàm ngã cung 6 rất nhạy cảm với ảo cảm). Ông cảm thấy rằng mình vượt trội hơn so với các huynh đệ, và ông đang có một công việc đặc biệt phải làm cho Chân sư DK. Ông cũng gây ấn tượng với một số thành viên trong nhóm là ông sẽ kế thừa vị trí của bà AAB khi bà qua đời. Sau khi biết được điều này, bà AAB đã vô cùng lo lắng. Sau đó, DHB dường như đã rất dằn vặt và đau khổ khi biết rằng bà AAB và Chân sư DK đã nhận ra ảo cảm của mình.

Do vậy, Chân sư DK đã phải viết thư giải thích về điều này cho DHB vào tháng 8 năm 1946. Ngài khuyên rằng ông hãy quên đi tất cả những gì liên quan tới ảo cảm đã xảy ra trong quá khứ và tập trung vào hiện tại. Phàm ngã thuộc cung 6 có xu hướng chắc chắn về nhận thức chân lý của mình, nên rất dễ bị ảo cảm. Ngài và bà AAB nhận ra ảo cảm này nơi DHB nhưng điều này không bao giờ thay đổi những hiểu biết, tình thương và sự đánh giá cao mà Ngài và bà AAB dành cho ông. Thực tế là Chân sư DK cũng khá lâu không mắc ảo cảm, nhưng bà AAB cũng vừa bị ảo cảm tác động gần đây. Tức là, không chỉ chúng ta – những người chí nguyện sơ cơ nhỏ bé gặp khó khăn với ảo cảm, mà kể cả các vị đệ tử cấp cao hay các Đấng cao cả cũng “không thể quên những khó khăn gặp phải hay sự kinh hoàng trước ảo cảm”.

Thư gửi D.L.R

DLR có cấu trúc cung là I 5 – 567, với dấu hiệu mặt trời ở Cự giải và dấu hiệu mọc ở Thiên bình. Ông là một nhà hoạt động khoa học trong chính phủ Mỹ.

Lúc đầu, ông được chọn vào nhóm hạt giống số 1. Tuy nhiên, sau đó Chân sư đề nghị ông thử tham gia vào nhóm hạt giống số 2 – những nhà quan sát lão luyện nhờ xu hướng ít bị ảo cảm chi phối nơi ông (trong bức thư gửi vào tháng 7 năm 1934). Điều này có thể dễ nhận ra đối với những người mang linh hồn cung 1 và phàm ngã cung 5. Người cung 1 khi đã nhận biết được ảo cảm sẽ chiến đấu tới cùng để xua tan ảo cảm đó. Còn người cung 5 rất ít khi bị ảo cảm, mà chủ yếu phải chiến đấu chống lại ảo tưởng nhiều hơn.

Trong bức thư Chân sư gửi ông vào tháng 2 năm 1938, Ngài có nói rõ về vai trò của DLR trong nhóm hạt giống giúp xua tan ảo cảm thế giới. Chân sư cho biết rằng nhiệm vụ xua tan ảo cảm thế giới là một công việc nguy hiểm, bởi vì những luồng ảo cảm đó sẽ tác động tới nhóm nếu các thành viên trong nhóm không có thái độ “cứng rắn tích cực” khi đối mặt với các luồng ảo cảm đó. Ngài nói DLR có thể giúp xây dựng một bức tường bảo vệ xung quanh nhóm. Những phẩm chất cung 5 của ông, những kiến thức ông sở hữu sẽ giúp mọi người “đứng vững trong ánh sáng, an nghỉ trong bản thể thuần khiết và trở thành Người quan sát thực sự”. Đây là những tính chất cốt yếu cần phải phát triển để trở thành phẩm chất chung của nhóm hạt giống thứ 2. Khi DLR có thể tăng cường các phẩm chất này bên trong bản thân ông, nhờ đó sẽ thúc đẩy sự phát triển chúng trong những thành viên khác trong nhóm.

Cổ Luận đã có những dòng mô tả về nhóm những người giúp xua tan ảo cảm thế gian. Bản thân tôi và người đọc nhờ vào những dòng này có thể tưởng tượng ra phần nào công việc của nhóm 2. Nội dung những dòng đó như sau:

“Họ đến và đứng. Giữa những hình ảnh quay cuồng—một số đẹp hiếm thấy và một số kinh hoàng và tuyệt vọng—họ đứng vững. Họ không nhìn chỗ này hay chỗ kia mà hướng mặt về phía ánh sáng, họ đứng. Như vậy, qua thể trí của họ những luồng ánh sáng thanh tịnh làm tan sương mù.

“Họ đến và nghỉ ngơi. Họ ngừng lao động bên ngoài, tạm dừng để làm một công việc khác. Trong trái tim của họ là sự ngơi nghỉ. Họ không chạy đây đó, nhưng tạo thành một điểm bình yên và ngơi nghỉ. Cái mà trên bề mặt che đậy và che giấu sự thực bắt đầu biến mất, và từ trái tim đang nghỉ ngơi, một tia năng lượng làm tiêu tan chiếu ra, hòa với ánh sáng chói lọi, và sau đó màn sương mù của sự sáng tạo của con người biến mất.

“Họ đến và họ quan sát. Họ sở hữu con mắt của tầm nhìn; tương tự như vậy, họ sở hữu con mắt điều hướng đúng các mãnh lực cần thiết. Họ nhìn thấy ảo cảm của thế giới, và khi nhìn thấy, ghi nhận đằng sau nó tất cả những gì chân thực, đẹp đẽ, và là thực. Như vậy, qua con mắt của Bồ đề đạt được sức mạnh để xua đuổi những xoáy tròn ảo cảm che khuất của thế giới ảo cảm đó.

“Họ đứng, họ nghỉ ngơi, và họ quan sát. Đó là cuộc sống của họ và đó là sự phụng sự mà họ cống hiến cho thế giới loài người.”

Trong bức thư được gửi vào tháng 1 năm 1940, Chân sư DK đã chỉ ra một ảo cảm mà DLR đang mắc phải, ngăn cản sự biểu hiện của linh hồn ông. Ngài gọi đó là “ảo cảm của hoàn cảnh tiếp tục”. Theo như lời Chân sư giải thích, DLR có xu hướng thực hiện nhiều công việc lặp đi lặp lại hằng ngày một cách chăm chỉ và tận tâm. Tuy nhiên, đôi khi linh hồn DLR muốn biểu hiện khác đi, thúc đẩy ông thay đổi, làm cho ông có cảm giác “buồn nôn” và thất vọng đối với những điều lặp lại trong cuộc sống. Thay vì nhận ra biểu hiện đó của linh hồn, DLR lại cố tình dập tắt những thông điệp được gửi đi từ linh hồn. Mỗi sự nổi loạn bên trong đều bị ông dập tắt, mỗi khát vọng hướng tới sự thay đổi đều bị ngăn cản. DLR coi sự an toàn, ổn định và lặp lại là điều đúng đắn.

“Ảo cảm của hoàn cảnh tiếp tục” này đã được Chân sư phát hiện, và điều chỉnh lại suy nghĩ của DLR trong thư gửi ông. Ngài nói rằng nhận định về sự ổn định của DLR không phải lúc nào cũng đúng. Với tư cách là một đệ tử thế giới, ông đừng nên bám chấp vào những thành tựu của quá khứ, mà hãy mở rộng ra, tìm kiếm sự sống động và háo hức cho tương lai. Ông hãy nắm bắt lấy cơ hội khi nó xuất hiện, kể cả khi phải thay đổi nhịp điệu ổn định của phàm ngã ông. Cuộc đời của người đệ tử sẽ dẫn ông tới những cánh cửa rộng mở, phong phú, thoát khỏi ảo cảm của những điều quen thuộc như gia đình và môi trường xung quanh ông. Tuy vậy, có một lưu ý mà Chân sư nhắc nhở DLR là: ông với tư cách là một người đệ tử, phải thấy được bản chất thực sự của điều đang hướng dẫn và quy định mình. Ông phải tự phân biện được liệu sự nổi loạn bên trong ông đến từ sự ích kỷ của phàm ngã hay sự thôi thúc của linh hồn.

Thư gửi L.T.S.K

Cấu trúc cung của ông là III 6 – 513, mặt trời Hổ cáp và mọc Sư tử. Phàm ngã cung 6 và linh hồn cung 3 của ông chính là tác nhân làm ông vô cùng nhạy cảm với các loại ảo cảm.

LTSK là người duy nhất trong nhóm đệ tử của Chân sư chưa đạt điểm đạo bậc 1. Ông được Chân sư tiếp nhận vào nhóm vì đã quyên góp tiền giúp in sách giáo lý của Chân sư DK ra đại chúng. Ngài nói rằng “Thánh Đoàn không bao giờ vô ơn, vì lòng biết ơn là dấu hiệu của một linh hồn giác ngộ và là tác nhân giải thoát cơ bản từ góc độ khoa học và huyền linh”. Do vậy, ông đã được Ngài dìu dắt cho dù có những lúc ảo cảm cá nhân ông quá mạnh, gây ảnh hưởng lên nhóm tới mức Chân sư đã tạm thời mời ông ra khỏi nhóm. Sau khi LTSK giải quyết được phần nào vấn đề của mình, ông được trở lại để nhận sự bảo vệ từ Chân sư và các thành viên khác trong nhóm.

Chân sư DK đã dùng những ví dụ mang tính hình tượng để mô tả về tình trạng ảo cảm của LTSK trong bức thư gửi vào tháng 7 năm 1933. Đây cũng là một thử thách chung mà mọi người chí nguyện đều gặp phải. Ngài viết “Trong nhiều năm em đã giống như một người đứng trong phòng quay lưng vào cửa sổ – một cửa sổ thật đáng buồn, cần làm sạch, ánh sáng trong phòng đã mờ và chỉ khuyếch tán một phần”. Hình ảnh cửa sổ ở đây giống như tầm nhìn và con mắt tâm linh của LTSK. Nó “thật đáng buồn” và cần được làm sạch, bởi vì cuộc đời ông chủ yếu bị chi phối bởi ảo cảm. Ngài cho biết ảo cảm làm cho LTSK không thể nhìn thấy bản chất thực sự của mọi thứ vì tất cả đều bị méo mó.

Ông được Chân sư kêu gọi phải vượt qua ảo cảm trước tiên. Ngài viết “Trước khi ánh sáng mặt trời có thể chiếu sáng vào thời điểm bình minh, sương mù phải tan đi – một làn sương mù làm méo mó và che dấu”. Tức là, nhờ việc chiến thắng được ảo cảm, trí tuệ thực sự sẽ được sinh ra, ánh sáng của linh hồn có thể có cơ hội toả rạng vào cuộc sống của phàm ngã. Chân sư DK còn nêu rõ chỉ dẫn mà những người chí nguyện như LTSK có thể tham khảo để vượt qua ảo cảm và tiếp tục tiến bộ trên con đường tinh thần là:

  • Sự tăng trưởng ổn định của ánh sáng linh hồn có được bằng cách tham thiền và phụng sự vô kỷ.
  • Hãy sống như một linh hồn và đừng dành quá nhiều thời gian xem xét lỗi lầm của quá khứ. Mặc dù việc tự dằn vặt sẽ xảy ra tự nhiên khi mới tiếp xúc với linh hồn, nhưng hãy hướng mắt về linh hồn và nhờ ánh sáng của nó dẫn y tới nơi nó muốn.
  • Sống trong thế giới của con người nhưng hãy quan tâm tới thế giới mà các Đấng cao cả đang làm việc.
  • Hãy trụ vững trong ánh sáng của nhóm linh hồn y đã tìm được và đừng trở lại lối mòn quen thuộc.

Trường hợp của LTSK đã cho tôi hiểu được rõ ràng hơn lý do tại sao Chân sư chỉ tiếp cận và cho phép đệ tử vào nhóm khi họ thực sự “sẵn sàng”. Công việc của một nhóm Ashram của Chân sư xây dựng là một nhiệm vụ tập thể, đem lại lợi ích cho thế giới ở một tầm vóc lớn. Mỗi thành viên đều phải tiến hoá ở một mức độ nhất định, đã vượt qua đủ thử thách để có thể vững vàng cống hiến vô kỷ cho công việc phụng sự nhân loại và vượt qua những khó khăn, thậm chí “cạm bẫy” trên con đường này. Với trường hợp của LTSK, trong bức thư gửi vào tháng 3 năm 1934, Chân sư cho biết cạm bẫy ông mắc phải là ảo cảm tin tưởng và sùng kính một vị thầy giả mang hình ảnh của Chân sư DK trên cõi trung giới. Vị thầy giả này đã dùng những lời lẽ theo tôi đoán là lời khen ngợi, cổ vũ để thu hút sự chú ý của LTSK và gợi lên trong ông một lòng sùng kính mang tính cảm dục. Vấn đề ảo cảm của LTSK đã làm ảnh hưởng nhiều đến công việc chung của nhóm. Cụ thể là hoạt động của nhóm trong 6 tháng đã bị chững lại, chủ yếu là vì ông.

Ông còn gặp vấn đề về ảo cảm thẩm quyền. Ông mong được Chân sư chỉ dẫn, cung cấp thông tin đâu là đúng đâu là sai, và sẵn sàng sửa đổi để phù hợp với mong muốn của Ngài. Tuy nhiên, Ngài không bao giờ mong đệ tử của mình hoàn toàn chấp nhận lời Ngài nói, cúi đầu trước uy quyền mà không dựa vào trực giác của chính mình để suy ngẫm. Ngài viết “Tôi không có thẩm quyền, huynh đệ của tôi, và tôi không bao giờ tuyên bố có nó….Những gì mà vị thầy của em, tôi, trong quá khứ có thể nghĩ là không quan trọng. Những gì người khác có thể nghĩ và nói rất không quan trọng. Điều quan trọng đối với em hôm nay là nhìn thấy rõ ràng, nói sự thật với chính mình và bước đi trong ánh sáng—điều em chưa bao giờ làm được trong một khoảng thời gian dài.” Tức là, ông hay những người chí nguyện khác cần học cách tự phân biện, tự đưa ra quyết định nhờ vào một thể trí được linh hồn soi sáng thay vì bằng mọi giá tuân thủ uy quyền của người khác hay một Đấng nào nó.

Một điều mà ta có thể phát hiện ra khi đọc bức thư gửi vào tháng 2 năm 1936 là khi một người đệ tử bao quanh bởi ảo cảm, Chân sư sẽ không thể liên lạc được với y và cũng không nên tìm cách làm điều đó. Trong thư, Ngài cho biết rằng khi một người đệ tử thâm niên hơn (ví dụ ở cấp độ Chân sư) hướng sự chú ý đến người ở cấp độ tâm thức thấp hơn, sẽ tạo ra một sự kích thích nhất định và ảo cảm của người ở cấp độ tâm thức thấp hơn đó sẽ bị tăng cường.

Rất may, tình trạng ảo cảm của YTSK đã đỡ dần theo thời gian nhờ vào việc ông từ bỏ kế hoạch và những dự định phàm ngã của mình (thư gửi tháng 2 năm 1937). Kéo theo sự từ bỏ đó, màn sương ảo cảm của ý nghĩ mưu mẹo (ảo cảm cung 3) dựa trên tham vọng của phàm ngã đã bị xua tan phần nào. Chân sư khuyên ông phải giữ để tình trạng ảo cảm không tái phát, do cung 6 và cung 3 – hai cung quy định phàm ngã và linh hồn ông là các cung dễ gặp ảo cảm nhất trong số 7 cung năng lượng. Ngài chia sẻ với ông hai điều rất hữu ích nếu ông có thể tiếp thu. Một là: đừng chú tâm quá vào cái tôi của mình, và cũng đừng quan trọng hóa bản thân. “Thế giới vẫn tiếp tục trên con đường của nó và hành tinh tiếp tục xoay quanh dù em phụng sự hay không….Tất cả mọi người phụng sự là cần thiết tại thời điểm này…..nhưng em sẽ vô hiệu quá tính hữu dụng và rút ngắn thời gian phụng sự của em bởi vì sự nghiêm trọng hóa của bản thân em”. Điều thứ 2 là: hãy yêu thương huynh đệ của ông nhiều hơn. Thay vì chỉ chăm chăm vào yếu tố thực hiện công việc và lý tưởng, ông cần tiếp cận những người xung quanh như những người ông có thể yêu thương và giúp đỡ. Ông hãy dành thời gian để tìm hiểu mọi người vì bản thân họ, chứ không phải vì tính hữu ích của họ trong công việc. Tuy nhiên, Chân sư khuyên ông đừng quá nghiêng về một thái cực nhất định, mà nên tìm sự cân bằng khi thực hiện những lời khuyên của Ngài. Hai đoạn mang tính hình tượng Ngài dùng để mô tả lời khuyên của mình dành cho ông là:

“Lửa tôi tạo ra phải nóng, nhưng không đốt cháy; nhờ sự ấm áp của nó, nó phải thu hút những người cần sức nóng của nó; nó không được xua đẩy những linh hồn tìm kiếm thông qua sự dữ dội. Đó là lửa của tình thương, chứ không phải là ngọn lửa khát vọng của tôi”.

“Việc phụng sự mà tôi phải làm là cho những linh hồn chứ không phải cho tôi trên đường đạo. Như vậy tôi sẽ đáp ứng được nhu cầu, và quên lãng bản thân, lời nói và nơi chốn của tôi, dẫn dắt những người khác về phía ánh sáng”.

Bức thư gửi vào tháng 2 năm 1938 là một bức thư rất quan trọng. Tình trạng của LTSK lúc đó khá nghiêm trọng vì ông được nhận định là đang bị rất nhiều ảo cảm bủa vây. Chân sư chọn viết bức thư đó như một nỗ lực cuối cùng để giúp LTSK vì thực sự Ngài không thể giúp gì hơn được nữa nếu ông không tiếp thu những nội dung trong bức thư. Cụ thể, LTSK từng được chỉ định để hỗ trợ một số công việc đã được Chân sư khởi xướng từ năm 1919. Tuy nhiên, với tình trạng ảo cảm lúc đó, ông đã mắc những lỗi nghiêm trọng như sau:

  • Ảo cảm coi việc không quan trọng là thiết yếu và bỏ qua hoặc lơ là những việc quan trọng (ảo cảm chung): thay vì thực hiện nhiệm vụ được giao, ông cố gắng tự khởi đầu các hoạt động, nỗ lực và đầu tư thời gian vào những điều phàm ngã ông cảm thấy quan trọng. Ông đã tự tổ chức các hoạt động không liên quan tới hoạt động nhóm, tạo ra các mối quan hệ cũng không liên quan đến công việc đã được thực hiện. Ông thậm chí còn muốn đưa vào nhóm đệ tử của Chân sư DK một người chí nguyện vốn chưa làm việc ở cấp độ mà các đệ tử chính thức đang làm việc.
  • Ảo cảm về sự bận rộn, quá năng động (ảo cảm cung 3): ông bị xoay vòng trong những ý tưởng phụng sự mà ông tự cho là cần phải làm, thay vì hợp tác với công việc hiện tại đang được thực hiện trong nhóm của Chân sư. Ông không giữ đường lối phụng sự rõ ràng, mà bận rộn với những công việc phụng sự vốn không phải của ông.
  • Ảo cảm hoạch định/kế hoạch (ảo cảm cung 3): ông nhạy cảm với Thiên cơ nhưng lại bận rộn với kế hoạch riêng của mình (ông tin đó là một phần của Thiên cơ). Tuy nhiên, các kế hoạch của ông thường không thành công trong việc thực hiện.
  • Ảo cảm của tham vọng tinh thần: ham muốn được trở thành một người lãnh đạo nhóm theo Thiên cơ, muốn có được một nhóm của riêng mình. Khi được kêu gọi hợp tác với một nhóm đã hoạt động sẵn, ông tiếp tục với ước mơ của riêng mình và bỏ qua nhiệm vụ được giao.
  • Ảo cảm của việc muốn thống trị tinh thần hoặc kiểm soát người khác: vì muốn được làm người lãnh đạo tinh thần, ông luôn tìm kiếm và thu nhận những người không thực sự có năng lực lớn về mặt tinh thần và năng lực của họ được ông phóng đại.

LTSK phải thực sự nghiêm túc trong việc giải quyết các ảo cảm này, và sau đây là một số gợi ý từ Chân sư để giải quyết các ảo cảm kể trên:

  • Các kế hoạch của riêng ông thường sẽ không thành công vì chúng thiếu nguồn năng lượng nhóm – điều sẽ đảm bảo cho sự thành công của chúng. Tại sao ông phải tổ chức một nhóm riêng mà không hợp tác với một nhóm sẵn có? Việc cứ chăm chăm muốn thành lập một cái của riêng mình phải chăng chỉ để thỏa mãn ham muốn làm một vị lãnh đạo tinh thần của phàm ngã?
  • Sự thành công của các công việc lớn phải dựa vào việc các nhiệm vụ nhỏ được hoàn thành chính xác và không có tham vọng cá nhân của đệ tử tham gia vào.
  • Công việc xua tan ảo cảm thế giới chỉ thành công bởi những người đệ tử đã giải quyết hiệu quả những ảo cảm cá nhân của họ.
  • LTSK vẫn còn có cơ hội để tiếp tục với nhóm nhưng phải chấp nhận việc:
    • Từ bỏ các kế hoạch, tư tưởng lớn tự mình định ra,
    • Khiêm tốn và dành phần còn lại của cuộc đời chỉ để làm những không việc nhỏ đằng sau hậu trường và không cần ai biết tới.

Vào tháng 2 năm 1939, Chân sư DK đã quyết định sẽ đưa LTSK ra khỏi nhóm vì khuynh hướng liên tục bị ảo cảm ở ông đã cản trở công việc của nhóm rất nhiều. Tuy nhiên, Ngài luôn nhắc LTSK rằng mối liên kết nghiệp quả giữa Ngài và ông vẫn sẽ không bị gián đoạn. Nếu trong kiếp sống này ông chưa thể xua tan được ảo cảm, thì kiếp sống sau những mối liên hệ nghiệp quả này vẫn sẽ trở lại. Và vị trí của ông vẫn luôn được để mở, để ông có thể thay đổi và trở lại với nhóm trong tương lai.

LTSK đã nỗ lực rèn luyện trong nhiều năm để tiếp tục xua tan đi ảo cảm cá nhân. Nhờ vậy, vào tháng 6 năm 1942, Chân sư đã thu nhận ông trở lại với nhóm đệ tử của mình và mở ra cho ông một cơ hội phụng sự mới. Ngài cho biết rằng ông cần tập trung thực hiện nhiệm vụ đã nhận làm. Tất cả những gì nằm ngoài phạm vi của công việc thì hãy coi là một sự lạc hướng. Sự thành công sẽ đến nếu ông bước đi một cách khiêm tốn, với sự thận trọng để biết rằng các hình tư tưởng cũ vẫn tồn tại và Kẻ chặn ngõ sẵn sàng tận dụng mọi điểm yếu của ông để đưa ông trở lại với những ảo cảm và nhịp điệu tiêu cực xưa cũ.

Tuy nhiên, ảo cảm lại trở lại bủa vây lấy LTSK bất kể lời cảnh báo trước đó của Chân sư DK. Ông lại mắc phải một ảo cảm mới, được đặt tên là ảo cảm về một giấc mơ phụng sự (thư tháng 12 năm 1942). Ông phóng đại vai trò của bản thân như một người phụng sự và tầm vóc công việc ông đảm nhiệm, được tạo ra bởi những làn sương mù của ảo cảm. Những ảo cảm này chắc chắn sẽ bị tan vỡ khi những gì ông nghĩ là ông có thể đạt được sẽ thất bại. Mặc dù Chân sư và mọi người trong nhóm không có ý định can thiệp vào mối liên hệ nghiệp quả của ông và nhiệm vụ ông được giao, nhưng sự bất mãn về tâm linh và khát vọng của ông sẽ làm cản trở dòng chảy tự do của sức mạnh tinh thần, minh triết và ánh sáng – điều mà không chỉ ảnh hưởng đến ông, nhiệm vụ của ông mà còn tác động tiêu cực tới cả các bạn đồng môn trong nhóm. Điều ông cần trau dồi là nhận thức đúng đắn về mặt tỷ lệ: giấc mơ của ông phải trùng khớp với thực tế. Thực tế là: phụng sự ở thời điểm hiện tại đang rất khó khăn và người phụng sự sẽ rất dễ vỡ mộng về việc mục tiêu mình luôn mơ ước không thể hoàn thành. Lý do là sức mạnh tinh thần của nhân loại hiện tại vẫn kém hơn so với lực kéo của vật chất. Mặc dù, một ngày nào đó sức mạnh của tinh thần sẽ chiếm ưu thế, nhưng không phải là thời điểm hiện tại. Ông – với tư cách là một người phụng sự không nên xem xét các mục tiêu hay khả năng vĩ đại, mà hãy tập trung vào mục tiêu thực tế hiện tại.

Một lần nữa, Chân sư lại phải viết về tình trạng bị vướng mắc vào ảo cảm của LTSK trong bức thư gửi ông vào tháng 9 năm 1943. Ông vẫn chìm đắm trong khát khao muốn là người lãnh đạo của một kế hoạch lớn nào đó để cứu rỗi thế giới. Cụ thể, ông đã viết ra một kế hoạch – mà Chân sư đánh giá nó đơn giản chỉ là “tổng hợp lại một số đề xuất quen thuộc được trình bày ở một dạng dễ hiểu hơn với công chúng”. Trong khi đó, công việc mà Chân sư DK muốn ông hoàn thành, nhiệm vụ mà Ngài và cả nhóm đệ tử cùng cam kết thực hiện lại bị ông coi nhẹ. Một cách thẳng thắn, Ngài đã chỉ ra cho ông những sự thật mà ông cần chấp nhận trong kiếp sống này của mình:

  • Chấp nhận rằng ông cần được bảo vệ bởi Ashram và biết ơn vì điều này.
  • Chấp nhận là trong kiếp sống này, ông không có đủ tầm nhìn rõ ràng và một thể trí tiến hóa đến mức trở thành một nhà lãnh đạo, tổ chức có thể thiết kế những kế hoạch mang tầm vóc của thế giới.
  • Chấp nhận là ông đã quá già để đạt được nhiều thay đổi trong phàm ngã (vì phàm ngã cung 6 kết tinh quá nhanh).
  • Chấp nhận là ông chỉ cần thực hiện các nhiệm vụ trong phạm vi gia đình, việc kinh doanh, cố gắng mang lại hạnh phúc cho những người xung quanh.

Tóm lại, hãy hướng tới một cuộc sống phụng sự đơn giản, khiêm tốn và quên mình. Hãy sống với một thể trí được soi sáng và ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với linh hồn. Hãy quên đi những mong ước khám phá khoa học và trật tự thế giới của tương lai. Cứ khi nào ông bận rộn với những ý tưởng quá phổ quát, ông sẽ rơi vào tình trạng bối rối và ánh sáng linh hồn lúc đó không thể soi rọi được.

Sau rất nhiều sự lên xuống về tình trạng ảo cảm, Chân sư DK cuối cùng đã gửi một bức thư vào tháng 11 năm 1944 nói về tình trạng ảo cảm của LTSK đã được cải thiện nhiều, tới mức làm Ngài nhạc nhiên. Trong bức thư này, Chân sư cũng đưa ra những giải thích vì sao trong kiếp này LTSK lại bị ảo cảm bủa vây lên xuống với một tần suất dày đặc như vậy. Ngài cho biết rằng ảo cảm của ông trong kiếp này là tập hợp từ ba kiếp trước và chúng được thể hiện một cách nhất tâm và mạnh mẽ thông qua thể cảm dục cung 1. Thậm chí trong kiếp trước, ông từng lang thang trên con đường của hắc đạo, và xu hướng này vẫn có thể còn đó. Chính vì vậy, trong kiếp này và một số kiếp sau nữa, ông cần nhận sự bảo vệ của Ashram của Chân sư. Hơn nữa, phàm ngã cung 6 cùng thể xác cung 3 lại càng kích thích sự phát tác của ảo cảm. Trong kiếp này và kiếp sau, ông cần trau dồi thể trí và có thể sẽ tiếp nhận một thể cảm dục cung 2 để trau dồi thêm tình thương và ánh sáng, tạo ra một sự chuyển hóa vĩ đại. Tất cả chỉ là vận cụ giúp LTSK trau dồi thêm, nhưng kết quả thế nào thì vẫn sẽ phụ thuộc vào sự nỗ lực của ông. Từ ví dụ này, tôi nhận ra rằng: chính những cung năng lượng quy định các thể của mình trong kiếp sống này là bài học mình cần giải quyết. Không chỉ biến những biểu hiện thấp của cung thành biểu hiện cao, mà còn phát huy, làm rực rỡ hơn, biểu hiện thường xuyên hơn những phẩm tính tốt của các cung đó.

Tôi muốn đưa một số điều liên hệ với bản thân ở đây. Tình trạng này của LTSK làm tôi nhớ đến một số khát vọng “viển vông” của bản thân trong quá khứ. Với giả thiết là tôi đang mang phàm ngã cung 6 và thể cảm dục cung 6, tôi từng nghĩ rằng mình cần phải làm cái gì đó rất lớn, ảnh hưởng đến nhiều người mà không tự nhận thức được giới hạn của các vận cụ của mình. Sau khi đã trải qua một thời gian học tập và suy ngẫm, tôi đã bỏ đi rất nhiều những ước mơ của phàm ngã ngày xưa, thường mang tính ích kỷ và muốn khẳng định bản thân nhiều hơn là khao khát được phụng sự và tạo giá trị cho người khác. Bây giờ, tôi muốn thu hẹp lại phạm vi phụng sự của mình vì những vận cụ về thể trí và sự tiếp xúc với linh hồn của tôi còn nhiều hạn chế. Tôi sẽ cố gắng phụng sự tốt trong phạm vi gia đình, trường MF và nơi tôi làm việc. Cố gắng làm thật tốt, hiệu quả, thầm lặng, không cần ai công nhận hay biết đến. Bản thân vẫn cố gắng học tập không ngừng, giữ nhịp độ tham thiền và luôn cởi mở để giúp bản thân tốt lên mỗi ngày. Từng đó việc tôi nghĩ đã đủ để mình không có thời gian trống trong kiếp sống này.

Thư gửi D.P.R

Cấu trúc cung của ông là I 5 – 423, có dấu hiệu mặt trời tại Song ngư và dấu hiệu mọc tại Kim ngưu. Với mô hình cung năng lượng này, nhìn chung, DPR ít bị chi phối bởi ảo cảm. Ông cùng DLR là những người mang linh hồn cung 1 và phàm ngã cung 5, tham gia cùng nhóm để xây dựng một bức tường vững chắc bảo vệ nhóm.

DPR từng phải trải qua một giai đoạn khó khăn khi phải chịu đựng nhiều đau đớn về mặt thể xác, nhưng vẫn không hề nao núng. Chân sư DK đã dành nhiều lời động viên cho ông, và chia sẻ một điều hữu ích là: mọi người chí nguyện, khi đã đạt tới tình độ tâm thức tiến hóa để được chấp nhận vào Ashram của Ngài đều sẽ phải đối mặt với những khó khăn như vậy. Đây là những bài kiểm tra và phép thử dành cho người đệ tử. Tất cả mọi người đều sẽ phải đấu tranh với ảo cảm, nhiều món nợ trên cõi trần, sự hạn chế về tài chính, và nhiều mất mát. Tức là, chúng ta khi tiến bộ và trở thành một phần trong vòng ảnh hưởng của nhóm Chân sư, chắc chắn cũng sẽ phải vượt qua những khó khăn tương tự, đặc biệt là trong lĩnh vực đấu tranh với ảo cảm. Ta cần chuẩn bị tinh thần cho những điều này, cải thiện bản thân để đối phó một cách chủ động khi nó xảy đến.

Trong bức thư gửi vào tháng 2 năm 1938, Chân sư DK đề cập đến một điểm thú vị là rất nhiều đệ tử đồng môn cùng trong nhóm hạt giống số 2 với DPR có thể trí cung 4. Các đệ tử có thể trí cung 4 thường được chọn để thực hiện hoạt động xua tan ảo cảm. Ngài giải thích rằng cõi cảm dục và ảo cảm thế gian được tạo ra bởi sự tương tác của các cặp đối lập. Chúng xung đột với nhau. Do vậy, hoạt động của cung 4 sẽ giúp đem lại sự hòa hợp cuối cùng thông qua xung đột trên cõi cảm dục.

DPR gặp phải một ảo cảm cá nhân gọi là “phức cảm của người mẹ che chắn”. Ông có xu hướng gánh vác trách nhiệm và đưa ra mọi quyết định cuối cùng giúp người khác. Chân sư nhắc rằng ông cần giúp những người khác có cơ hội được học các bài học cần thiết cho sự tiến hóa của họ. Ông đừng tìm cách nâng niu và che chắn họ quá mức. Từ ví dụ này, ta có thể thấy không phải lúc nào giúp đỡ người khác nhiệt tình cũng là tốt. Ta cần đứng dưới góc nhìn khách quan, xem xét điều ta cần làm để tốt nhất cho sự phát triển của người đó.

Thư gửi L.U.T

LUT có biểu đồ cung là II 1 – 463. LUT vướng mắc vào một ảo cảm rất phổ biến là ảo cảm muốn kiểm soát người khác. Ông có vẻ như đã ép buộc lý tưởng của ông lên con gái mình, buộc em phải đi theo con đường mà ông mong muốn. Trong khi đó, ông cần hiểu rằng con gái mình cũng là một linh hồn và em có con đường riêng để đi. Việc ông cần làm là dành cho em một thứ tình yêu vô kỷ và vô điều kiện – tình thương của linh hồn.

Chân sư DK còn cho biết rằng LUT thường xuyên gặp phải ảo cảm của sự chỉ trích và than thân trách phận (thư gửi tháng 1 năm 1934). Ngài đã cung cấp cho ông một bài thiền để giúp ông vượt qua được ảo cảm này. Bài thiền gồm các tư tưởng hạt giống mà ông phải suy ngẫm với sự chú ý và tập trung nhất tâm. Bài thiền không chỉ giúp LUT vượt qua ảo cảm mà còn giúp ông phát triển tình thương và sự hòa nhập đúng đắn với nhóm ông đang làm việc.

  • Tháng 1: Tôi không suy nghĩ gì. Tôi không mơ giấc mơ nào có thể làm hại huynh đệ của tôi, và vì thế làm mờ ánh sáng của họ.
  • Tháng 2: Tôi nhìn thấy huynh đệ của tôi trong ánh sáng và cùng đi với họ trên Con đường.
  • Tháng 3: Tôi không nói những lời mà có thể điều hướng suy nghĩ của người khác và do vậy sẽ gây hại. Tôi bảo vệ huynh đệ tôi khỏi mọi lời nói có hại.
  • Tháng 4: Tôi nghe thấy âm điệu của huynh đệ tôi, và tôi hòa trộn note riêng của tôi với âm điệu đó.
  • Tháng 5: Tôi cống hiến tất cả thành tựu quá khứ, tình yêu, và sự hiểu biết của tôi cho nhóm.
  • Tháng 6: Minh triết của tôi, sức mạnh và quyền năng đó thuộc về tất cả. Tôi phải đào sâu điều này, và với tình yêu, đóng góp cho toàn thể.

Ông được khuyên là phải lập tức dập tắt mọi hành động chỉ trích, dừng lại những suy nghĩ không yêu thương người khác.

LUT cũng gặp phải một ảo cảm rất lớn là ảo cảm hận thù. Đây dường như là thử thách lớn nhất của ông trong kiếp sống này, nên từ khóa đầu tiên dành cho LUT là Love – yêu thương người khác bằng tình thương của linh hồn. Ông gặp khó khăn trong việc yêu thương mọi người. Trong lòng ông có nhiều cảm giác chán ghét mạnh mẽ dành cho một số người ông biết. Chân sư giải thích rằng: mỗi người tới với ông đều có một nhu cầu nhất định. Ông đã bước đi trong ánh sáng, còn nhiều người họ thì không. Do vậy, trách nhiệm của ông là thấu hiểu và bao dung với họ. Chỉ khi ông yêu thương những người ông căm hận như một linh hồn yêu thương, ông mới có thể bước vào con đường giải thoát.

Một ảo cảm nữa mà LUT gặp phải là ảo cảm của phàm ngã tĩnh tại (thư gửi tháng 9 năm 1936). Sau khi vượt qua một số khuynh hướng thấp trước đây của mình, ông thấy quá mệt mỏi như thể không thể làm gì được nữa. Phàm ngã muốn bỏ cuộc của ông làm cho dòng chảy của các năng lượng trên con đường Đệ tử bị chặn lại. Khủng hoảng và các vấn đề cá nhân có vẻ là quá lớn đối với LUT, nên ông không nhìn được mọi thứ một cách đúng đắn. Chân sư mô tả tình trạng của LUT như sau: ông giống như một người bệnh nhân đã chiến thắng trong trận chiến, nhưng yếu đến nỗi chưa biết điều đó. Người này không còn mong muốn trở lại cuộc sống, không còn sức lực để làm gì, hoàn toàn thụ động và không quan tâm. Do vậy, điều mà Chân sư thấy cần phải làm để LUT vượt qua ảo cảm của phàm ngã tĩnh tại này là giúp ông cảm thấy cuộc sống thật hạnh phúc và có ý nghĩa. Nhờ vậy, năng lượng của linh hồn và mong muốn phụng sự có thể tuôn chảy trở lại nơi ông. Ban đầu, Ngài đề nghị ông nên viết nhật ký tâm linh, trả lời một số câu hỏi để luôn tìm ra những điều đẹp đẽ trong đời sống tinh thần của mình. Tuy nhiên, khi ảo cảm phàm ngã tĩnh tại này của ông quá trầm trọng, Ngài đề nghị ông dừng lại tất cả các công việc bí truyền ông đang làm (bao gồm các bài thiền, suy tư cá nhân, ghi nhật ký tâm linh,…), và bắt đầu giữ những liên kết chắc chắn với các đệ tử trong nhóm. Nhờ việc thu hút sức mạnh của các đồng môn, sức mạnh của LUT sẽ trở lại ở một mức độ nào đó. Chân sư DK nhắn nhủ với ông rằng: “Hãy để sức mạnh và tình thương của họ tràn qua em để tăng cường em. Hãy để các mãnh lực phục hồi của ánh sáng và tình thương làm công việc của chúng trong em và mong đợi kết quả”. Ta có thể thấy rằng: không đệ tử nào làm việc một mình, mỗi cá nhân sẽ góp phần tạo nên sức mạnh của cả nhóm và cũng luôn được bảo vệ và hỗ trợ bởi nhóm. Tất cả vì một mục tiêu phụng sự chung cho Thiên cơ.

Trong bức thư gửi vào tháng 7 năm 1939, Chân sư khuyên LUT nên cẩn thận với ảo cảm của sự bận tâm. Ảo cảm này thường xảy ra với người đệ tử có phàm ngã cung 1. Y có xu hướng quá nhất tâm trong một việc nào đó (việc phụng sự, một dòng suy nghĩ hay một hoạt động nào đó) hay một cá nhân/nhóm nào đó. Chân sư liệt kê những mối bận tâm của LUT như sau: bận tâm tới những gì liên quan tới ông, những gì ông thích, cảm giác về thể chất và tình cảm của ông, bận tâm tới phản ứng của ông với môi trường và con người xung quanh (tiền bạc, sức khỏe, tính cách của người khác). Những bối bận tâm này lớn và tập trung tới mức ông không thấy thực tại mà ông có thể thấy, và không nhận được niềm vui thực sự nào từ công việc phụng sự. Ông thậm chí còn biểu hiện nhiều cảm giác khó chịu, sự trầm cảm và u uất, tự thương hại bản thân. Đây chính là biểu hiện của phàm ngã cung 1 cô lập kiểm soát. Giải pháp là phàm ngã này phải được chi phối bởi linh hồn cung 2.

Xu hướng quá nhất tâm, quá bận tâm tới những điều nhỏ hẹp này cản trở sự mở rộng của tâm thức và khai mở tính bao gồm. Ông đừng nên chỉ tập trung vào một phạm vi hẹp của hoạt động hay vài cá nhân/nhóm người, mà hãy mở rộng tình thương và ánh sáng linh hồn với cường độ ngày càng lớn tới nhiều người hơn và nhiều hoạt động hơn. Điều này sẽ giúp ông cân bằng các phẩm chất (linh hồn cung 2 hóa giải sự kiểm soát của phàm ngã cung 1) và trở nên hữu ích hơn trong công việc phụng sự.

Thư gửi I.B.S

IBS có biểu đồ cung năng lượng là I 6 – 463. Bà là một giáo viên dạy nhạc ở Mỹ, có dấu hiệu mặt trời ở Song tử và dấu hiệu mọc ở Nhân mã. IBS được cho biết là có rất nhiều kinh nghiệm trong việc giải phóng bản thân khỏi ảo cảm. Mức độ tiến hóa của IBS được Chân sư nói cụ thể là Chela trong ánh sáng và là một đệ tử được chấp nhận – tức là khoảng giữa điểm đạo 1 và điểm đạo 2.

Trong bức thư gửi vào tháng 3 năm 1935, IBS được cho biết là thể cảm dục của bà đã bị kích thích quá mức, làm bà mắc phải một ảo cảm khi tin vào hình tư tưởng không có thật của Chân sư DK (được tạo nên bởi ảo cảm của nhiều người chí nguyện) trên cõi trung giới. Ngài khuyên bà nên chấp nhận việc trực giác của bà đã sai trong phán đoán lần này. Tuy vậy, Ngài không bắt ép bà phải thừa nhận thất bại, bà có toàn quyền lựa chọn tin Ngài hay tin hình tư tưởng bà thấy trên cõi trung giới. Bà hãy tham thiền, và hãy nhờ vào phán đoán của linh hồn quyết định. Và một khi bà đã quyết sẽ đi theo Chân sư, bà sẽ phải cắt đứt liên lạc với nhóm bà liên hệ ở cõi trung giới và hoàn toàn làm theo những chỉ dẫn của Ngài một cách kỹ lưỡng và cẩn thận.

Chân sư DK đã nói rõ hậu quả của việc bà đi theo hướng dẫn của hình tư tưởng giả Chân sư này. Nó làm mạnh thêm cái tôi của bà bằng cách nhấn mạnh vào sự sùng tín, sự phát triển, sự rèn luyện, nhu cầu của RIÊNG BÀ và tập trung vào những gì người khác nghĩ về bà. Điều này làm phóng đại cái tôi của IBS và chia rẽ bà với nhóm và với những người xung quanh. Chân sư giải thích rằng mục đích của Ngài không bao giờ là giúp cho sự phát triển cá nhân của một đệ tử. Những gì Ngài làm luôn hướng về nhóm: làm mạnh thêm mối liên kết trong nhóm và công việc phụng sự, sự phát triển của cả nhóm. Chân sư còn cho biết ảo cảm này có cơ hội phát triển vì trong bà đã có sẵn hạt giống của ham muốn quyền lực tiềm ẩn và một sự nhạy cảm lớn. Sự việc này giúp tôi có thêm ví dụ minh hoạ về cách ảo cảm hoạt động. Đúng như những tổng kết của thầy Michael Robbins về ảo cảm trong chương 2, chúng xuất hiện khi ta phóng đại về tầm quan trọng của cái tôi cá nhân. Chúng cũng luôn tìm cách trở lại một khi hạt giống của ham muốn ích kỷ vẫn tồn tại trong ta.

Dù thế nào, Chân sư cũng khuyên bà là đừng nản lòng. Việc đối mặt và vượt qua ảo cảm sẽ đem lại cho những người chí nguyện đệ tử tự tin tiến bước trên đường đạo. Bà có xu hướng đau khổ và tự dằn vặt vì sự việc này. Tuy nhiên, nếu như đứng dưới góc nhìn của sự vĩnh cửu, những lỗi lầm này quá nhỏ bé và không đáng là gì. Bà hãy tự tin tiến bước, đừng bị nỗi dằn vặt quá khứ ngăn cản, và đi theo ánh sáng mà linh hồn bà dẫn dắt (chứ đừng bị ảnh hưởng bởi lời nói của bất kỳ ai). Ta có thể thấy cách Chân sư đối xử với đệ tử là theo hướng hoàn toàn tôn trọng sự tự do của linh hồn. Ngài không bao giờ yêu cầu ai phải hoàn toàn tuân phục và nghe theo những lời Ngài nói. Cái họ cần nghe chính là tiếng nói của linh hồn họ.

Trong bức thư gửi vào tháng 11 năm 1935, Chân sư đã phân tích kỹ lưỡng một vấn đề mà IBS gặp phải. Bà thường chọn phương án tiếp cận người khác bằng cách áp đặt quan điểm của mình lên họ. Tôi nghĩ đây chính là một biểu hiện của ảo cảm can thiệp của cung 6. Người mắc ảo cảm này nghĩ rằng quan điểm, lý tưởng của mình là đúng đắn nhất và phủ nhận các lý tưởng khác. Chân sư giải thích rằng không phải những gì IBS nghĩ về người khác và nhu cầu của họ cũng là chính xác. Những lý tưởng, phương pháp, cách sống… có thể phù hợp và hữu ích với bà nhưng lại không phải như vậy với người khác. Nếu bà cố ép buộc người khác phải giống mình, họ tự nhiên sẽ có xu hướng loại bỏ sự can thiệp của bà để được tự do. Và đó là điều bà không mong muốn với ý định ban đầu là muốn giúp đỡ và hỗ trợ họ.

Chân sư đã nói về một vấn đề quan trọng mà IBS cùng một số đệ tử khác trong nhóm phải đối mặt trong bức thư gửi vào tháng 8 năm 1936. Đó là việc sống theo chủ nghĩa cá nhân, cụ thể là tính toàn vẹn, sự tổng hợp của cả nhóm chỉ là thứ yếu so với sự phát triển, quan điểm và thái độ của riêng cá nhân người đệ tử. Chân sư nói lý do cho việc này là vì tâm thức của người đệ tử vẫn đang trụ ở cõi trung giới, dù là ở cấp độ cao của cõi này. Ý thức về tỉ lệ của bà và những đệ tử khác sẽ chính xác hơn, chỉ khi sự tập trung tâm thức đó chuyển sang cõi trí và người đệ tử thực sự có thể giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng. Ngài gọi đây là “ảo cảm phàm ngã”. Phàm ngã hay cái tôi nhỏ bé quá được chú trọng, và điều cần làm là tách rời khỏi cái tôi đó.

Đây là một số gợi ý Chân sư đưa ra cho bà:

Đừng nhấn mạnh vào cái tôi cá nhân. Cứ tiếp tục với công việc, Thiên cơ, việc giảng dạy và nghiên cứu, nhưng thực hiện chúng với tinh thần quên mình. Hãy nghĩ tới nhu cầu của nhóm, của thế giới và công việc của Chân sư.

  • Học cách làm điều này bằng việc suy ngẫm về linh hồn, tăng cường sự kết nối với linh hồn và ngày càng chỉnh hợp ổn định hơn.
  • Luôn luôn suy nghĩ dưới góc nhìn của nhóm, chứ không phải góc nhìn cá nhân. Điều này sẽ mất một thời gian để thực hiện, để bà quen được với một nhịp điệu mới.
  • Chú ý nhiều hơn đến bước suy ngẫm cuối ngày, và tập trung vào việc “quên đi cái tôi cá nhân, phàm ngã”.

Nếu chăm chỉ làm những điều này, ảo cảm phàm ngã bà gặp phải sẽ được hóa giải và việc tích hợp nhóm sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều.

Trong bức thư gửi vào tháng 11 năm 1944, Chân sư DK cho biết IBS đã đạt đến một giai đoạn trong cuộc đời đệ tử khi mà bà có thể tận dụng được một nguồn lực mà Chân sư gọi tên là “lửa của sự hiểu biết”. Loại lửa này liên quan tới ánh sáng của nhận thức, giúp thiêu rụi mọi loại ảo cảm đang che dấu điểm soi sáng của người đệ tử. Cụ thể, bà nên tận dụng kỹ thuật “như thể” (as if) – hãy ví bản thân như thể rất hiểu biết, hành động như thể không có ảo cảm gì ngăn trở, suy nghĩ như thể ý thức của Ashram chính là ý thức của mình, và sống như thể con mắt của Ashram luôn dõi theo mình. Giống như ta luôn được cho biết là hãy hành động, cư xử như thể ta là một điểm đạo đồ, bởi vì ta sẽ trở thành người mà ta nghĩ ta là. Kỹ thuật này sẽ giúp IBS tận dụng được hết khả năng của mình, vì xu hướng phụng sự và cuộc sống của bà đã được thiết lập đúng đắn.

Thư gửi D.A.O

DAO được cho biết là có linh hồn cung 7 và phàm ngã cung 1. DAO là một thành viên của nhóm hạt giống số 2 vì có lẽ bà đã một phần nào đó khai mở được trực giác và khả năng này sẽ có lợi cho nhóm. Bà được cho biết là có thể đóng góp cho nhóm tình thương, cái đẹp, sự giúp đỡ về nguồn minh triết và sức mạnh (bà được yêu cầu viết thư động viên và chia sẻ với IBS khi IBS đang gặp khủng hoảng). Trong các huấn thị Chân sư gửi trực tiếp DAO, Ngài không gọi tên hay đề cập đến một ảo cảm cụ thể nào mà bà gặp phải.

Tuy nhiên, trong bức thư gửi đệ tử WDB vào tháng 8 năm 1936, Ngài cho biết rằng DAO gặp ảo cảm về sự độc lập (glamour of independence). Cụ thể, bà thấy sợ hãi khi bị ảnh hưởng bởi một quyền năng nào đó mạnh mẽ hơn chính bản thân bà (Chân sư) và đến từ một nguồn mà không phải là chính linh hồn bà. Bà không muốn tiếp tục công việc phụng sự cùng nhóm của Chân sư nữa. Và Ngài đã đáp lại tư tưởng đó của bà trong bức thư gửi vào tháng 11 năm 1936 rằng: bà hoàn toàn tự do và không ai bắt buộc bà phải tham gia hay muốn áp đặt quyền lực lên bà. Không ai ép bà nghiên cứu hay phụng sự nếu không phải là linh hồn bà tự muốn biểu hiện bằng cách thực hiện những công việc đó. Chân sư giải thích rằng đôi khi chính ý tưởng về sự tự do lại cầm tù bà. Dù bà có rời khỏi nhóm này, thì để tiến hoá và phát triển lên, bà vẫn sẽ phải tham gia phụng sự với một nhóm khác. Trách nhiệm phụng sự là không thể tránh khỏi. Một điều nữa cũng rất thú vị mà Ngài nhắc tới. Đó là linh hồn bà và các đệ tử khác đã có một mối liên kết đặc biệt ở cấp độ của nó, và mối liên kết này sẽ không bao giờ bị cắt đứt bởi những hoạt động liên quan tới phàm ngã.

Thư gửi W.D.B

WDB có biểu đồ cung mang linh hồn cung 2 và phàm ngã cung 4. WDB mắc phải một loại ảo cảm mà Chân sư DK đã không gọi tên chính xác, nhưng theo mô tả của Ngài, ảo cảm này xuất phát từ việc WDB đã quá nhất tâm (ảnh hưởng bởi cung 6 di sản từ kiếp sống trước) với những gì thuộc về cá nhân ông (như quan điểm cá nhân, nghiệp quả cá nhân, vấn đề cá nhân và sự khai mở cá nhân). Mục tiêu chung của cả nhóm bị ông lơ là. Vấn đề còn trở nên nghiêm trọng hơn khi ông còn mang một thể trí đầy tính phê phán (intensely critical mind) và thường tư duy vào ngõ cụt (analyze yourself into a cul-de-sac). Do vậy, giải pháp của ông là hãy tích hợp lại với nhóm, và cách để thoát khỏi lối tư duy thường đi vào ngõ cụt là hãy tiến lên. Vì về cơ bản là ông không thể quay trở lại. Đừng chần chừ và tự hỏi những câu như “Làm sao mà một người hay gây rắc rối như tôi có thể phụng sự cho nhóm?”… Việc quay trở lại không phải là lựa chọn của con đường đệ tử. Ông hãy tiến về phía trước với tình thương và động lực phụng sự cho ánh sáng (thư gửi tháng 8 năm 1936).

Tuy nhiên, thay vì khắc phục ảo cảm của mình, WDB lại chọn phương án rút lui khỏi nhóm. Việc Chân sư nhắc tới ảo cảm của WDB trong thư và tất nhiên cả nhóm đều biết đến điểm yếu đó của ông, đã làm cho lòng kiêu hãnh của ông bị tổn thương cùng với cảm giác chán ghét khi các đệ tử trong nhóm đều biết điều này. Trong thư gửi vào tháng 2 năm 1937, Ngài nói tất cả những gì tiêu cực mà WDB cảm thấy đều là ảo cảm. Việc các thành viên trong nhóm đều biết đến điểm cần khắc phục của nhau là một điều quan trọng. Hiểu biết này sẽ không gợi lên sự chỉ trích hay oán giận, mà sẽ vun đắp tình thương và sự thấu hiểu với nhau. Ông cần nhận thức được điều này. Và kể cả khi ông chọn rời khỏi nhóm để tự mình giải quyết các vấn đề của mình trong sự cô độc, thì ông và nhóm vẫn sẽ gặp lại nhau trong một kiếp sống khác vì mối liên kết giữa các linh hồn sẽ không thể thay đổi hay cắt đứt vì những điều mang tính phàm ngã.

Thư gửi J.S.P

JSP có biểu đồ năng lượng là II 6 – 427. Trong những bức thư Chân sư gửi ông, Ngài chưa đề cập tới bất kỳ ảo cảm nào mà ông gặp phải. Không có quá nhiều bức thư được gửi bởi vì ông được cho biết là đã biến mất trong cuộc chiến tranh thế giới.

Các ảo cảm tự vấn của người viết nghiên cứu

Trong phần này, tôi sẽ đề cập tới những ảo cảm cá nhân mà bản thân đang phải đối mặt và giải quyết bởi vì việc xua tan ảo cảm phải bắt đầu từ bước thành thực và nhận thức được sự tồn tại của chúng trong mình. Tôi giả định sơ đồ cung năng lượng của mình là: II 6 – 5 6 7, và các dấu hiệu chiêm tinh quy định là: cung mọc Song tử, mặt trời Thiên bình, và mặt trăng Bạch dương.

Tôi sẽ liệt kê các ảo cảm của mình theo thứ tự từ nghiêm trọng nhất tới ít nghiêm trọng hơn.

  • Ảo cảm về việc chỉ tập trung vào bản thân, phóng đại tầm quan trọng của bản thân: Tôi đã tập trung quá nhiều vào bản thân mình hơn là nhu cầu, sự thống nhất, nhịp điệu nhóm để cùng làm việc như một đơn vị tổng hợp và hiệu quả. Trước đây, đặc biệt là sau khi vào MF, tôi luôn giữ ý nghĩ rằng tôi phải phụng sự nhóm và giúp đỡ người khác thay vì sống ích kỷ chỉ nghĩ tới mình. Dù là tự nhủ như vậy, nhưng hành động của tôi lại thể hiện là tôi coi trọng việc phát triển cá nhân mình hơn là công việc của cả nhóm. Tôi thường chỉ chăm chăm vào việc tôi thích như nghiên cứu, viết phúc trình, viết DHY – những phần thuộc về công việc học tập. Tôi ít khi đặt nhóm vào mục tiêu và suy nghĩ của mình (ví dụ: làm sao để nhóm hoạt động hiệu quả hơn, nhóm nên duy trì những hoạt động phụng sự gì,…). Tôi cũng chưa chăm chỉ trong việc tham gia các hoạt động thiền với nhà trường và chưa hiểu rõ về tầm quan trọng của công việc Thiền trăng tròn.

Chỉ khi đọc kỹ thư Chân sư gửi đệ tử IBS, tôi mới hiểu rõ hơn về ảo cảm này của mình. Lúc đó, tôi nhận ra là mình đã tự ngụy biện để an ủi bản thân là mình không ích kỷ, nhưng thực ra vẫn chỉ sống xoay quanh cái tôi nhỏ bé. Đây là ảo cảm lớn nhất tôi gặp phải hiện nay, và cũng là ảo cảm tôi muốn xua tan nhất. Tôi vẫn nhớ lời khuyên của Chân sư DK trong các huấn thị Ngài viết cho các đệ tử vẫn tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, với thông điệp là: “Hãy làm việc, phụng sự và quên đi bản thân mình”.

  • Ảo cảm than thân trách phận: Đây là ảo cảm của cung 2 mà tôi thấy bản thân mình tái đi tái lại nhiều nhất. Đó cũng là đức tính tiêu cực mà các thành viên trong gia đình hay nhận xét về tôi. Mặc dù vậy, tôi tự thấy mình là một người khá tích cực, ít khi u sầu ủ dột, và cuộc sống của tôi không có gì đáng phiền lòng khi bản thân đang học Đạo và ngày càng mở rộng tâm thức hơn. Tuy nhiên, đúng là tôi có xu hướng thường xuyên phát ra những câu than thở như: “Mệt quá!” “Nhiều việc quá”… Đặc biệt là khi thể xác cung 7 của tôi đau yếu hay bệnh tật, tôi sẽ liên tục kêu than vì không giỏi việc chịu đau và cảm thấy bản thân vô dụng vì không làm được gì hữu ích những lúc đó. Thực ra, những câu than thở này không làm tôi cảm thấy tốt hơn, nhưng nó như một phản ứng tự động mà tôi rất khó kiểm soát. Từ khi nghiên cứu về ảo cảm, tôi hiểu được rằng than thân trách phận là một ảo cảm lớn cần chế ngự. Sau mỗi lần than thở, tôi thường tự nhủ là mình lại mắc ảo cảm than thân trách phận, và điều chỉnh mình lại ngay lúc đó.
  • Ảo cảm sợ hãi: Phần lý trí của tôi biết rằng linh hồn là bất tử và mỗi thử thách trong cuộc sống là một cơ hội để chuyển hóa và hoàn thiện bản thân. Tuy nhiên, đôi khi trong tư tưởng tôi xuất hiện những nỗi sợ vu vơ như: nỗi sợ mất người thân, nỗi sợ có thể mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo nào đó,… Tất cả những sự việc này đều chưa xảy ra nhưng thỉnh thoảng những ý nghĩ kèm nỗi sợ này lại xuất hiện. Tôi thường tham thiền để xua tan chúng, nhưng nhiều nỗi sợ vẫn quay trở lại sau một thời gian. Tôi nghĩ đó là vì những ảo cảm sợ hãi này đã bám rễ trong tôi từ rất lâu, và tôi phải làm cách nào đó để giải quyết chúng triệt để.
  • Ảo cảm tình cảm: Tôi hiểu nhiều hơn về ảo cảm này sau khi nghe bài giảng của thầy Lâm Kiệt và nghiên cứu về 5 ảo cảm lớn chi phối nhân loại. Đây là một ảo cảm rất khó giải quyết và cần nhiều trí phân biện. Khi hồi tưởng về quá khứ, tôi thấy mình thường xuyên cư xử với người khác theo lối ôn hòa, ít đối kháng trực tiếp và thường hướng tới một sự hài hòa giả tạo. Tôi nghĩ xu hướng này đến từ tính chất nước đôi và tài ngoại giao của mặt trời Thiên bình. Chỉ từ khi vào MF, việc này mới khá hơn khi tôi đã dũng cảm nói ra những gì mình tin là đúng đắn dù những gì tôi nói có thể làm mất lòng người khác. Khi càng đọc nhiều sách của Chân sư DK, tôi càng hiểu rõ rằng: điều mình cần làm cho người khác không phải là “vuốt ve cái tôi của họ” hay làm những điều mà người đó thấy thích để nhận lại tình cảm yêu mến từ họ.

Hiện tại, tôi thấy mình có một sự tĩnh tại nhất định về mặt tình cảm. Tức là, tôi không có nhu cầu cần nhận tình cảm yêu mến từ người khác. Tôi thấy rằng: dù người khác có đối xử với mình ra sao, suy nghĩ về mình thế nào thì tôi vẫn thương yêu họ, và họ có thể không cần biết về điều đó. Tuy nhiên, gần đây, ảo cảm này đã xuất hiện một cách tế vi hơn khi tôi có con. Khi con có vẻ gắn bó với bà nội hơn mình, tôi đã khá buồn và bị ảo cảm tình cảm chi phối trong vài ngày. Sau đó, tôi phải thiền và suy ngẫm lại về mối quan hệ của tôi và con. Khi đó, tôi nhận ra rằng: con có quyền tự do để kết nối đặc biệt hơn với một ai đó khác không phải là tôi. Dù thế nào, tôi vẫn sẽ yêu con vô điều kiện, chọn làm những gì mà tôi nghĩ là tốt nhất cho sự khai mở linh hồn của con (theo hiểu biết và tầm nhìn hiện tại của mình), và sẽ không làm những việc chỉ để chiều lòng con.

Tuy nhiên, ảo cảm tình cảm rất dễ xuất hiện khi tôi gặp phải những trường hợp mà làn sóng cảm xúc tiêu cực gợi lên lấn át phần lý trí. Vì thế, tôi nghĩ mình phải trau dồi thật nhiều yêu thương, cảm thông và thấu hiểu thực sự với người khác để luôn sẵn sàng đối mặt với mọi làn sóng tiêu cực của cảm xúc.

  • Ảo cảm vật chất: Đôi khi tôi thấy mình còn vướng bận với vấn đề tiền bạc. Có một lực vô hình gì đó lôi kéo tôi phải nghĩ tới việc tích lũy và đầu tư nhiều hơn. Ngoài tự nhủ rằng tôi vẫn luôn và sau này sẽ sử dụng tiền của mình cho các mục tiêu nội môn và giúp đỡ người khác, nhưng thực tế là hiện nay tôi sử dụng phần nhiều số tiền vào việc thỏa mãn mức sống mà mình thấy thoải mái. Mỗi khi làn sóng của ham muốn tích lũy tiền bạc nổi lên, tôi lại phải kiềm lại và tự nhủ rằng đó chỉ là ảo cảm vật chất. Những giải pháp mà Chân sư DK và thầy Michael Robbins gợi ý để giải quyết ảo cảm này (tôi đã phân tích kỹ trong phần 5 ảo cảm chính của nhân loại) đã rất hữu ích để tôi có thể nhanh chóng điều chỉnh suy nghĩ của mình mỗi khi ảo cảm vật chất nổi lên.
  • Ảo cảm của sự chỉ trích: đây là một cơ chế tự động, đã theo tôi nhiều năm trước đây. Chẳng hạn, tôi và gia đình bàn luận về một tin mới đăng trên báo về việc giám đốc của tập đoàn A bị bắt vì lừa đảo và tham nhũng một số tiền lớn của dân. Khi nghe tới như vậy, tôi sẽ tự động thốt ra: “Sao họ lại làm như vậy nhỉ? Ác quá, ai lại đi lấy mất miếng cơm của bao nhiêu người”. Nhưng sau đó, tôi sẽ hiểu ngay rằng những người đó dù hành động sai trái thế nào thì cũng là vì họ đã bị mờ mắt bởi nhiều thứ, ví dụ ở đây là ảo cảm vật chất. Họ vô minh và không biết đến những minh triết tôi được học. Có thể hoàn cảnh cuộc đời đã đưa đẩy để họ tạo ra những điều như vậy, và họ đang phải trá giá cho tội lỗi của mình. Có thể trong các kiếp sống trước đây, tôi cũng đã mắc những sai lầm tương tự và đã học được bài học để chuyển hóa. Trong đầu tôi lập tức sẽ hiện lên những suy nghĩ như vậy để dừng ngay việc phán xét người khác. Tôi đang cố gắng để làm sao cơ chế tự động phản ứng của mình sẽ dừng lại, suy nghĩ kỹ hơn để tránh hoàn toàn việc chỉ trích người khác.

Đây là những ảo cảm tôi có thể nhận thức được về mình trong thời điểm hiện tại. Tôi nghĩ mình có khả năng bị nhiều ảo cảm khác nữa chi phối. Điều quan trọng là tôi phải cố gắng đặt bản thân ở vị thế của người quan sát, để luôn sẵn sàng đối mặt và xua tan ảo cảm khi có thể.

CHƯƠNG 5: CÁCH GIẢI QUYẾT TRIỆT ĐỂ CÁC ẢO CẢM – KỸ THUẬT ÁNH SÁNG

Nhận biết ảo cảm đang chi phối bản thân

Trước khi bước vào quá trình xua tan ảo cảm, đương nhiên mỗi người chí nguyện đệ tử chúng ta cần tự vấn để nhận biết những ảo cảm đang chi phối mình.

Chân sư DK yêu cầu con người phải hiểu rằng: tất cả những điều có bản chất cảm xúc (như phản ứng, ham muốn, tình cảm, trải nghiệm cảm xúc,…) đều liên quan tới một hoặc nhiều ảo cảm. Tức là, một khi con người bị cảm xúc chi phối, tức là y vẫn có ảo cảm. Những ảo cảm này không chỉ nảy sinh và tồn tại trong một kiếp sống, mà thực ra đã theo y trong rất nhiều kiếp sống trước đây, bám rễ sâu trong y, tạo nên những phản ứng tự động mà ta hay gọi là “bản năng” (Bailey, GWP – 207). Thầy Michael Robbins trong GWP – webinar 19 giải thích thêm rằng những những phản ứng mà ảo cảm gợi lên trong ta là hoàn toàn tự động. Tức là ta phản ứng mà không hề suy nghĩ, hay có ý thức về nó – một điều mà thầy gọi là thuộc lĩnh vực của mặt trăng. Thầy khuyên chúng ta nên quan sát những điều sau để nhận biết ảo cảm đang chi phối mình:

  • Sơ đồ cung năng lượng (cung linh hồn, cung phàm ngã và cung của ba hạ thể);
  • Các dấu hiệu hoàng đạo (mặt trời, mặt trăng và cung mọc);
  • Riêng mặt trăng, cần để ý thêm vị trí của mặt trăng, nhà và các góc hợp của nó.

Mặc dù thầy không nhắc tới trong danh sách trên, tôi thấy cần bổ sung thêm việc xem xét năm loại ảo cảm chính đang chi phối nhân loại và các ảo cảm thuộc dân tộc, quốc gia mình thuộc về. Thầy cũng lưu ý rằng ta nên học cách tự tách khỏi bản thân mình, đứng sang một bên và trở thành người quan sát với thái độ khách quan các phản ứng tâm lý của mình.

Kỹ thuật giải quyết ảo cảm của Kỷ nguyên mới – “Kỹ thuật ánh sáng”

Ở chương trước, ta đã điểm qua một loạt các loại ảo cảm khác nhau bao gồm: ảo cảm tới từ các cung, 5 ảo cảm chính của nhân loại, và các ảo cảm mà đệ tử thuộc nhóm hạt giống số 2 của Chân sư DK đã gặp phải. Một số định nghĩa và cách giải quyết các ảo cảm đó đã được đưa ra. Dù phần nào nhận ra và hiểu về một số ảo cảm, bản thân tôi vẫn gặp phải trường hợp là: tôi nghĩ mình đã dùng trí phân biện để xua tan được một số ảo cảm, nhưng thỉnh thoảng chúng vẫn quay lại và thường là dưới dạng vi tế và khó nhận ra hơn. Đôi khi, sau khi tham thiền và suy ngẫm về hành động của mình, tôi mới chột dạ chợt nhận ra rằng các ảo cảm đó vẫn ở trong mình chứ chưa hoàn toàn biến mất.

Trường hợp của tôi rất giống với những gì Chân sư DK mô tả về cách mà người chí nguyện đệ tử thường đối diện với ảo cảm: “Sẽ đến lúc mà người đệ tử dự bị trở nên biết được các ảo cảm có tính chất bản năng và biết được khi chúng xuất hiện, thậm chí có khi phản ứng lại với chúng; y tìm cách tự giải thoát cho mình. Lúc đầu, y hoạt động không đều đặn, cố gắng dùng thể trí để nhờ lý lẽ vượt ra khỏi các ảo cảm và dao động giữa sự thành công tạm bợ— khi con người có thể hành động một cách thận trọng như thể thoát khỏi ảo cảm—, và những giai đoạn dài thất bại khi bị lấn áp, không thể thấy được ánh sáng ở đâu và hành động như người mù, hoang mang. Điều này cho thấy rằng y bị thu hút giống như bởi một nam châm (sức mạnh của ảo cảm từ xưa chất chứa lại với các hậu quả nghiệp báo) vào chính ảo cảm mà y muốn tìm cách tránh né.” Tức là, con người thường sử dụng trí phân biện của mình để đối phó với ảo cảm. Nhưng tình trạng ảo cảm vẫn tái đi tái lại bởi vì chúng đã bám rễ sâu trong rất nhiều kiếp sống của ta trước đây.

Những lúc đó, tôi mới hiểu tại sao mình phải thường xuyên áp dụng một phương pháp nâng cao hơn mà Chân sư DK đã đưa ra cho các đệ tử nhằm giúp xua tan ảo cảm một cách triệt để. Ngài đặt tên cho phương pháp này là “Kỹ thuật ánh sáng”. Khi nói về phương pháp này, Ngài nhấn mạnh rằng ý định của Ngài không phải là đưa ra một công thức đối phó một vài loại ảo cảm đặc thù, mà công thức này sẽ dùng chung, giúp xua tan tất cả các ảo cảm. Ngài cũng cho biết rằng đây là kỹ thuật dành cho Kỷ nguyên mới, thay thế cho những kỹ thuật cũ không còn nhiều hữu ích trước đây.

Một điều mà Chân sư lưu ý là: kỹ thuật này chỉ dùng cho những người biết được ít nhiều về ánh sáng trí tuệ, ánh sáng trong đầu và ánh sáng của linh hồn (Bailey, GWP – 207). Tức là, phạm vi sử dụng được kỹ thuật này gồm những người có thể suy nghĩ và thấu hiểu (tập trung vào thể trí), nói một cách huyền môn thì là những người đã có những bức xạ thuộc trung tâm não bộ vật lý và vùng xung quanh tuyến tùng hoạt động (Robbins, GWP – webinar 19). Mặc dù ta không nhìn hay nhận thức được liệu những bức xạ đó (hay ánh sáng trong đầu) có xuất hiện không, nhưng thầy Michael Robbins có bình luận rằng việc tham thiền chắc chắn sẽ tạo ra thứ ánh sáng đó. Ánh sáng trong đầu chính là một biểu hiện của ánh sáng linh hồn, khi gia tăng sẽ giúp kiểm soát nhiều hơn các vấn đề cảm dục. Chân sư DK mô tả về tiến trình thay đổi của ánh sáng trong đầu nhờ tham thiền: ban đầu sẽ chỉ là một bức xạ mờ nhạt và khuếch tán, sau đó sẽ giống như hình ảnh của mặt trời, và cuối cùng trở thành một nguồn ánh sáng trắng cực mạnh. Việc sử dụng nguồn ánh sáng này chiếu rọi vào ảo cảm để triệt tiêu chúng (giống như hình ảnh ánh sáng mặt trời sẽ làm xua tan lớp sương mù trên mặt đất) là nguyên lý cơ bản của kỹ thuật ánh sáng.

Cụ thể, việc thực hành kỹ thuật này được chia làm 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1: Nỗ lực tập trung ánh sáng trí tuệ và ánh sáng vật chất vào thể trí.

Lưu ý là ta không sử dụng ánh sáng của cõi cảm dục bởi vì thực chất là các chất liệu của cõi cảm dục không mang ánh sáng. Các hình thể trên cõi cảm dục chỉ là tập hợp của dục vọng, bản năng của từng cá nhân, quốc gia hay chủng tộc tạo ra và chúng không phục vụ cho Thiên cơ, cũng như không giúp biểu hiện sự sống năng động của Đấng Hành tinh Thượng đế (Bailey, GWP – 209). Đó cũng là lý do tại sao Chân sư DK thường nói cõi cảm dục thực chất là không có thực.

Quá trình tập trung ánh sáng này được thực hiện bằng cách “chỉnh hợp, nỗ lực mang ánh sáng dương của thể trí và ánh sáng âm của bộ óc tới điểm khai ngộ, được tiến hành thông qua việc kiểm soát thể trí vốn được phát triển trong tham thiền. Khi hai đối cực này được nối kết vào lúc đó (bằng tác động của ý chí phàm ngã) hai trạng thái này của ánh sáng thứ yếu có thể hợp thành một điểm sáng nhỏ—giống như ánh sáng của ngọn đuốc nhỏ— tiết lộ một giai đoạn nào đó của ảo cảm mà người tìm đạo đáp ứng dễ dàng nhất.” (Bailey, GWP – 209) Tất cả quá trình này sẽ xảy ra xung quanh khu vực tuyến tùng (Robbins, GWP – webinar 19). Tức là, bằng ý chí của chúng ta trong lúc tham thiền kết hợp với việc kiểm soát thể trí, ta có thể tập hợp luồng ánh sáng của trí tuệ và bộ não vào khu vực tuyến tùng. Kết quả là một ngọn đuốc ánh sáng nhỏ sẽ được tạo ra, giúp soi sáng vấn đề ảo cảm mà ta đang gặp phải. Chân sư giải thích thêm là ngọn đuốc ánh sáng này chỉ nhằm tiết lộ bản chất và giai đoạn của ảo cảm (biết về ảo cảm đó một cách rõ ràng trong ý thức não bộ), chứ chưa có tác dụng xua tan hay vô hiệu hóa ảo cảm.

Thầy Michael Robbins trong GWP – webinar 19 giải thích thêm rằng điểm sáng nhỏ bé này được thắp lên để ta nhận thức được rằng mình không còn là một người vô minh, không còn chỉ phản ứng theo bản năng mà có thể nỗ lực những bước đi đầu tiên để rọi ánh sáng vào những ham muốn, khát vọng sai lầm, ngăn trở mình hợp nhất với linh hồn.

Hình ảnh minh họa về khu vực của tuyến tùng – nơi ánh sáng trí tuệ và ánh sáng vật chất kết nối nhằm tiết lộ ảo cảm.

Giai đoạn 2: Tập trung nhờ nỗ lực thiền định

Ở giai đoạn 1, những gì chúng ta đã làm là tập trung vào hai loại ánh sáng hoàn toàn mang tính vật chất (kể cả ánh sáng trí tuệ cũng là chất liệu trí tuệ, thuộc về cõi vật chất). Do vậy, giai đoạn 1 vẫn được coi là thuộc về lĩnh vực của phàm ngã. Một phàm ngã dù ở mức độ vô kỷ hay ích kỷ thế nào cũng có thể đạt được lợi ích từ giai đoạn này. Hoạt động này được cho biết là cách dễ nhất, ít tốn năng lượng nhất để một phàm ngã có thể đạt được những gì y muốn bằng việc kết hợp hai ánh sáng vật chất này với nhau (Bailey, GWP – 209).

Do vậy, một số phàm ngã ích kỷ có thể lợi dụng phương pháp này để đạt được những ham muốn của y trên cõi trần. Cụ thể, y thu hút ánh sáng của vật chất hồng trần và chất liệu trí tuệ, bỏ qua ánh sáng của linh hồn, tạo ra một thứ ánh sáng giả. Kết quả là: mục tiêu phàm ngã được thành tựu, các ham muốn thấp được thỏa mãn. Điều này thực sự nguy hiểm vì có thể tạo ra một huyền thuật gia hắc đạo. Một ví dụ được Chân sư DK đưa ra là: Hitler và 6 cộng sự của ông đã thực hành phương pháp này bằng cách tập trung trí tuệ một cách mãnh liệt, chủ ý diệt hết mọi phản ứng tình cảm (kể cả những điều tốt đẹp như sự nhạy cảm, lòng trắc ẩn, tình yêu thương) nên ảo cảm được chế ngự, cuối cùng có khả năng tạo ra một sức hủy diệt lớn trên thế giới.

Chân sư DK nhắc nhở rằng: “việc tiếp xúc với linh hồn sẽ hóa giải được các nguy hiểm cố hữu khi chỉ tập trung vào và chỉ sử dụng đơn độc ánh sáng vật chất.” Tức là, để đảm bảo không gặp nguy hiểm hay sa lầy vào con đường hắc đạo, người thực hành phương pháp này cần kết hợp ánh sáng vật chất, ánh sáng thể trí với ánh sáng linh hồn. Khi ba thứ ánh sáng này hòa trộn với nhau sẽ tạo thành một trạng thái gọi là “Linh quang duy nhất”. Người thực hành sẽ tập trung nguồn ánh sáng kết hợp này ở cõi trí nhờ năng lực của trí tưởng tượng sáng tạo. Thể trí lúc đó phải được giữ yên ắng chứ không thể lang thang tự do. Tất cả tư tưởng, hoạt động hình dung trong trí óc cần được dẫn dắt bởi ý chí và mục tiêu xua tan ảo cảm. Chỉ khi đó, mục tiêu loại bỏ ảo cảm mới có thể đạt được.

Về phần này, thầy Michael Robbins trong GWP – webinar 20 đã bình giảng thêm rằng: tất cả chúng ta có một cuộc đấu tranh đặc biệt với ảo cảm, bởi vì Hành tinh Thượng đế chúng ta vẫn đang chịu ảnh hưởng của ảo cảm vũ trụ. Tất nhiên, với trình độ tâm thức hiện tại, ta không thể hiểu được việc này nghĩa là gì. Ta chỉ biết được rằng Đấng Hành tinh Thượng đế chúng ta đang ở cấp độ thứ 5 của cõi cảm dục vũ trụ và đang muốn tiến lên cấp độ thứ 6 (giống như Kim tinh). Chỉ khi việc thăng cấp đó xảy ra, những cuộc đấu tranh hiện tại thuộc về lĩnh vực cảm dục mới có thể giảm bớt.

Giai đoạn 3: Ánh sáng trí vật chất, ánh sáng trí tuệ và ánh sáng linh hồn được pha trộn, hòa lẫn và tập trung một cách hữu thức

Tiếp theo, nguồn ánh sáng đèn pha tam phân sẽ rọi thẳng vào ảo cảm đang cần xua tan. Nguồn ánh sáng này được Chân sư DK ví như mặt trời – nguồn tạo ra lửa Thái dương. Khi mặt trời lên tỏa ra những tia nắng sáng chói, những bức màn che sẽ được nâng lên và những đám mây ảo cảm sẽ tan biến. Như đã được giải thích ở trên, vật chất cõi cảm dục không tạo ra ánh sáng, tất cả chỉ là ánh sáng giả phản chiếu lại từ các ham muốn, dục vọng của cõi hồng trần. Những thứ ánh sáng giả này, khi đặt cạnh ngọn lửa rực sáng của mặt trời, chắc chắn sẽ bị dập tắt. Đó là nguyên lý hoạt động của giai đoạn 3.

Chân sư DK cũng cho biết rằng công việc này phải được tiến hành một cách hiểu biết và có ý thức. Tức là, ta phải thực sự đọc, suy ngẫm và hiểu cặn kẽ ý nghĩa tâm linh đằng sau tất cả các bước mà mình thực hiện. Ngài cũng nhắc ta phải nhận thức được chân lý đằng sau công việc mình đang làm. Một số chân lý ẩn tàng mà thầy Michael Robbins đã đưa ra trong GWP – webinar 20 là:

  • Ánh sáng tam phân chính là hiện thân cho cõi bồ đề.
  • Ta bắt buộc phải dùng ý chí để pha trộn ba loại ánh sáng với nhau. Chỉ khi đó, ánh sáng tam phân mới có sức mạnh thực sự.
  • Ảo cảm chủ yếu là lửa ma sát (ngọn lửa của dục vọng thổi bùng trong cõi cảm dục), nhưng lửa ma sát chắc chắn sẽ bị dập tắt bởi lửa Thái dương – với biểu tượng là mặt trời của chân lý, của sự công bình, của quyền năng, của thực tại.
  • Kết quả của việc xua tan ảo cảm không thể thành tựu chỉ trong một thời gian ngắn. Ta thực sự phải kiên trì, vì những ảo cảm ta muốn xua tan có thể đã tồn tại hàng triệu năm và bám rễ sâu trong các kiếp sống trước đây của ta.
  • Ta phải hiểu rằng: những gì mình đang làm là thuộc về thế giới nội tại. Khi người ngoài nhìn vào, họ có thể đoán rằng ta có vẻ đang không làm gì hết. Nhưng ta phải tin vào những gì mình đang làm, tin vào sức mạnh của công việc tinh thần bên trong. Giống như quyền năng của Thánh đoàn hoàn toàn là nội tại, nhưng lại vô cùng mạnh mẽ.
  • Phương pháp này là một kỹ thuật hiệu quả và khoa học, thay thế cho các phương pháp chậm chạp của quá khứ. Việc thực hành chắc chắn sẽ giúp chúng ta mạnh mẽ hơn trên các cõi tế vi, và góp phần vào việc xua tan ảo cảm cá nhân cũng như cả nhân loại nói chung. Ta phải hiểu các loại năng lượng này là có thật: ánh sáng trong đầu, ánh sáng trí tuệ, ánh sáng sinh lực, ánh sáng linh hồn. Tất cả là có thực.
  • Thánh đoàn có liên quan đến việc giúp tiêu tan ảo cảm thế giới cùng với một số Chân sư thuộc con đường thứ hai (con đường hoạt động từ tính). Có cả những chân thần cung 5 đang làm việc trên cõi cảm dục vũ trụ, giúp chữa lành và thanh tẩy cõi cảm dục. Việc ta xua tan ảo cảm được coi là một hoạt động hỗ trợ Thánh đoàn, được tiến hành ở cấp độ thấp. Do vậy, đây là trận chiến mà ta đang hợp tác với các Ngài để chống lại các lực lượng cản trở, lực lượng lừa dối, lực lượng che giấu thực tại.

Lưu ý: Chân sư DK cũng nhắc ta cần phân biệt giữa ảo cảm lớn và ảo cảm nhỏ. Với những ảo cảm nhỏ, ta hoàn toàn có thể dùng trí phân biện để loại bỏ và không cần dùng tới kỹ thuật ánh sáng. Kỹ thuật này chỉ nên được áp dụng với những ảo cảm lớn, có tình trạng tái đi tái lại trong cuộc sống của ta. Và việc thực hành này chỉ được dùng để xua tan một ảo cảm duy nhất trong một thời điểm cụ thể.

Các bước thiền định theo kỹ thuật ánh sáng được tổng hợp chi tiết và cụ thể như sau (nội dung này được lấy hoàn toàn từ sách GWP 215-220, theo bản dịch của thầy Lâm Kiệt).

I. Chuẩn bị:

1. Khẳng định với linh hồn: “Tôi khẳng định quyết tâm hợp tác về phương diện thể chất, cảm xúc và trí tuệ trong công việc thiền định mang nhiều tính Kỹ thuật này.

2. Nhận biết ảo cảm mà bạn cần xua tan: nhận thức về cách nó che dấu Sự Thật và cách nó ảnh hưởng đến đời sống của bạn.

3. Tạo ra nguồn ánh sáng đèn pha chiếu rọi trên cõi Trí tuệ từ 3 nguồn sáng: của bộ não, của thể trí, và ánh sáng của Linh hồn. Nhận thức rằng ba nguồn sáng này hợp nhất thành nguồn ánh sáng chiếu rọi trên cõi trí tuệ.

  • Tưởng tượng nâng điểm sáng của bộ não âm,
  • Và hợp nhất nó với điểm sáng dương của thể trí,
  • Và nâng ánh sáng kết hợp đó lên để hợp nhất với Ánh sáng Linh hồn.
  • Nhận ra rằng ba ánh sáng đã tạo thành một ngọn đèn pha.

4. Chỉnh hợp và sự hợp nhất được nhận thức:

  • Khẳng định lại: “Tôi dâng hiến phàm ngã cho Linh hồn”.
  • Hình dung thể xác, cảm dục, và trí tuệ chỉnh hợp với Linh hồn.
  • Thấy rằng Linh hồn chấp nhận phàm ngã và tạo thành một đơn vị duy nhất.

5. Ngừng lại và gắng hết sức cho công việc phải làm:

  • Hướng nguồn sáng của thể trí về cõi cảm dục (Điều rất quan trọng là bạn không làm việc trong thể cảm dục của bạn)
  • Liên kết nguồn sáng đèn pha và ảo cảm trên cõi cảm dục
  • Thầm lặng khẳng định “Ánh sáng đèn pha sẽ phá tan ảo cảm”.

II. Công thức:

1. Tạo và điều khiển nguồn sáng:

  • Hình dung thấy linh hồn thở ra linh từ OM vào thể trí của bạn, và bạn tăng trưởng mạnh mẽ và tích cực.
  • Hình dung thấy rằng các ánh sáng tạo ra ngọn đèn pha chói rạng mạnh mẽ (nhưng chưa tỏa ra ngoài).
  • Tập trung tất cả ý chí của bạn đằng sau ánh sáng đó.
  • Liên hệ ngọn đèn pha và ảo cảm trong bóng tối, và tưởng tượng ngắn gọn ánh sáng phá hủy ảo cảm.

2. Bật Ánh sáng lên: Hình dung thấy một chùm ánh sáng rực rỡ rộng lớn, tuôn ra từ thể trí được chiếu sáng và xuyên thủng ảo cảm trên cõi cảm dục.

3. Nói thầm với sức mạnh và sự tập trung:

  • “Sức mạnh của ánh sáng ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm … (đọc tên ảo cảm mà bạn muốn làm tiêu tán—Ví dụ Ảo cảm Vật chất…).
  • Sức mạnh của ánh sáng sẽ không cho ảo cảm … ảnh hưởng đến tôi.
  • Sức mạnh của ánh sáng sẽ phá hủy sự sống đằng sau ảo cảm …”

4. Xướng linh từ OM, và hình dung thấy Ánh sáng:

  • Tác động rõ rệt lên ảo cảm.
  • Thâm nhập vào ảo cảm và được nó hấp thu.
  • Làm tiêu tán ảo cảm một cách chậm chạp.

5. Rút lui về cõi trí, tắt ánh sáng, đồng nhất với Cái Thật (Chân).

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN

Ảo cảm được ví như một lớp sương mù bao phủ, ngăn những người con nhân loại vẫn trụ nhiều vào thể xác-dĩ thái hay thể cảm dục nhìn thấy thực tại đúng đắn. Nhiều vấn đề góp phần tạo nên ảo cảm như: sự chỉ trích và than thân trách phận, sự phóng đại tầm quan trọng của cái tôi cá nhân, tầm nhìn phiến diện, hay việc chỉ nhìn vào thành phần chứ không nhìn vào tổng thể. Nhìn chung, ảo cảm giống như khi ta vào chơi trò chơi nhà gương trong các công viên giải trí. Hình ảnh ta thấy trong các nhà gương đó là hình ảnh méo mó, phiến diện, không đúng tỉ lệ và chắc chắn khác xa sự thật.

Nhiều nguyên nhân khác nhau góp phần tạo ra ảo cảm. Thứ nhất, từ góc nhìn của hành tinh, ảo cảm có sẵn trong bản chất của vật chất và cũng liên quan tới sự bất toàn của Đấng Hành tinh Thượng đế chúng ta. Ngài cũng đang gặp phải một loại ảo cảm ở cấp độ rất cao của vũ trụ, làm hạn chế sự khai mở và biểu hiện năng lượng thiêng liêng của các hình tướng trên Trái đất. Từ nhân loại nói chung, toàn thể loài người từ xưa tới nay đã tung ra rất nhiều ảo cảm, tạo ra một cõi trung giới đầy sự hỗn loạn, dày đặc sương mù, và thay đổi liên tục. Ảo cảm còn sinh ra khi con người bắt đầu tiến hóa, nhận biết được nhiều yếu tố như nhị nguyên tính, cõi cao hơn cõi mà y đang trụ vào hay việc ngày càng nhận thức được linh hồn nhiều hơn. Cách con người phản ứng với những yếu tố đó tạo ra ảo cảm. Và từ góc độ mỗi cá nhân, việc biểu hiện thấp các cung năng lượng, các dấu hiệu hoàng đạo quy định bản thân y cũng đã đóng góp vào việc này.

Các ảo cảm sinh ra từ biểu hiện thấp của các cung năng lượng, 5 ảo cảm phổ biến của nhân loại, và các ảo cảm tập hợp từ các huấn thị của Chân sư DK dành cho các đệ tử thuộc nhóm hạt giống số 2 đã được nêu ra một cách chi tiết trong bài nghiên cứu. Từ những nguồn thông tin này, tôi tin rằng người đọc có thể suy ngẫm và nhận ra nhiều ảo cảm mà bản thân đang gặp phải, cũng như gợi ý về một số cách để giải quyết những ảo cảm đó. Chân sư DK đã đưa ra một giải pháp khoa học mang tên “kỹ thuật ánh sáng” – được cho là vô cùng hữu ích để xua tan những ảo cảm đã bám rễ rất sâu trong nhiều kiếp sống của con người. Kỹ thuật này dựa trên nguyên lý sử dụng ánh sáng linh hồn, kèm theo ánh sáng vật chất và ánh sáng thể trí để tạo thành một ngọn đèn pha chiếu rọi trực tiếp vào ảo cảm. Sau đó, ý chí tự thân và luồng ánh sáng tam phân này sẽ được kết hợp để xua tan ảo cảm. Tuy nhiên, việc kiên nhẫn thực hành, sự thấu hiểu ý nghĩa bên trong từng hoạt động, cùng với thái độ không mong cầu vào kết quả là điều kiện kiên quyết để thành công.

Bài nghiên cứu này nêu ra những thông tin cơ bản và sơ lược về vấn đề ảo cảm cá nhân mà những người chí nguyện đệ tử thường gặp phải. Những bài nghiên cứu sau này về ảo cảm có thể xem xét việc đi sâu hơn nữa vào các ảo cảm có phạm vi rộng lớn hơn như ảo cảm nhóm, ảo cảm của các quốc gia,…

Bản thân tôi đã học được vô số điều nhờ quá trình nghiên cứu và viết tiểu luận này. Dù ảo cảm rất phức tạp và là một thử thách lớn đối với mỗi người chí nguyện đệ tử, nhưng tôi luôn tin rằng chỉ cần ta có ý chí, quyết tâm, nguyện vọng vô kỷ muốn xua tan ảo cảm để nhìn thấy chân lý và sau rốt là để phụng sự Thiên cơ, thì chắc chắn ta sẽ vượt qua. Giống như điều Chân sư DK có viết trong sách Bailey (GWP, 118) rằng:

“Trong thái dương hệ này, chiến thắng và sự kiểm soát của linh hồn là điều đã được xác định và đảm bảo. Mọi ảo cảm chắc chắn sẽ được xua tan dù cuộc chiến có khó khăn thế nào đi chăng nữa”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Các sách của Chân sư DK và Alice Bailey:

Bailey, A.A. (1994) Discipleship in the new age I. New York N.Y.: Lucis Pub. Co.

Bailey, A.A. (1994) Discipleship in the new age II. New York N.Y.: Lucis Pub. Co.

Bailey, A.A. (1978) Glamour: A world problem. New York N.Y.: Lucis Pub. Co.

Bailey, A.A. (1956) Treatise on white magic. New York N.Y.: Lucis Pub. Co.

Bailey, A.A. (1988) The Rays and the initiations. New York N.Y: Lucis Pub. Co.

Các sách và bình giảng của thầy Michael Robbins:

Robbins, M. (no date a) Tapastry of the Gods I.

Robbins, M. (no date) Webinar: Commentaries on ‘Glamour a World Problem’. Available at: https://www.makara.us/portal/?page_id=232.

Robbins, M. (2023) Bài dịch: Ảo cảm một vấn đề của thế giới. Available at: https://www.minhtrietmoi.org/WPress/wp-content/uploads/2022/05/WebinarsAoCamMDR.pdf. Người dịch: Lâm Văn Kiệt

Link loạt bài tổng hợp về ảo cảm trên website minhtrietmoi.org:

Lâm, K.V. (2023a) Ảo cảm tình cảm. Available at: https://www.minhtrietmoi.org/WPress/loat-bai-ve-ao-cam-p12/.

Lâm, K.V. (2023b) Ảo cảm của đường Đạo. Available at: https://www.minhtrietmoi.org/WPress/loat-bai-ve-ao-cam-p11/.

Lâm, K.V. (2023c) Ảo cảm của các cặp đối lập. Available at: https://www.minhtrietmoi.org/WPress/loat-bai-ve-ao-cam-p10/.

Lâm, K.V. (2023d) Ảo cảm sùng tín. Available at: https://www.minhtrietmoi.org/WPress/loat-bai-ve-ao-cam-p9/.

Lâm, K.V. (2023e) Ảo cảm vật chất. Available at: https://www.minhtrietmoi.org/WPress/loat-bai-ve-ao-cam-p8/.

1 Comments

  1. Learner

    Xin hân hạnh giới thiệu với mọi người chuyên đề học nhóm hàng tuần đang diễn ra “Nhận biết và khắc phục ảo cảm” do các bạn học viên trường nội môn Morya Federation host, được record và cập nhật tại playlist: http://tinyurl.com/ndkpaocamlist
    Folder chứa files các bài trình bày: http://tinyurl.com/ndkpaocam
    Tài liệu tham khảo chính: Tiểu luận QU1 của Đoàn Thu Nguyệt
    Link chuỗi các bài giảng của Thầy Lâm Văn Kiệt về Ảo Cảm trên Youtube: https://tinyurl.com/baigiangThayLamVanKiet

Leave Comment